Nông thôn trong tiểu thuyết của Hoàng Minh Tường - Pdf 28


1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

PHẠM VĂN THIỆU

NÔNG THÔN TRONG TIỂU THUYẾT
CỦA HOÀNG MINH TƢỜNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Hà Nội, 2014

3
LỜI CẢM ƠN
Hoàn thành được luận văn này không chỉ là những nỗ lực cá nhân của
người viết mà còn có sự giúp đỡ to lớn của các thầy, cô trong khoa Văn học
nói chung và PGS.TS Tôn Phương Lan nói riêng.
Trước tiên chúng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới PGS.TS Tôn
Phương Lan. Cô là người đã tận tình chỉ bảo trong quá trình chọn đề tài, đồng
thời là người cố vấn khoa học vô cùng quan trọng, giúp cho người viết luận
văn có thể hoàn thành được nhiệm vụ. Chúng tôi cũng gửi lời cảm ơn tới các
thầy, cô trong khoa Văn học đã tạo điều kiện, giúp đỡ về mặt tư liệu cũng như
những góp ý quý báu trong quá trình thực hiện đề tài.
Cuối cùng chúng tôi xin cảm ơn gia đình và bạn bè đã giúp đỡ về mặt
tư liệu cũng như hoàn thiện khâu đánh máy để luận văn này có thể hoàn thành
được như ngày hôm nay.

Hà Nội, Ngày tháng năm
Tác giả luận văn Phạm Văn Thiệu

4
LỜI CAM ĐOAN

1.2.2. Tiểu thuyết viết về nông thôn của Hoàng Minh Tường 25
1.2.3. Hoàng Minh Tường trong tương quan với một số tác giả viết về
nông thôn sau đổi mới 28
Chƣơng 2: NÔNG THÔN TRONG TIỂU THUYẾT CỦA HOÀNG MINH
TƢỜNG NHÌN TỪ PHƢƠNG DIỆN NỘI DUNG 33
2.1. Góc nhìn mới về hiện thực nông thôn của Hoàng Minh Tƣờng 33
2.1.1. Hiện thực nông thôn dưới góc nhìn lịch sử - xã hội 33
2.1.1.1. Quá trình chuyển mình từ kinh tế tập thể sang kinh tế hộ gia đình 34
2.1.1.2. Hình ảnh nông thôn từ mô hình bao cấp sang kinh tế thị trường 41
2.1.2. Hiện thực nông thôn được tái hiện dưới góc nhìn văn hóa 45
2.1.2.1. Mô hình làng truyền thống đang bị phá vỡ 47

6
2.1.2.2. Sự thay đổi chức năng và đặc điểm của mô hình gia đình Việt . 53
2.2. Các kiểu con ngƣời trong tiểu thuyết Thủy hỏa đạo tặc và Đồng sau bão 58
2.2.1. Con người trung thực 60
2.2.2. Con người tha hóa 64
2.2.3. Con người bi kịch 68
2.2.4. Con người mới mang phong cách thị dân 72
Chƣơng 3: NÔNG THÔN TRONG TIỂU THUYẾT CỦA HOÀNG MINH
TƢỜNG NHÌN TỪ PHƢƠNG THỨC THỂ HIỆN 77
3.1. Nghệ thuật xây dựng nhân vật 77
3.1.1. Những thủ pháp truyền thống 77
3.1.1.1. Xây dựng nhân vật thông qua ngoại hình 77
3.1.1.2. Xây dựng nhân vật thông qua đời sống nội tâm 79
3.1.2. Những tìm tòi mới trong nghệ thuật xây dựng nhân vật 81
3.2. Không gian - thời gian nghệ thuật 85
3.2.1. Không gian – thời gian hiện thực đời thường 86
3.2.2. Không gian – thời gian hồi tưởng 90
3.2.3. Không gian – thời gian tâm linh. 94

của mình, Hoàng Minh Tường đã phản ánh chân xác những những biến đổi phức
tạp của đời sống nông thôn cũng như cuộc sống của người nông dân trên rất
nhiều khía cạnh của đời sống xã hội từ khi đất nước bắt đầu công cuộc đổi mới
(1986) và hội nhập với thế giới.
Từ năm 1975 tới nay, tiểu thuyết viết về nông thôn đã có sự đổi mới mạnh
mẽ từ cảm hứng, đề tài, cấu tứ, thi pháp để tạo nên cách nhìn và tái tạo hiện
thực đầy đủ, sinh động hơn so với tiểu thuyết giai đoạn trước. Sự nở rộ các tác
phẩm viết về nông thôn có giá trị đã tạo nên không khí văn học sôi động cũng
như làm nên một giai đoạn văn học thành công. Hoàng Minh Tường không phải

8
là nhà văn thời hậu chiến duy nhất viết và thành công với mảng đề tài này. Tuy
vậy chọn tiểu thuyết của nhà văn này làm đối tượng nghiên cứu chúng tôi hướng
tới hai mục đích chính sau. Thứ nhất, những đóng góp của nhà văn Hoàng Minh
Tường đối với tiểu thuyết sau đổi mới là không thể phủ nhận, thế nhưng cho tới
nay, những công trình nghiên cứu về tác phẩm của ông chưa nhiều, thiếu tính hệ
thống. Thứ hai, cách khai thác hiện thực nông thôn và xây dựng hình ảnh người
nông dân của nhà văn tuy không vượt trội hẳn so với nhiều nhà văn khác nhưng
có những điểm nhìn mới mẻ, riêng biệt.
Chính vì thế, chọn đề tài Nông thôn trong tiểu thuyết của Hoàng Minh
Tường chúng tôi sẽ đi tìm hiểu cách xây dựng hình ảnh nông thôn và người nông
dân của nhà văn này dưới góc nhìn lịch sử - xã hội, dưới góc nhìn văn hóa. Đồng
thời chúng tôi cũng xác định những thủ pháp nghệ thuật được nhà văn sử dụng
để tạo nên một hiện thực nông thôn khác so với những nhà văn cùng thế hệ. Qua
đó, chúng tôi mong muốn góp một cách nhìn khách quan và tương đối toàn diện
về bức tranh xã hội Việt Nam trong thời kì đổi mới, nhất là giai đoạn hội nhập
nền kinh tế thị trường với những vấn đề mà cho tới hiện nay, chưa bao giờ mất đi
tính thời sự. Từ đó đề tài hướng đến khẳng định tên tuổi nhà văn và phần nào
nhận diện được sự vận động phong phú của tiểu thuyết viết về nông thôn đương
đại. Trong phạm vi luận văn của mình, chúng tôi không có tham vọng giải quyết

thủ phương thức khách quan của thể loại tác phẩm”. [63].
Bài Phê bình tiểu thuyết Thời của thánh thần của tác giả Vũ Nho, nhà phê
bình đã khẳng định Hoàng Minh Tường là một người từng trải, có vốn sống,
kinh nghiệm, sự hiểu biết và một thái độ tập trung làm việc trên con đường nghệ
thuật của mình. Theo tác giả Vũ Nho thì tác phẩm vượt trội này sẽ được đón
nhận một cách nồng nhiệt bởi sự bứt phá mà ông cho là rất ngoạn mục của nó.
Nhà phê bình này viết: “Cải cách ruộng đất; đấu tranh chống Nhân văn Giai
phẩm, chống xét lại; giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước; Hòa hợp dân
tộc… Những vấn đề cốt lõi ấy được xem xét và đánh giá qua những số phận mấy

10
đời chìm nổi của một gia đình. Thời gian đủ độ lùi cần thiết. Nhưng những hiểu
biết của một cây bút phóng sự, tiểu thuyết có hạng, và suy ngẫm một đời viết,
mới là yếu tố quyết định làm nên thành công của tác phẩm này” [64].
Trong khi đó nhà văn Nguyễn Khắc Trường cũng đánh giá rất cao cuốn tiểu
thuyết này. Bản thân là người biên tập và đọc cuốn tiểu thuyết trên ngay từ bản
thảo, có thể nói những nhận xét của nhà văn này đối với tác phẩm rất chân thành,
sâu sắc. Nhà văn Nguyễn Khắc Trường cho rằng: “Đáng lẽ tên của tiểu thuyết
phải là “Những người khốn khổ” hay “Những kẻ khốn khổ”. Quả vậy, nguyên
cuốn tiểu thuyết, Hoàng Minh Tường đã thành công phác họa nên những số phận
nghiệt ngã trong một gia đình có nề nếp gia phong. Đọc những mánh khóe xảo
quyệt, lừa dối trẻ con, mưu mô hại nhau giữa những người từng quen biết nhau
mà ngán ngẩm cho thế thái nhân tình trong thời bao cấp. Thật ra, những “thói
đời” này hoàn toàn có thật ngoài đời, không phải ngày xưa thời bao cấp, mà còn
ngay ngày nay. Những nghiệt ngã này do thời thế gây nên, cũng như là những
cành cây bị gió bụi làm cho ngã bên này, nghiêng bên kia, và khi cơn gió bay
qua thì để lại trên cành cây đầy thương tích. Tôi nghĩ có lẽ đó chính là thông
điệp mà tác giả muốn gửi đến người đọc, và nếu đó là chủ đích thì tác giả đã
thành công” [64].
Tác giả Hà Thế trong bài viết Nếu chỉ tâng bốc, tô hồng trên báo Quân đội

cày tung lên những mảng đen, bóng tối, nỗi đau con người trong một xã hội mà
những định kiến, giáo điều vẫn còn đè nặng lên con người từ cách sống cho tới
lối tư duy làm ăn kinh tế.
Nhà phê bình Bùi Việt Thắng trong Giáo trình Văn học Việt Nam sau 1975
(giáo trình lưu hành nội bộ) đã khẳng định Thủy hỏa đạo tặc nằm trong xu
hướng xông thẳng vào thực tại, trực tiếp viết về các vấn đề sản xuất, quản lý
kinh tế xã hội. “Xu hướng văn xuôi này thể hiện sự dấn thân, nhập cuộc của nhà
văn vào khả năng đáp trả nhanh nhạy các vấn đề bức xúc của đời sống xã hội”.

12
Tác giả Nguyễn Thị Thu Hằng trong bài viết Bức tranh nông thôn một thời
qua Gia phả của đất, Tạp chí Nhà văn, số 12/2012 từng khẳng định rằng: “Đây
chính là bức tranh sinh động và sâu sắc của Hoàng Minh Tường khắc họa lại
hiện thực cuộc sống nông thôn và người dân lao động vùng đồng bằng Bắc Bộ
trong những thập niên 80 của thế kỉ XX một cách chân thực”.
Luận văn Nông thôn Việt Nam sau 1975 trong một số tiểu thuyết Việt Nam
hiện đại, tác giả Hoàng Văn Tuân khi nghiên cứu tiểu thuyết Đồng sau bão đã
khẳng định Hoàng Minh Tường có cái nhìn thấu đáo và tin tưởng về sự vươn lên
của nông dân trong quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội của đất nước. Trong đó tác
giả này cho rằng tiểu thuyết Đồng sau bão bên cạnh xây dựng được những con
người biết đấu tranh vì lý tưởng tốt đẹp thì cũng xây dựng được những bộ mặt
tương phản của xã hội. Nằm trong cảm hứng phê phán, châm biếm của một xu
hướng văn học nhận thức lại thực tại nên tác phẩm không xây dựng nên một xã
hội lý tưởng mà dồn vào đó tất cả những bộn bề của hiện thực với những mặt
trái, mặt tiêu cực của nó. Thông qua cuộc đấu tranh giữa tốt – xấu, thiện – ác,
nhà văn đã xây dựng nên bộ mặt nông thôn đầy tính biểu tượng và đặc trưng cho
một thời đại đã từng xuất hiện trong lịch sử xã hội chúng ta chưa lâu nhưng vẫn
còn nguyên tính thời sự.
Luận văn Tiểu thuyết viết về nông thôn thời kỳ đổi mới (Qua một số tác phẩm
đạt giải), tác giả Phùng Thị Hồng Thắm đánh giá cao giá trị hiện thực của tiểu

quan trọng đã được nhà văn thể hiện ở những tác phẩm trước. Đặt trong hệ thống
các tiểu thuyết của ông, có thể nhận thấy tuy nội dung mỗi tác phẩm khác nhau
nhưng đều hướng chung tới hiện thực nông thôn và cuộc sống người nông dân.
1.3.2. Phạm vi nghiên cứu
Từ đối tượng nghiên cứu như vậy, chúng tôi xác định phạm vi của luận văn là
nghiên cứu đặc điểm của nông thôn trong tiểu thuyết dưới hai góc độ là nội dung
và phương thức thể hiện. Bằng việc đi phân tích cách xây dựng hiện thực nông
thôn và người nông dân của nhà văn Hoàng Minh Tường chúng tôi sẽ khái quát

14
được những đặc điểm chung nhất trong tiểu thuyết viết về mảng đề tài này của
nhà văn. Qua đó thấy được những đóng góp quan trọng, có ý nghĩa của Hoàng
Minh Tường trong tiến trình đổi mới văn xuôi Việt Nam sau năm 1986, đặc biệt
trong mảng tiểu thuyết viết về nông thôn.
1.4. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích, khảo sát, thống kê.
- Phương pháp so sánh, đối chiếu.
- Phương pháp tiếp cận văn hóa học
- Phương pháp lịch sử - xã hội
- Thi pháp học
1.5. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của luận văn được triển khai
thành ba chương:
- Chương 1: Tiểu thuyết viết về nông thôn trong nền tiểu thuyết Việt
Nam hiện đại
- Chương 2: Nông thôn trong tiểu thuyết của Hoàng Minh Tường nhìn
từ phương diện nội dung
- Chương 3: Nông thôn trong tiểu thuyết của Hoàng Minh Tường nhìn
từ phương thức thể hiện



16
cuộc sống như tiểu thuyết Con đường sáng của Hoàng Đạo, Hồn bướm mơ tiên,
Nửa chừng xuân của Khái Hưng, Gánh hàng hoa, Đôi bạn của Nhất Linh thì
các nhà văn hiện thực lại tập trung vào phản ánh những mảnh đời cơ cực của
người nông dân bị giai cấp địa chủ chèn ép, bóc lột đến tận cùng như tiểu thuyết
Tắt đèn của Ngô Tất Tố, Bước đường cùng của Nguyễn Công Hoan, Bỉ vỏ của
Nguyên Hồng, Chí phèo của Nam Cao, Vỡ đê của Vũ Trọng Phụng
Sau khi cách mạng tháng 8 thành công, xã hội Việt Nam nói chung và tiểu
thuyết Việt Nam nói riêng đã bước sang một giai đoạn mới. Việt Nam trở thành
một nước độc lập, tự chủ. Hiện thực sau cách mạng và hai cuộc kháng chiến đã
làm cho văn học nói chung, tiểu thuyết nói riêng có bước chuyển biến quan
trọng. Từ chỗ bộc lộ khát vọng giải phóng cá nhân, mưu cầu hạnh phúc (thể hiện
thông qua các tiểu thuyết của các nhà văn trong Tự lực văn đoàn như Nhất Linh,
Khái Hưng, Hoàng Đạo ); miêu tả đời sống người nông dân nghèo trong cảnh
sưu cao thuế nặng, bị bóc lột trắng trợn, dã man của chế độ phong kiến (thể hiện
thông qua tiểu thuyết của các nhà hiện thực phê phán như Ngô Tất Tố, Nguyễn
Công Hoan, Nam Cao ), tiểu thuyết đã chuyển mình sang thời kỳ mới: Đề tài
công – nông – binh trở thành một đề tài xuyên suốt của văn học. Đây là thời kỳ
dân tộc ta thoát khỏi ách ngoại xâm và trở thành một quốc gia độc lập, Văn học
cách mạng đã đặt những bước chân non trẻ đầu tiên trong một hành trình mới.
Với đối tượng là công – nông – binh, các nhà văn bước đầu thâm nhập vào thực
tế cuộc sống sản xuất và chiến đấu. Con trâu của Nguyễn Văn Bổng, Vùng mỏ
của Võ Huy Tâm, Xung kích của Nguyễn Đình Thi là những tiểu thuyết tiêu biểu
của giai đoạn kháng chiến chống Pháp. Những năm miền Bắc hòa bình bước vào
công cuộc xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa rồi bước vào cuộc chiến đấu chống
lại cuộc chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, một mùa gặt mới với nhiều tác phẩm
ở những đề tài khác nhau ra đời như Đất nước đứng lên của Nguyên Ngọc, Sống
mãi với thủ đô của Nguyễn Huy Tưởng, Cao điểm cuối cùng của Hữu Mai, Cái
sân gạch, Vụ lúa chiêm của Đào Vũ, Đi bước nữa, Nắng của Nguyễn Thế


18
sáng tạo và tiếp nhận văn chương hiện đại như Miền cháy (1977) của Nguyễn
Minh Châu, Cha và con và (1979) của Nguyễn Khải, Đứng trước biển (1984)
của Nguyễn Mạnh Tuấn, Mưa mùa hạ (1982), Mùa lá rụng trong vườn (1985)
của Ma Văn Kháng các tác phẩm thời kỳ này đã có khuynh hướng vừa mở
rộng đề tài, vừa tiếp tục phát huy cảm hứng từ văn học giai đoạn trước. Đề tài
nông thôn lúc này đáng chú ý nhất là tiểu thuyết Cù lao Tràm của Nguyễn Mạnh
Tuấn. Cuốn tiểu thuyết này gây tiếng vang lớn vì nó động đến những hạn chế
trong quản lý, điều hành, là tình trạng mất dân chủ ở nông nghiệp và nông thôn,
khiến cho đất nước ra khỏi chiến tranh đã không ít năm rồi mà sản xuất ở nông
thôn vẫn đình trệ. Căn bệnh cố hữu kéo dài đã mấy thập niên và để lại những di
chứng không nhỏ trong đời sống. Đây chính là vấn đề đã được Hoàng Minh
Tường trở lại, ở một góc nhìn khác và cấp độ khác trong Thủy hỏa đạo tặc và
Đồng sau bão.
Từ năm 1986 trở đi, chủ trương “cởi trói” cho văn nghệ được Tổng bí thư
Nguyễn Văn Linh phát biểu tại buổi gặp mặt hơn 100 văn nghệ sĩ tại Hà Nội đã
trở thành một động lực để họ phát huy khả năng sáng tạo. Có thể khẳng định
rằng tư duy nghệ thuật của các nhà văn sau năm 1986 đã vận động theo hướng
dân chủ hóa trên tất cả các cấp độ từ thể tài, nội dung cho tới hình thức tác phẩm.
Điều này đã làm thay đổi về cơ bản cả cốt truyện, hệ thống nhân vật, lời văn,
giọng điệu.
Tiểu thuyết giai đoạn này cũng tập trung miêu tả vấn đề cách sống, cách
quản lý sản xuất, vai trò của gia đình và bản lĩnh cá nhân. Cùng với cảm hứng
ngợi ca, đã xuất hiện cảm hứng phê phán. Biên độ hiện thực được mở rộng.
Điểm nhìn tới con người được dịch chuyển dần về nhiều phía, nhiều góc độ.
“Các tác phẩm của Nguyễn Minh Châu đặt ra vấn đề mất – còn trong chiến
tranh, vấn đề đạo đức, nhân cách và thân phận con người. Các tác phẩm của
Nguyễn Khải được tổ chức như một cuộc đối thoại giữa những lối sống và lối
nghĩ khác nhau. Ma Văn Kháng đặt con người trong quan hệ đời thường,


20
Dòng sông Mía của Đào Thắng, Giang Minh Sài trong Thời xa vắng của Lê
Lựu… Nhà văn từ các góc nhìn khác nhau đã đưa đến cho độc giả một cái nhìn
đa dạng về cuộc sống và của thân phận con người. Con người hiện lên với những
biểu hiện đời sống nội tâm phong phú. Sự hòa hợp giữa con người tự nhiên và
con người xã hội đã khiến cho hình tượng về con người trở nên hoàn thiện hơn,
đa diện và chân thực hơn. Bởi thế con người được hình dung từ nhiều chiều,
được tái hiện với đầy đủ các cung bậc cảm xúc, đan xen cái tốt- cái xấu, biết yêu
thương - căm thù, biết lừa lọc – thành thực và luôn đấu tranh giằng xé giữa đúng
– sai, thiện – ác, hạnh phúc – khổ đau. Người nông dân thì nhìn thấy mặt tích
cực ở bản tính tư hữu trong lao động sản xuất, trong sự vun vén cho cuộc sống
gia đình. Đó là nét nổi bật mang đậm ý nghĩa nhân văn khi nhìn nhận con người,
khiến cho nhân vật trong văn học không còn mặc đồng phục. Bức tranh xã hội
nói chung và bức tranh nông thôn nói riêng đã có màu sáng - tối. Những tiểu
thuyết tiểu biểu có thể kể đến như: Ăn mày dĩ vãng, Vòng tròn bội bạc của Chu
Lai, Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường, Ma làng của
Trịnh Thanh Phong, Bến không chồng của Dương Hướng…Và Thủy hỏa đạo
tặc, Đồng sau bão của Hoàng Minh Tường cũng nằm trong số đó.
Ngoài một số tiểu thuyết có xu hướng quay về với mô hình tự sự truyền
thống, kết cấu rõ tràng, mạch lạc như Thời xa vắng của Lê Lựu, Giời cao đất dày
của Bùi Thanh Minh, Ma làng của Trịnh Thanh Phong, Bến không chồng của
Dương Hướng thì tiểu thuyết bắt đầu chuyển sang những kết cấu phức hợp hơn.
Kết cấu tiểu thuyết như một trò chơi rubich, tạo nên sự lỏng lẻo, rời rạc, lắp
ghép, gấp khúc, khó nắm bắt như tiểu thuyết Giã biệt bóng tối, Đi tìm nhân vật
của Tạ Duy Anh Kết thúc mở, bỏ lửng nhằm đưa người đọc tự do suy nghĩ, tự
do sáng tạo riêng theo quan niệm của mỗi cá nhân như Mảnh đất lắm người
nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường, Dòng sông Mía của Đào Thắng. “Chính tư
duy tiểu thuyết và những biến đổi thi pháp đã chi phối nguyên tắc xây dựng tác
phẩm, tạo ra nhiều mô hình cấu trúc mới mẻ: Cấu trúc theo đường đời nhân vật,

22
dẫn đến sự thay đổi hàng loạt các yếu tố quan trọng như quan niệm nghệ thuật về
hiện thực và con người, cảm hứng sáng tác, phương thức biểu hiện Sự biến
đổi từ hệ thống chủ đề, đề tài cho tới các phương thức thể hiện, ngoài việc tạo
dựng nên một diện mạo văn học mới thì còn từng bước hình thành, thiết lập
những quy tắc, kết cấu mới để thay thế những quy tắc, kết cấu không còn phù
hợp. Quá trình phát triển chồng lấn giữa những nguyên tắc cũ - mới trong một
thời gian ngắn đã tạo nên tính chất lưỡng thể cho văn học. Điều này thể hiện qua
việc cùng một nhà văn nhưng viết ở hai thời kỳ với hai hệ thẫm mỹ khác nhau
với những thành công khác nhau. Hoặc như như cùng một kết cấu, đề tài nhưng
lại được nhà văn sử dụng để phản ánh hai vấn đề đối nghịch
Khi đất nước bước vào giai đoạn đổi mới từ năm 1986 thì tiểu thuyết viết
về nông thôn đã đạt được những thành tựu mới. Tiểu thuyết đề cập thẳng vào
những vấn đề đặt ra trong thực tại, trực tiếp viết về các vấn đề sản xuất, quản lý
kinh tế - xã hội với những khó khăn, bất cập từ lối tư duy sản xuất cũ. Nhu cầu
nhận thức lại thực tại trên tinh thần “chân lý phải được phát hiện nhiều lần” và
trên cảm quan “cuộc sống và con người ngày càng trở nên phức tạp hơn” chiếm
ưu thế trong cảm hứng sáng tác của các nhà tiểu thuyết thời kỳ này. Những tiểu
thuyết có thể kể đến như Thời xa vắng của Lê Lựu, Mảnh đất lắm người nhiều
ma của Nguyễn Khắc Trường, Bến không chồng của Dương Hướng , Lão Khổ
của Tạ Duy Anh
Mỗi nhà văn đều có cách nhìn nhận riêng về hiện thực nông thôn với
những góc khuất, những vấn đề vốn dĩ luôn tồn tại nhưng cho đến bây giờ mới
dám nói, dám viết. Có thể nói nông thôn trong những tiểu thuyết này cũng “đổi
mới” theo tinh thần của đại hội VI. Đúng như nhà văn Hà Xuân Trường nhận
xét: “Đổi mới trong văn học, điều quan trọng nhất, quyết định nhất là cái nhìn và
cái tâm của nhà văn. Đề tài, nhân vật, phong cách, cá tính không là cái gì nếu
không có cái nhìn thời đại sâu sắc, thấu suốt nhân tình, nếu không có được một
cái tâm trong sáng, nhân ái, cộng với ý thức đầy đủ về chức trách cao cả của văn


bước vào thời kỳ hội nhập, kinh tế thị trường. Từ đó họ góp một tiếng nói chung
để xây dựng một nông thôn mới.
1.2. Tiểu thuyết viết về nông thôn của Hoàng Minh Tƣờng trong bức tranh
chung của tiểu thuyết viết về nông thôn thời kỳ đổi mới
1.2.1. Đôi nét về cuộc đời và văn nghiệp của Hoàng Minh Tường
Nhà văn Hoàng Minh Tường sinh năm 1948 tại một gia đình thuần nông ở
thôn Động Phí, xã Phương Tú, huyện Ứng Hòa, tỉnh Hà Tây (nay là Hà Nội).
Hoàng Minh Tường vốn xuất thân không liên quan đến văn chương. Ông tốt
nghiệp đại học với bằng cử nhân chuyên ngành địa lý. Ông đến với văn chương
trong một lần bộ Giáo dục mở cuộc thi viết về ngành khi ông đang dạy học ở
Việt Bắc. Thông thường các nhà văn bắt tay viết truyện dài, tiểu thuyết khi đủ
vốn sống và đã có trải nghiệm từ truyện ngắn. Nhưng Hoàng Minh Tường ngược
lại, đặt viên gạch đầu tiên bằng tiểu thuyết Đầu Sông cho sự nghiệp viết văn của
mình. Đây là cuốn sách, được cho là “hiền lành“ nhất của ông và nghe đâu cũng
ẵm được giải của ngành chủ quản. (Tiểu thuyết này viết trước nhưng xuất bản
lần đầu sau hai năm so với tiểu thuyết Đồng chiêm)
Hoàng Minh Tường thuộc thế hệ nhà văn hậu chiến. Trong hơn 30 năm
cầm bút ông đã có sự nghiệp văn chương với 13 cuốn tiểu thuyết, 7 tập truyện
ngắn, 5 tập bút ký, phóng sự. Là người đi nhiều, viết nhiều, nhưng Hoàng Minh
Tường vẫn gắn bó với đề tài nông thôn, với những người nông, ngư dân, bán mặt
cho đất, bán lưng cho trời. Phải thấy rằng ông là nhà văn âm thầm và can trường.
Bằng ngòi bút của mình, ông cày tung lên những mảng đen, bóng tối, nỗi đau
con người trong xã hội đương thời.
Trong những tác phẩm của mình, nhà văn đã phản ánh một cách chân xác
bức tranh hiện thực cuộc sống và con người nông thôn, đặc biệt là bức tranh của
nông thôn đồng bằng Bắc Bộ truyền thống. Sự tạo lập một phong cách khác

25
trong việc thể hiện bức tranh nông thôn đã đem lại cho nhà văn những thành
công mới. Tiểu thuyết Thủy hỏa đạo tặc đã được hội Nhà văn trao giải nhất về


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status