vấn đề chủ thể tiếp nhận qua lịch sử tiếp nhận tiểu thuyết tự lực văn đoàn - Pdf 24

Bĩ GIAẽO DUC VAè AèO TAO
AI HOĩC HU
TRặèNG AI HOĩC Sặ PHAM
TRệN THậ THANH HOA
VN ệ CHU THỉ TIP NHN
QUA LậCH Sặ TIP NHN TIỉU
THUYT Tặ LặC VN OAèN
Chuyón ngaỡnh : Lấẽ LUN VN HOĩC
Maợ sọỳ : 60.22.01.20
LUN VN THAC Sẫ NGặẻ VN
NGặèI HặẽNG DN KHOA HOĩC
PGS.TS. TRệN THAẽI HOĩC
Huóỳ, nm 2014
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các
số liệu và kết quả nghiên cứu ghi trong luận văn là trung thực, được
các đồng tác giả cho phép sử dụng và chưa từng được công bố trong
bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả luận văn
Tráön Thë Thanh Hoa
ii
Để hoàn thành Luận văn này, Tôi xin được gửi lời cảm ơn đến thầy cô
giáo, cán bộ Khoa Ngữ văn, Trường Đại học sư phạm Huế đã tạo điều kiện
tốt cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu thực hiện đề tài.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo, PGS. TS.
Trần Thái Học, người đã tận tình hướng dẫn tôi thực hiện và hoàn thành Luận
văn.
Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn tới người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã
giúp đỡ, động viên và tạo điều kiện cho tôi trong suốt thời gian học tập và thực
hiện luận văn.

1.2.1. Từ văn bản đến tác phẩm văn học 19
1.2.2. Văn bản văn học và sự xác lập đời sống thông qua người đọc 20
1.3. Quá trình tiếp nhận văn chương 24
1.3.1. Các giai đoạn của quá trình tiếp nhận văn chương 24
1.3.2. Tính khách quan của tiếp nhận văn chương 25
1.3.3. Tính sáng tạo của tiếp nhận văn chương 27
1.4. Chủ thể tiếp nhận trong quá trình tiếp nhận văn chương 29
1.4.1. Những quan niệm về chủ thể tiếp nhận 29
1.4.2. Vai trò của chủ thể tiếp nhận đối với đời sống lịch sử của văn chương 31
1
%!&&# '()*
+,-*
2.1. Vấn đề tiếp nhận văn xuôi tự lực văn đoàn từ trước 1945 34
2.1.1. Hướng tiếp nhận từ quan điểm đạo đức và xã hội 34
2.1.2. Hướng tiếp nhận từ đặc trưng thể loại 39
2.2. Những vấn đề tiếp nhận văn xuôi tự lực văn đoàn từ 1954-1975 42
2.2.1. Vấn đề tiếp nhận tự lực văn đoàn ở Miền Bắc 43
2.2.2. Vấn đề tiếp nhận tự lực văn đoàn ở miền Nam từ 1954-1975 45
2.3. Những vấn đề tiếp nhận văn xuôi tự lực văn đoàn từ 1986 đến nay 51
2.4. Tầm đón đợi trong lịch sử tiếp nhận tiểu thuyết Tự lực văn đoàn 56
2.4.1. Tầm đón đợi 57
2.4.2. Tiểu thuyết Tự lực văn đoàn từ tầm đón đợi truyền thống 58
2.4.3. Tiểu thuyết Tự lực văn đoàn từ tầm đón đợi mới 65
%!&&# ')./
,01./
3.1. Từ thi pháp học 70
3.1.1. Quan niệm về thi pháp học 70
3.1.2. Thi pháp học trong lịch sử tiếp nhận Tiểu thuyết Tự lực văn đoàn 72
3.2 Từ xã hội học 75
3.2.1. Cách hiểu về phương pháp xã hội học 76

điều kiện gặp gỡ, tiếp xúc với nền văn học phương Tây hiện đại nên đã có những
biến chuyển mạnh mẽ. Những ảnh hưởng ấy đã nhanh chóng đưa văn học tiến gần
và tiến nhanh hơn đến “quỹ đạo” của quá trình hiện đại hóa. Một nền văn học mới
ra đời với những quan niệm thẩm mĩ mới đòi hỏi người nghệ sĩ phải có sự cách
tân, để văn học phát triển phù hợp với thời đại. Trước những yêu cầu trên, nhiều
nhóm phái văn học đã ra đời đáp ứng có hiệu quả nhu cầu của tầng lớp độc giả
mới. Trong đó Tự lực văn đoàn đã nhanh chóng vươn lên chiếm giữ vị trí “chủ
soái” trên văn đàn trong suốt những năm 30 của thế kỉ XX: “Tự lực văn đoàn
3
không phải là nhóm duy nhất nhưng là nhóm quan trọng nhất và nhóm cải cách đầu
tiên của nền văn học hiện đại”. Với khoảng 10 năm hoạt động của mình, Tự lực
văn đoàn đã có nhiều đóng góp cho quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam, đặc
biệt là ở thể loại tiểu thuyết.
Trong lịch sử văn học Việt Nam, nhóm “Tự lực văn đoàn” với những thăng
trầm trong lịch sử tiếp nhận đã cho thấy yếu tố quan trọng và phức tạp của chủ
thể tiếp nhận. Tuy nhiên, nhìn lại lịch sử nghiên cứu Tự lực văn đoàn, vấn đề
chủ thể tiếp nhận vẫn chưa được nghiên cứu một cách hệ thống trên cơ sở những
thành tựu lí luận văn học hiện đại và hậu hiện đại. Chọn vấn đề “Chủ thể tiếp
nhận qua lịch sử tiếp nhận tiểu thuyết Tự lực văn đoàn”, chúng tôi muốn có cái
nhìn khoa học về một số yếu tố quan trọng chi phối giá trị và sự đánh giá tác
phẩm văn học nói chung và nhóm Tự lực văn đoàn nói riêng, từ đó khẳng định
Tác phẩm văn học không chỉ dừng lại ở những khám phá về bản chất ngôn ngữ
mà còn ở quá trình xác lập đời sống cụ thể thông qua người đọc.
Ngoài những lí do trên việc chọn nghiên cứu đề tài này còn xuất phát từ
nhu cầu thực tế của cá nhân là muốn được tìm hiểu, học tập cập nhật những
thành tựu của Lí luận văn học, Mỹ học hiện đại của thế giới, từ đó có thể vận
dụng trong công việc giảng dạy và tìm hiểu các tác phẩm văn chương của Tự
lực văn đoàn nói riêng và các tác phẩm trong văn học nói chung.
2. Lịch sử vấn đề.
2.1 Nhóm những công trình gián tiếp.

nhắc gì đến Mĩ học tiếp nhận. Sang thập niên 90, Nguyễn Lai viết Tiếp nhận văn
học một vấn đề thời sự (BáoVăn nghệ số 27, ngày 7-7-1990), Nguyễn Thanh Hùng
viết Trao đổi thêm về tiếp nhận văn học (Báo Văn nghệ số 42, ngày 10-10-1990)
đều nhấn mạnh đến tính chất chủ quan năng động của người đọc. Năm 1991 Viện
thông tin khoa học xã hội cho xuất bản cuốn Văn học nghệ thuật và sự tiếp nhận,
nhưng trong đó chỉ có bài viết của Trần Đình Sử (Mấy vấn đề lí luận tiếp nhận văn
học) và của Nguyễn Văn Dân (Lý luận tiếp nhận văn học với sự tiếp nhận văn học –
nghệ thuật thế giới ở Việt Nam ta hiện nay), 10 bài còn lại đều là dịch, lược dịch,
lược thuật những bài viết của Schifirnet, Morar, Pascadi, Marian… Năm 1995
Trương Đăng Dung công bố bài viết Từ văn bản đến tác phẩm văn học và giá trị
thẩm mĩ. tập trung nghiên cứu vấn đề “văn bản”, “tác phẩm” và sự tạo nghĩa thông
qua hành động đọc.
5
Cuối thập niên 90, đáng chú ý nhất là cuốn giáo trình Tiếp nhận văn
học (1997) viết cho trung tâm Đào tạo từ xa Đại học Huế của Phương Lựu, chuyên
luận Từ văn bản đến tác phẩm văn học (1998) của Trương Đăng Dung và bài Lý
thuyết tiếp nhận và phê bình văn học (số 124 tháng 06-1999).
Sang đầu thế kỉ 21, bóng dáng của Mĩ học tiếp nhận được xuất hiện trong hai
chuyên luận Đọc và tiếp nhận văn chương(2002) của Nguyễn Thanh Hùng và Tác
phẩm văn học như là quá trình (2004) của Trương Đăng Dung. Đáng ghi nhận nhất
là năm 2002 Trương Đăng Dung đã dịch tuyên ngôn của Jauss Lịch sử văn học như
là sự khiêu khích đối với khoa học văn học, và cho đến nay, đây vẫn là văn bản duy
nhất của Mĩ học tiếp nhận được dịch ra tiếng Việt và công bố ở Việt Nam. Dưới ảnh
hưởng của các công trình trên, trong thập niên đầu tiên của thế kỉ mới cũng rải rác
có các bài viết của Phạm Quang Trung đăng trên website cá nhân (pqtrung.com)
như Lý thuyết tiếp nhận trong đời sống văn chương hiện nay (2009), Chung quanh
khái niệm “tầm đón nhận” của H. Jauss (2010), ngoài ra có một xu hướng tương
đối nổi trội là Vận dụng một số vấn đề của lí thuyết tiếp nhận vào việc giảng dạy và
học môn văn trong nhà trường(2009). Cuối thập niên đầu tiên của thế kỉ mới, đáng
chú ý hơn cả là cuộc tranh luận nhỏ giữa Đỗ Lai Thúy và Trần Đình Sử quanh bài

Chung qui lại, được nhấn mạnh các luận điểm như sau:
“Xét tác phẩm văn học ở phương diện ký hiệu học với tư cách là một sáng tạo
có tính ký hiệu, một phương tiện giao tiếp thì tác phẩm có hai mặt: Cái biểu
đạt và Cái được biểu đạt, văn bản và ý nghĩa. Nội dung tác phẩm được mã hóa vào
các phương tiện biểu đạt là văn bản ngôn từ và hình tượng văn học, làm thành ý
nghĩa của chúng. Người đọc giải mã văn bản ngôn từ và hình tượng để nắm bắt ý
nghĩa của tác phẩm. Do đó nội dung tác phẩm được thực hiện và mở ra qua ý nghĩa
mà người đọc phát hiện, nội dung tác phẩm chính là tổng hòa mọi ý nghĩa của tác
phẩm do hoạt động đọc mở ra. ”
2.2 Nhóm các công trình trực tiếp.
Tự lực văn đoàn được xem là một hiện tượng văn học thú vị và phức tạp. Vì
thế những công trình nghiên cứu, đánh giá về Tự lực văn đoàn khá nhiều tuy nhiên
đề tài “Vấn đề chủ thể tiếp nhận tiểu thuyết Tự lực văn đoàn”, cho đến nay chúng
tôi nhận thấy chưa có công trình nào đề cập đến một cách đầy đủ.
7
Đương thời, ngay từ buổi đầu ra mắt, tiểu thuyết Tự lực văn đoàn đã được độc giả
đô thị đón nhận khá nồng nhiệt. Việc đánh giá tiểu thuyết Tự lực văn đoàn ngay từ
đầu cũng có những ý kiến không đồng nhất thậm chí đối lập. Tuy nhiên, xu thế
khẳng định giá trị của tiểu thuyết Tự lực văn đoàn vẫn chiếm ưu thế và được biểu
hiện rõ qua một số công trình nghiên cứu của các cây bút phê bình có uy tín như
Trương Chính với Dưới mắt tôi (1939), Vũ Ngọc Phan với Nhà văn hiện đại (1942),
Dương Quảng Hàm với Việt Nam văn học sử yếu (1943).
Sau cách mạng tháng Tám (1945 đến trước 1986), một thời gian khá dài tiểu thuyết
Tự lực văn đoàn dường như không được ai nói đến. Phải tới sau 1954, tiểu thuyết
Tự lực văn đoàn mới được đề cập trở lại nhưng với những đánh giá khác mhau ở
hai miền Nam Bắc.
Miền Bắc, vào 1957 nhân tái bản Tiêu Sơn tráng sĩ (Khái Hưng) có loạt bài
tranh luận về tác phẩm này của các tác giả Vĩnh Mai, Trương Chính, Trần Thanh
Mại, Nguyễn Văn Phú, Nguyên Hồng đăng trên báo Văn các số 10, 13, 14, 17, 18
Ngoài ra, tiểu thuyết Tự lực văn đoàn còn được đề cập trong các công trình Lược

tên tuổi như Trương Chính, Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức, Trần Đình Hượu, Nguyễn
Đình Chú, Phong Lê, Huy Cận, Tô Hoài Với tinh thần đổi mới, đứng trên quan
điểm lịch sử, cuộc hội thảo là sự tập trung nhiều ý kiến khởi đầu cho sự nhìn nhận
thỏa đáng những giá trị đích thực của văn chương Tự lực văn đoàn và nhất là tiểu
thuyết Tự lực văn đoàn của giới nghiên cứu phê bình Việt Nam trên nhiều mặt: tính
dân tộc, tinh thần phản phong, ý thức cải tạo xã hội với ý nghĩa tiến bộ, vai trò
quan trọng của Tự lực văn Đoàn trong tiến trình hiện đại hóa văn học việt Nam.
Tiếp sau cuộc hội thảo này hàng loạt công trình chuyên biệt về Tự lực văn
đoàn xuất hiện như: Tự lực văn đoàn (1989) của Nguyễn Trác - Đái Xuân Ninh, Tự
lực văn đoàn con người và văn chương (1990) của Phan Cự Đệ, Tự lực văn đoàn,
nhìn từ góc độ tính liên tục của lịch sử qua bước ngoặt hiện đại hóa trong lịch sử
văn học phương Đông (1991) của Trần Đình Hượu, Thêm mấy ý kiến về Tự lực văn
đoàn (1991) của Lê Thị Đức Hạnh; các công trình về các tác giả Tự lực văn đoàn
như bộ ba công trình Khái Hưng nhà tiểu thuyết (1993); Nhất Linh trong tiến trình
hiện đại hóa văn học dân tộc (1995); Hoàng Đạo nhà văn, nhà báo (1999) của Vu
Gia. Ngoài ra, còn có một số luận án tiến sĩ nghiên cứu về tiểu thuyết Tự lực văn
đoàn như: Quan niệm về con người trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn (1994) của Lê
Thị Dục Tú, Những đóng góp của Tự lực văn đoàn cho việc xây dựng một nền văn
9
xuôi Việt Nam hiện đại (1991) của Trịnh Hồ Khoa, Nghệ thuật miêu tả tâm lý trong
tiểu thuyết Tự lực văn đoàn (2001) của Dương Thị Hương.
Từ chỗ dường như bị tránh nói đến ở miền Bắc, tiểu thuyết Tự lực văn đoàn
được tái bản và lưu hành rộng rãi với bộ Văn xuôi lãng mạn Việt Nam (1989),
Tuyển tập Tự lực văn đoàn (1995) của nhà xuất bản Văn học và gần đây nhất là bộ
Văn chương Tự lực văn đoàn của Nxb Giáo dục (1999) với dung lượng gần 4000
trang khổ 16 x 24. Ngoài ra còn phải kể tới một lượng bản in khá lớn các tác phẩm
tiểu thuyết Tự lực văn đoàn của nhiều nhà xuất bản trong cả nước. Đi cùng với hệ
thống các tiểu thuyết này là những bài giới thiệu từng tác phẩm của các nhà phê
bình như Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức,Nguyễn Hoành Khung.
Việc đánh giá về Tự lực văn đoàn nói chung và tiểu thuyết Tự lực văn đoàn

hội học, thi pháp học…
5. Đóng góp của luận văn
Khẳng định vai trò của chủ thể tiếp nhận trong việc thẩm định và đánh giá các
giá trị văn học.
Khảo sát quá trình tiếp nhận Tiểu thuyết Tự lực văn đoàn một cách có hệ
thống, đánh giá nghiêm túc các công trình nghiên cứu đã có về Tự lực văn đoàn, từ
đó đưa ra một số phương pháp tiếp cận Tự lực văn đoàn khoa học, khách quan,
nhằm góp phần đánh giá đúng tiểu thuyết Tự lực văn đoàn.
6. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục phần nội dung
chính được người viết triển khai 3 chương sau:
CHƯƠNG 1: VẤN ĐỀ CHỦ THỂ TIẾP NHẬN TIỂU THUYẾT TỰ LỰC
VĂN ĐOÀN TRONG TƯ DUY LÍ LUẬN VĂN HỌC.
CHƯƠNG 2: TIỂU THUYẾT TỰ LỰC VĂN ĐOÀN NHÌN TỪ LỊCH SỬ
TIẾP NHẬN
CHƯƠNG 3: TIẾP CẬN TIỂU THUYẾT TỰ LỰC VĂN ĐOÀN TỪ MỘT
SỐ PHƯƠNG PHÁP
11
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 . VẤN ĐỀ CHỦ THỂ TIẾP NHẬN TRONG TƯ DUY
LÍ LUẬN VĂN HỌC
1.1. Bản chất của tác phẩm văn học trong tư duy lí luận văn học
1.1.1. Văn bản văn học và hiện thực
1.1.1.1. Văn học – hiện thực là một trong bốn quan hệ cơ bản của văn học
nghệ thuật
Văn học và hiện thực là một trong những vấn đề trung tâm của lí luận văn học,
cho đến nay, dù có rất nhiều hệ thống lí luận giải thích khác nhau, vẫn chưa có lí
luận nào được nhất trí công nhận. Đó là vì hoạt động văn học có nhiều mối quan hệ,
mà mỗi lí luận thường chỉ xây dựng theo một quan hệ nhất định để khái quát thành
nguyên lí, cho nên thường ít gặp nhau. Theo sự phân tích của nhà lí luận văn học Mĩ

với các lí thuyết khác không được coi là phản ánh luận đều có thái độ phê phán, thù
địch, như thế lại càng phiến diện. Hiểu thế, trong bài này chúng tôi chỉ xét một mối
quan hệ là văn học phản ánh hiện thực, nhưng không xem nó là bình diện duy nhất,
quyết định tất cả.
1.1.1.2. Văn học là tấm gương phản ánh hiện thực và thời đại
Mệnh đề “văn học phản ánh hiện thực” từng bị hiểu giản đơn thành sao chép
các sự kiện của thời đại, tôn sùng nguyên mẫu, miêu tả người thật việc thật, phản
ánh các mâu thuẫn bản chất của xã hội, thời đại…Mặc dù có lúc đã sáng tạo nên
những sáng tác đáp ứng yêu cầu thực tế lịch sử nhất thời, nhưng do nghèo nàn về tư
tưởng và thẩm mĩ, thiếu sức tưởng tượng, cá tính sáng tạo nhợt nhạt…cách hiểu đó
đã bị phê phán vào thời kỳ đổi mới ở Việt Nam những năm 80 – 90 thế kỉ XX. Tuy
bị hiểu sơ lược, nhưng bản thân mệnh đề đó vẫn có cơ sở. Bởi đó là mệnh đề xác
định một cách tổng quát nhất mối quan hệ giữa văn học với hiện thực và thời đại,
không có cách biểu đạt khác. Thuật ngữ “mô phỏng” có từ thời cổ đại. Xưa nhất,
Platon hiểu “mô phỏng” (mimesis) chỉ là mô phỏng bề ngoài, chưa phải chân lí ,đến
Aristote đã hiểu đó là mô phỏng con người, hành động, tự nhiên. Đối với Aristote
nghệ thuật không mô phỏng cái dĩ nhiên, mà mô phỏng cái khả nhiên của thế giới
để tạo ra thế giới có giá trị triết lí và thẩm mĩ. Theo ông thơ ca (tức văn học) do đó
13
mang chất triết lí hơn lịch sử. Từ thời Phục hưng cho đến thời Cận đại, đến trước
chủ nghĩa lãng mạn tư tưởng mô phỏng hiện thực vẫn là tư tưởng chủ yếu của phê
bình. Văn học là tấm gương phản chiếu đời sống xã hội (Stenhdal), nhà văn là thư
kí của thời đại (Balzac), nếu là nhà văn vĩ đại thì tác phẩm của anh ta phản ánh ít ra
vài ba khía cạnh chủ yếu của cuộc cách mạng (Lênin). Đối với các bậc thầy của chủ
nghĩa hiện thực, phản ánh hiện thực có nghĩa là tìm kiếm các gía trị nhận thức,đạo
đức, thẩm mĩ của dời sống, lột trần các dối trá, phơi bày mọi ung nhọt, xé toạc mọi
mặt nạ, là dấn thân vào tiến trình tiến bộ của xã hội. Các tư tưởng đó đã diễn đạt
khá đúng và hay về mối quan hệ giữa văn học và đời sống lịch sử trên tầm vĩ mô,
nghĩa là toàn bộ các sự kiện, nhân vật, tư tưởng, tình cảm thể hiện trong văn học
nghệ thuật đều là sự phản ánh của đời sống xã hội. Cho dù quan niệm phương Đông

thế giới đối với đời sống và do đó mà cả đối với nghệ thuật. Ý nghĩa của sự vật thay
đổi theo quá trình thực tiễn. Không có hiện thực bất biến, muôn thuở. Văn học phản
ánh hiện thực đó trong tính đa diện, toàn vẹn và tính thời đại. Cũng là hiện thực thời
chiến tranh nhưng trong chiến tranh thấy khác, sau chiến tranh thấy khác, sau ba
bốn mươi năm lại thấy khác hơn nữa.
Thực tiễn là tính chất quan trọng nhất của hiện thực con người. Thực tiến là
phương thức tồn tại của con người, là hoạt động tự thực hiện của con người, hoạt
động của con người để vượt qua hữu hạn nhằm hướng tới lí tưởng vô hạn và tự do.
Con người là giống vật luôn ý thức sự hữu hạn của chính mình từ trong mọi hoạt
động sống như cô đơn, tuổi thọ, khả năng chinh phục thế giới và bản thân, hữu hạn
trong sản xuất, trong tình yêu, trong sáng tạo, nhận thức, cảm nhận. Trong hoạt
động vượt lên chính mình con người nếm trải mọi tình cảm từ vui sướng, tự hào,
cao cả, đến bất lực, bi đát, khôi hài, nhục nhã, cay đắng… Vì vậy hiện thực con
người rất phong phú, phức tạp, muôn màu.
1.1.2. Văn bản văn học từ lịch sử tiếp nhận.
1.1.2.1. Tác phẩm từ điểm nhìn lý luận văn học truyền thống
Từ điểm nhìn của lý luận văn học truyền thống, tác phẩm văn học chủ yếu
được tiếp cận từ quan hệ với hiện thực và tác giả nên trong công trìnhVăn học và
tiểu thuyết, Doãn Quốc Sỹ cho rằng mỗi tác phẩm là một cơ cấu, một kiến trúc. Đây
là giá trị nội tại của tác phẩm và phải lấy chính những yếu tính văn chương mà định
giá văn chương. Đó là: cốt truyện, nhân vật, bối cảnh, ý nghĩa tượng trưng của
truyện, lời văn giọng văn của truyện. Tất cả châu tuần lại làm nên tác phẩm như một
15
toàn thể bất khả phân. Giá trị nội tại của tác phẩm như trên hẳn phải là sự phong
phú, phong phú mà cô đọng, phong phú mà chặt chẽ. Đây cũng là quan niệm của
Tuệ Sỹ khi ông cho rằng: Một tác phẩm xứng đáng “phải khởi lên từ cảm hứng thực
tại; vì rằng, ngay qua đó, người ta sẽ thấy một cách như thực đâu là tiếng nói của
thực tại và đâu là tiếng nói của lòng người: thực tại tức là lòng người. Và cũng từ
đó, người ta sẽ tìm thấy đâu là khát vọng sâu xa đang ẩn kín trong lòng người. Một
tác phẩm mà không đủ sức chấn động lòng người để mở ra một thế giới như vậy

lý luận văn học truyền thống nhìn tác phẩm như một cái gì khép kín trong quan hệ
với hiện thực và tác giả, ở đây tác phẩm văn học được xem như một kết cấu mở.
Tác phẩm không là một cái gì được đóng khung: nó mở ra những chân trời. Tác
phẩm không là sự sống đã đạt tới cùng đích: nó là sự đang trở thành không ngừng
nghỉ. Văn chương là một hy vọng (Huỳnh Phan Anh ) và Tác phẩm là khả thể, vô
số những khả thể. Nó mở ra vô cùng. Nó hứa hẹn vô số chiều hướng, vô số vóc
dáng. Nó là bước đường không ngừng nghỉ. Nó biến cái giới hạn thành cái vô hạn.
Vì là một kết cấu mở nên theo Nguyễn Văn Trung: Tác phẩm là một tiếng gọi và nó
thành công khi được đáp lại, nghĩa là khi gây được một cảm thông nơi người tiếp
nhận nó.
Như vậy, trong quan niệm của các nhà lý luận phê bình văn học ở đô thị miền
Nam, tính chất mở của tác phẩm văn học, gắn liền với sự tiếp nhận của người đọc.
Người đọc chính là người nối dài cuộc đời của tác phẩm đến vô cùng, là cơ sở để
biến cái “hữu hạn” của tác phẩm thành cái “vô hạn”. Do đó, tác phẩm văn học là
chiếc cầu nối giữa nhà văn và người đọc. Nói như Nhật Tiến: Tác phẩm bao giờ
cũng là một gạch nối liền thế giới tâm tư của người đọc đối với người viết. Nếu tác
phẩm không phản ảnh đầy đủ nếp sống, cảm nghĩ và giải tỏa được sự băn khoăn
chất chứa trong lòng độc giả thì vai trò của tác phẩm đâu còn được tồn tại. Và vì
vậy, với lý thuyết tiếp nhận hiện đại, người đọc đã trở thành đồng sáng tạo với nhà
văn. Chính họ là người thổi hồn vào những con chữ lạnh lùng để hóa thân chúng
thành những tác phẩm nghệ thuật. Vì theo Nguyễn văn Trung: khi đọc một tác
phẩm văn chương ta phải xây dựng tác phẩm trong tinh thần của ta, cuốn truyện tập
thơ kia trong thư viện tủ sách xếp cạnh, trăm nghìn những cuốn sách không có
dấu gì bề ngoài chứng tỏ nó là tác phẩm nghệ thuật. Nó chỉ là tác phẩm nghệ thuật
17
khi ta cầm lấy đọc và cấu tạo lại, dựng lại vũ trụ nghệ thuật, mà tác giả là người đầu
tiên dựng nên trong trí óc của họ. Còn Huỳnh Phan Anh thì cho rằng: Tác phẩm văn
chương là một đứa con đi hoang trong cuộc đời và một ngày nào đó, người cha sẽ
không nhìn ra ở nó những đường nét sáng tạo nguyên thủy của chính mình. Thưởng
ngoạn không còn là một hành vi thụ động của ý thức trà dư tửu hậu, nó còn là hành

thuật ngữ “văn bản văn học”, mà gọi là “tác phẩm văn học”. Những giới hạn này là
điều tất yếu, có thể từ nhiều nguyên nhân, trong đó không loại trừ nguyên nhân do
sự hạn chế về tính hiện đại của các tư liệu mà họ sử dụng lúc đó so với hiện nay.
Mặc dù vậy, những vấn đề lý thuyết về quan niệm tác phẩm văn học của lý luận văn
học ở đô thị miền Nam cũng có những đóng góp nhất định vào hệ thống lý thuyết
về tác phẩm văn học trong lý luận văn học dân tộc. Đồng thời, cũng thức nhận cho
chúng ta nhiều vấn đề lý luận để tiếp tục tìm hiểu, khám phá nhằm hoàn thiện hệ
thống quan niệm về tác phẩm văn học, một trong những vấn đề trọng tâm của lý
luận văn học trong quan hệ với nhà văn và người đọc.
1.2. Mối quan hệ giữa văn bản và tác phẩm văn học
1.2.1. Từ văn bản đến tác phẩm văn học
Nhà nghiên cứu J. M. Lotman đã nói Định nghĩa được văn bản là một việc
khó. Trước hết cần loại bỏ quan niệm đồng nhất văn bản với toàn bộ tác phẩm văn
học. Vâng, để đưa ra một định nghĩa văn bản thực sự quả là rất khó, đã có nhiều ý
kiến khi xem xét văn bản và tác phẩm văn học đã đồng nhất chúng với nhau, thiết
nghĩ sẽ là phiến diện và thiếu sót khi chúng ta cho rằng văn bản và tác phẩm văn
học là một. Văn bản để trở thành một tác phẩm văn học là một quá trình lớn mà yếu
tố xúc tác quan trọng nhất đó chính là người đọc.
Khi lí luận văn học nhận thức được rằng tác phẩm văn học không chỉ mang
tính thực tiễn mà còn có tính kí hiệu thì nhiều vấn đề của khoa học văn học đẫ được
soi sáng và lí giải từ những cách nhìn mới. Văn bản văn học sản phẩm cuối cùng
của sự sáng tạo nghệ thuật tưởng như đẫ được hoàn thành khi nhà văn đặt dấu chấm
hết và Nhà xuất bản in sách, nhưng thực ra đó mới chỉ là bước đầu tiên quan trọng
để nó trở thành tác phẩm văn học. Với lớp lớp câu chữ phi vật thể ẩn chứa nhiều
nghĩa khác nhau, luôn biến động và không thể khoanh vùng, tác phẩm văn học có
phương thức tồn tại riêng thông qua người đọc. Một sáng tác văn học được gọi là
tác phẩm văn học với điều kiện nó có giá trị văn học. Nhưng giá trị văn học (nếu có)
chỉ hình thành trong quá trình đọc mà thôi. Vậy quá trình từ văn bản đến tác phẩm
19
văn học diễn ra như thế nào? Thực chất giá trị của tác phẩm là gì? Có thể đánh giá

20
luận văn học và mỹ học tiếp nhận hiện đại lại quan tâm khám phá bản thể của văn
bản nghệ thuật với nhiều quan hệ khác nhau, trong đó quan trọng nhất là quan hệ
với người đọc. Tất cả các nhà lí luận văn học mới đều thừa nhận tác phẩm chỉ tồn
tại khi tồn tại người đọc, dù mỗi người có cách quan niệm và lí giải khác nhau. Dù
vậy trong thực tiễn nghiên cứu phê bình Việt Nam vẫn không tuyệt đối hóa vai trò
của người đọc mà tùy từng trường hợp cụ thể các nhà lí luận phê bình chú ý đến chủ
thể. Vấn đề là ở chỗ chủ thể tiếp nhận đánh giá. Giải mã tác phẩm văn họ như thế
nào, trong trạng thái cảm hứng nào với trình độ văn hóa nghệ thuật và vốn sống như
thế nào. Do vậy vấn đề tài năng của người thưởng thức trở nên quan trọng quyết
định sự làm đầy những giá trị mới cho tác phẩm văn học, tránh trường hợp tiếp
nhận võ đoán, thái quá và phi lí đi xa với bản chất thẩm mỹ và cấu trúc chỉnh thể
nội tại của tác phẩm. Vì vậy chỉ có chủ thể tiếp nhận đồng sáng tạo hay chủ thể tiếp
nhận lí tưởng chỉ ra được những nội hàm mới mẻ, độc đáo của tác phẩm mới được
xem là có khả năng tạo nghĩa cho tác phẩm văn học. Tuy nhiên yếu tố quan trọng
trung tâm để phát hiện làm đầy những khoảng cách thẩm mỹ giữa tác phẩm với
người đọc đồng sáng tạo – người đọc lí tưởng không gì khác ngoài ngôn ngữ. Vì
vậy bắt buộc người đọc trước hết phải là người am tường và có năng lực ngôn ngữ,
sau đó mới nói đến tâm thế thẩm mỹ, tiềm năng văn hóa và tiềm năng nghệ thuật để
biến ngôn ngữ của tác phẩm văn học thành cấu trúc mở, thành cấu trúc ngôn từ
động, thành quá trình tạo nghĩa.
Như vậy thông qua người đọc đời sống văn bản và thực chất của văn bản là gì?
Và đâu là bản chất quy luật; đâu là thành tựu, đâu là hạn chế của mối quan hệ này?
Có nhiều quan niệm và cách lí giải về bản chất của người đọc. Dù có chỗ gặp gỡ
hoặc giao thoa hay khác biệt, thì cái cốt lõi của vấn đề vẫn là xác nhận vai trò chủ
động của người đọc. Khi tiếp cận tác phẩm, Aistote gọi là sự thanh lọc tâm hồn, còn
trong văn học Trung đại Việt Nam và Trung Hoa thì xem trọng sự tri âm, ký thác,
mà ở đó tác giả và người đọc hiểu nhau đồng điệu thì tự nó tác phẩm nghệ thuật đã
đạt đến sự viên thành. Đến mỹ học tiếp nhận hiện đại, vấn đề tác phẩm ngày càng
được tiếp tục khám phá. Những vấn đề như đặc trưng, bản chất và các mối quan hệ

liên kết, tạo nghĩa không ngừng. Cái văn bản tưởng như đã hoàn thành và khép kín
ấy vẫn luôn tạo ra khả năng để có thể lí giải hàng ngàn cách khác nhau mà tính độc
đáo, không lặp lại của nó vẫn không thay đổi. Từ năm 1962 nhà kí hiệu học và nhà
22

Trích đoạn Tính khâch quan của tiếp nhận văn chương Tính sâng tạo của tiếp nhận văn chương Những quan niệm về chủ thể tiếp nhận Hướng tiếp nhận từ đặc trưng thể loại Tầm đón đợi trong lịch sử tiếp nhận tiểu thuyết Tự lực văn đoăn
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status