THIÊN NHIÊN TRONG TIỂU THUYẾT CỦA MARK TWAIN - Pdf 29

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
---------------------
PHẠM ANH HOA

THIÊN NHIÊN TRONG
TIỂU THUYẾT CỦA MARK TWAIN
Chuyên ngành : Văn học Nước ngoài
Mã số : 60 22 30

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS Đào Ngọc Chương


mang ý nghĩa đặc biệt như là sự phản đối nền văn minh công nghiệp bấy giờ. Một cách nhìn
nào đó, nó gợi lên vấn đề quay về quá khứ để tìm tính cách, bản chất con người.
Như vậy các tác phẩm của Mark Twain, đặc biệt hai tiểu thuyết đỉnh ca
o của ông
không chỉ mang ý nghĩa thẩm mĩ mà còn chứa đựng những vấn đề xã hội và triết học sâu
sắc. Đây là hướng và đồng thời là lí do khiến chúng tôi khảo sát “Thiên nhiên trong tiểu
thuyết của Mark Twain”.
Hơn nữa ở Việt Nam
, ông là một trong số ít tác giả văn học Mĩ được lựa chọn để
giảng dạy cả trong chương trình dành cho sinh viên cũng như học sinh phổ thông trung học.
Các nhà nghiên cứu Việt Nam đã quan tâm đến nhiều phương diện, nhiều vấn đề về ông, về
tác phẩm của ông như chúng tôi sẽ tổng thuật trong phần Lịch sử vấn đề sau đây, nhưng
chưa thực sự tập tr
ung nghiên cứu vấn đề thiên nhiên như biểu tượng đặc biệt của cái nhìn
thẩm mĩ và triết lí. Chính vì thế việc chúng tôi nghiên cứu vấn đề thiên nhiên trong tiểu
thuyết của Mark Twain mang một ý nghiã thiết thực. Những gì luận văn của chúng tôi đạt
được sẽ góp thêm một tiếng nói, một cách đánh giá vào dòng nghiên cứu và giảng dạy tác
phẩm của Mark Twain, ít nhất là ở nước ta hiện nay.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài này, chúng tôi chỉ khảo sát, lí giải vấn đề thiên nhiên
trong tiểu thuyết của Mark Twain với hai ý nghĩa chính : thiên nhiên như là tự nhiên và
thiên nhiên như là bản chất con người nhân vật. Ở ý nghiã thứ nhất chúng tôi tìm hiểu
không gian gắn với những cuộc phiêu lưu của các nhân vật. Còn trong ý nghĩa thứ hai đó là
sự thuần phác trong đời sống tinh thần của các nhân vật được bộc lộ qua các hành động.
Chính trọng tâm này đã dẫn chúng tôi đến việc giới hạn chỉ tìm hiểu vấn đề thiên
nhiên trong hai tiểu thuyết nổi tiếng của Mark Twain là Những cuộc phiêu lưu của T
om
Sawyer và Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn. Bởi vì, chỉ trong hai tác phẩm
đỉnh cao này của Mark Twain thì hai ý nghĩa trên của thiên nhiên mới được nhà văn thể
hiện trong mối tương tác hoàn chỉnh nhất của chúng.

xét những bức tranh phong cảnh của Mark Twain, tác giả Leo
Marx còn tiến hành liên hệ với những qui ước và phong cách miêu tả thiên nhiên trong văn
chương nói chung để chỉ ra những nét địa phương của phong cảnh miền Tây và văn phong
của ông. Cảnh bình minh trên đảo Jackson trong cuốn Những cuộc phiêu lưu của Tom
Sawyer được đánh giá là “một cách nói mới về phong cảnh” vì bên cạnh việc sử dụng nghệ
thuật nhân cách hóa quen thuộc đến mức nhàm chán trong văn c
hương tả cảnh truyền thống,
Mark Twain đã “phá vỡ phong cách của một họa sĩ” khi ông đặc tả một con sâu xanh (the
microscopic focus upon the green worm) vốn được coi là chi tiết không quí phái, không
xứng với những cảnh đẹp như tranh. [72, tr.53].
Có thể nói đây là bài viết khá chi tiết về thiên nhiên trong các sáng tác của Mark
Twain. Tác giả đã xem xét các bức tranh phong cảnh từ góc độ văn phong của nhà văn miền
Tây này. Điều này chỉ có thể tiến hành khi xe
m xét nguyên tác.
Còn giới nghiên cứu trong nước khi nhắc đến thiên nhiên trong các sáng tác của
Mark Twain thường lí giải chúng như những biểu hiện của bút pháp hiện thực. Các nhà
nghiên cứu hầu hết đều ca ngợi thành công của Mark Twain ở phương diện miêu tả rất sống
động những nét đặc trưng của thiên nhiên biên cương miền Tây trong các tác phẩm của
mình.
Trước năm 1975, trong cuốn sách giáo khoa dành cho chương trình Đệ nhất ABC
sinh ngữ Đại cương văn học sử Mĩ của Đắc Sơn, NX
B Khai Trí, Sài Gòn 1961, tác giả viết :
Những cuộc sinh hoạt trên dòng sông, ngoài nội cỏ hay trong cảnh hoang dã của
Hoa Kì đều được mô tả một cách thực thể dưới ngòi bút của Mark Twain qua các tác
phẩm “Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn”, “Cuộc sống trên sông
Mississippi”… [49, tr.43].
Bối cảnh thiên nhiên miền Tây còn được đánh giá là một trong ba điểm tạo nên tính
hấp dẫn, lôi cuốn người đọc trong các tác phẩm của Mark Twain, bên cạnh “tài kể chuyện
sống động, duyên dáng” và chất “humour”. Đó chính là nhận định của Trần Văn H
oàn

bước vào lao động” rồi “tỉnh hẳn và hoạt động lao xao. Thiên nhiên dịu dàng an ủi
khi các em buồn, nghiêm khắc hoặc nổi giận khi các em thấy mình có lỗi. [62, tr.13].
Đây có thể coi là ý kiến đầu tiên thể hiện sự chú ý tới các hình ảnh thiên nhiên cụ thể
với ý nghĩa
là không gian phiêu lưu mặc dù trọng tâm mà tác giả muốn bàn luận vẫn là giá
trị phê phán của tác phẩm.
Sau này, trong một bài viết khác của Lê Đình Cúc, điều đó cũng được nhắc đến. Khi
bàn luận về cuốn Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn, Lê Đình Cúc nhìn nhận :
Chương XIX của “Huck Finn”là một trong những chương thơ mộng nhất của
tác phẩm và của văn c
hương Mark Twain. Trong khi Huck khám phá hai bờ sông với
bao nhiêu quang cảnh kì thú và hùng vĩ của thiên nhiên thì cũng là dịp Huck chứng
kiến những truyền thống văn hóa của người Mĩ ở những thị trấn tỉnh lẻ. [16, tr.349 –
350].
Đó là nhận định từ bài viết “Truyện thiếu nhi của Mark Twain” đăng trên Tạp chí
Văn học số tháng 6 năm 1997. Tuy ra đời sau bài viết đầu tiên về Mark Twain mà chúng tôi
đã nêu ở trên khá lâu nhưng tác giả vẫn chú trọng tới ngòi bút hiện thực và đánh giá thiên
nhiê
n như là một nét bổ sung cho tính hiện thực ấy và do đó mọi hình ảnh thiên nhiên sẽ có
“giá trị lịch sử”. Phải chăng vì vậy mà sau này tác giả Lê Đình Cúc đã ghép hai bài viết
thành một và cho in trong cuốn Tác gia văn học Mĩ, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội 2004,
dưới tiêu đề “Mark Twain (1835 – 1910) – “Đến người bán quan tài cũng phải xót xa
thương tiếc” khi nhà văn qua đời”.
Như vậy có thể thấy các nhà nghiên cứu đã quan tâm
nhiều đến tính hiện thực của
yếu tố thiên nhiên trong các tác phẩm của Mark Twain mà chưa gắn nó với truyền thống
phiêu lưu cũng như thể loại tiểu thuyết phiêu lưu của Mĩ để xem xét. Chỉ đến bài viết
“Những cuộc phiêu lưu của Huckle Berry Finn”- nhân vật người kể chuyện và hành trình
của thời đại”, 1997 (bản photocopy) của tác giả Đào Ngọc Chương, vấn đề này mới đư
ợc

mà Huck và Jim tình cờ được chứng kiến trong hành trình của mình, tác giả Lê Huy Bắc kết
luận :
Thế giới của Tom và Huck càng hoang sơ bao nhiêu thì càng dễ nổ ra bạo lực khốc
hại bấy nhiêu. [5, tr.195].
Như vậy nét hoang sơ của thiên nhiên hai bên bờ dòng Mississippi được gắn với “thế
giới bạo lực” chứ không đư
ợc nhìn nhận như một sự “về nguồn” để phản đối xã hội công
nghiệp.
Khi xem xét thiên nhiên như là không gian sống và hành động của các nhân vật trong
sáng tác của Mark Twain, các nhà nhiên cứu dù chỉ nhắc đến hay có lí giải thì đều chú ý đến
nét hoang sơ của nó. Đây cũng chính là điều chúng tôi chúng tôi sẽ trình bày kĩ trong
chương hai của luận văn. Tuy nhiên chúng tôi sẽ xem xét nó trong mối quan hệ với thể loại
phiêu lưu cũng như với quan niệm của Mark Twain về thời đại.

3.2. Thiên nhiên như là bản chất
Về ý nghĩa thứ hai này của thiên nhiên, bài viết của tác giả Lionel Trilling khi giới
thiệu cuốn Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn mà chúng tôi đã nói đến ở phần
trên có đề cập đến vai trò của dòng sông trong việc dẫn dắt những suy nghĩ và hành động
của Huck. Theo tác giả, chính dòng sông khiến cuốn sách này trở thành một tuyệt tác :
“Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn” là một tuyệt tác bởi nó kể về một vị
thần – đó l
à sức mạnh với ý chí dẫn đường, và đối với con người, là hiện thân của ý
niệm đạo đức vĩ đại. [74, tr.7].
Nhân vật Huck Finn, vì vậy được Lionel Trilling nhìn nhận như một “đầy tớ” của
“thần sông”. Điều này, nhắc đến ảnh hưởng của thuyết Siêu nghiệm lên cách nhìn thiên
nhiên của Mark Twain. Thiên nhiên có vai trò dẫn dắt trực giác và nhờ nó con người có thể
đến với chân lí. Bài viết đã chỉ ra những trạng thái khác
nhau của dòng sông và “tâm trạng
khuây khỏa” cùng “lòng biết ơn” của Huck mỗi khi quay lại dòng sông sau mỗi chuyến vào
đất liền, để từ đó khẳng định vai trò của thiên nhiên trong việc dẫn dắt nhận thức của Huck

n ngưỡng và tập quán của nền văn minh. Huck chỉ thấy thân
thiết gắn bó với các lực lượng tự nhiên và những điều huyền bí ẩn dấu trong tự
nhiên. Hoài nghi trước những cảnh tượng đời sống của những con người văn mi
nh,
Huck nói về cuộc sống ấy như thể chú bị ngăn cách bởi một bức tường thủy tinh
trong suốt. [46, tr.69].
Cả hai tác giả đã nhắc đến bản chất thuần phác trong các nhân vật của Mark Twain.
Bản chất ấy bộc lộ trong các trò phiêu lưu trẻ con của Tom; còn đối với Huck, nó bộc lộ
thông qua những suy nghĩ và hành động trong suốt cuộc hành trình về với thiên nhiên. Điều
này nhắc đến cái nhìn triết lí về thiên nhiên của Mark Twain mà chúng tôi sẽ lí giải ở
chương ba của luận văn.
Về vấn đề thiên nhiên như là bản chất trong sáng tác của Mar
k Twain, các nhà
nghiên cứu trong nước dường như chưa thật sự quan tâm. Nó thường chỉ được nhắc đến mà
chưa chú ý lí giải. Tác giả Lê Hồng Sâm, năm 1988, trong lời giới thiệu cuốn Những cuộc
phiêu lưu của Tom Sawyer, có nhắc đến sự chống đối “
có tính chất bản năng” của nhân vật
khi phân tích giá trị phê phán xã hội của tác phẩm thông qua những hành động nghịch ngợm
của Tom ở nhà thờ và trường học. Lê Huy Bắc thì lại đánh giá việc Huck cứu Jim là “hành
động theo lương tri, theo bản chất của con người.” [5, tr.187]. Do đó “Hành trình đơn độc
đưa Jim chạy trốn của Huck là hành trình mang tính cách mạng nhất trong tư duy của một
người da trắng.” [5, tr.193].
Như vậy cái bản chất mà Lê Huy Bắc nhắc đến nghiêng về ý thức, về lí trí nhiều hơn
sự thuần phác mà chúng tôi muốn nói đến khi
tìm hiểu các nhân vật trong chương thứ ba.
Cho đến nay, theo chúng tôi, tác giả Đào Ngọc Chương là người đã có những chú ý
về vấn đề này. Trong bài viết “Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn”- nhân vật
người kể chuyện và hành trình của thời đại” mà chúng tôi đã nhắc đến ở trên, tác giả đã chỉ
ra một ý nghĩa mới mẻ là “đi tìm bản sắc
dân tộc” trong hành trình hướng về thiên nhiên

Twain.
4.2. Nếu không gắn c
ác tác phẩm của Mark Twain với bối cảnh ra đời của chúng là
Nước Mĩ thế kỉ XIX khi mà sự quan tâm đến nền văn hóa nông nghiệp như là một phản ứng
của thời đại thì sẽ không thể lí giải đầy đủ ý nghiã của các hình ảnh thiên nhiên. Do đó, từ
đây phương pháp nghiên cứu xã hội học có lúc sẽ được chúng tôi vận dụng đến để tìm hiểu
ý nghĩa biểu trưng của thiên nhiên trong sáng tác của Mark Twain.
4.3. Mặc dù trong trong hai cuốn tiểu t
huyết Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer
và Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn có cùng bối cảnh là sông nước miền biên
giới phía Tây, các nhân vật thì trở đi trở lại trong cả hai tác phẩm nhưng chúng ra đời cách
nhau tám năm và chứa đựng những ý nghiã cũng không hoàn toàn giống nhau mà có sự phát
triển. Vì thế khảo sát thiên nhiên trong hai tác phẩm ấy, chúng tôi còn vận dụng phương
pháp so sánh đối chiếu để tìm ra sự phát triển của các ý nghiã chứa đựng trong hình ảnh
thiên nhiên.
4.4. Các hì
nh ảnh thiên nhiên chỉ được xác định là có chứa đựng những ý nghiã sâu
rộng hơn ý nghĩa thông thường khi chúng xuất hiện liên tục trong tác phẩm. Chính vì vậy
mà chúng tôi sẽ sử dụng phương pháp thống kê để khảo sát tần số xuất hiện của các hình
ảnh thiên nhiên cụ thể nhằm lí giải ý nghiã của thiên nhiên nói chung trong sáng tác của
Mark Twain.
Trên đây là những phương pháp nghiên cứu chính mà chúng tôi sẽ vận dụng trong
quá trình khảo sát thiên nhiên trong tiểu thuyết của Mark Twain. Dĩ nhiê
n trong trường hợp
thật cần thiết chúng tôi sẽ vận dụng thêm những phương pháp hỗ trợ khác.

5. Mục đích nghiên cứu
Khảo sát vấn đề thiên nhiên trong tiểu thuyết của Mark Twain, chúng tôi trước hết
hướng tới lí giải một vấn đề cụ thể mang ý nghĩa thẩm mĩ, xã hội và triết học mà nhà văn
thể hiện như một thành công của dòng văn học mang tính chất miền rất đặc trưng trong văn

Đây là chương mà chúng tôi sẽ khảo sát các hình ảnh thiên nhiên cụ thể trong hai tiểu
thuyết của Mark Twain là Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer và Những cuộc phiêu lưu
của Huck Finn với ý nghĩa là không gian sống và hành động của các nhân vật. Các hình ảnh
thiên nhiên sẽ được chúng tôi tìm hiểu trong mối quan hệ với tiểu thuyết phiêu lưu và chủ
nghĩa hiện thực Mĩ. Từ đó, chúng tôi hướng đến việc làm rõ cách nhìn của nhà văn đối với
xã hội công nghiệp.

6.4. Chương 3 : Thiên nhiên như là bản chất – sự thuần phác của các nhân
vật
Chúng tôi sẽ lí giải một ý nghĩa khác của thiên nhiên ở chương này. Đó là bản chất
thuần phác của con người được biểu hiện qua thái độ đối với những chuẩn mực xã hội; qua
suy nghĩ và hành động, qua cách xử lí tình huống của các nhân vật Tom Sawyer, Huck Finn
trong các cuộc phiêu lưu. Vấn đề bản chất thuần phác cũng sẽ được tìm hiểu để có thể làm
sáng tỏ được quan niệm của Mark Twain về con người, về xã hội đư
ơng thời thông qua thái
độ đề cao sự thuần phác trong bản chất các nhân vật của nhà văn. 6.5. Phần kết luận
Trong phần này chúng tôi tổng kết những ý kiến của luận văn. Từ đó khẳng một
cách nhìn đối với các tác phẩm của Mark Twain.
Chương 1
THIÊN NHIÊN TRONG VĂN HỌC

1.1. Thiên nhiên - đối tượng miêu tả của văn chương
Khái niệm Thiên nhiên (nature) vốn chứa nhiều nội dung phong phú; trong đó hai ý
nghĩa thường được nhắc đến nhiều nhất là : tự nhiên và bản chất. Về ý nghiã thứ nhất, Từ
điển Tiếng Việt do Văn Tân chủ biên, NXB Khoa học học xã hội, Hà Nội – 1977 định nghiã
:
Thiên nhiên (tự nhiên) là toàn bộ những vật tồn tại ở chung quanh con người và

điểm nhìn, vào cảm quan, vào năng lực… của từng tác giả, vào cấu trúc văn bản, vào đặc
điểm của từng thể loại văn học…
Bên cạnh đó, sự song hành của yếu tố thiên nhiên với các nhân vật trong tác phẩm
văn chương còn chứa đựng một nội hàm nữa. Đó chính là sự thể hiện bản c
hất tự nhiên của
con người. Khi để nhân vật gần gũi với thiên nhiên, suy nghĩ và hành động theo trực giác là
các tác giả muốn khắc hoạ bản chất thuần phác của nhân vật. Ý nghĩa này của thiên nhiên
trong các tác phẩm văn chương có nguồn gốc từ những đặc điểm lịch sử – xã hội – văn hoá
cụ thể mà chúng tôi sẽ trình bày chi tiết hơn trong mục 1.1.2 - Thiên nhiên như là bản chất,
ở phần sau.
Tiếp theo, chúng tôi sẽ đi vào tì
m hiểu những biểu hiện hai ý nghĩa trên của thiên
nhiên trong một số tác phẩm văn chương cụ thể. 1.1.1. Thiên nhiên như là tự nhiên
Về ý nghiã này, khái niệm thiên nhiên trùng khớp với khái niệm không gian tự nhiên
quen thuộc. Khi được hiểu là không gian, thì thiên nhiên
gắn không tách rời với thời gian, vừa là nơi chứa đựng những gì có thể xảy ra – theo
ý nghiã đó, nó tượng trưng cho trạng thái hỗn mang của các gốc nguồn – vừa là nơi
chứa đựng những gì đã thực hiện – khi đó nó tượng trưng cho vũ trụ, cho thế giới đã
được tổ chức. [8, tr.486]
.
Như vậy một khu rừng, một dòng sông, một ngọn núi… đều là không gian tự nhiên
hiện thực, đều thuộc về thiên nhiên, về vũ trụ. Vì không gian hiện thực là cơ sở làm nảy sinh
nhận thức, cảm nhận về không gian của các tác giả nên trong tác phẩm văn chương chúng
được biểu hiện hết sức đa dạng, phong phú. Dưới ngòi bút miêu tả của các nhà văn, thiên
nhiên hiện ra có khi rất cụ thể, chân thực; c
ó khi lung linh, huyền ảo, sâu lắng. Tìm hiểu một
cách chi tiết, đầy đủ tất cả những biểu hiện như thế của thiên nhiên quả thật không dễ dàng

Hay cảnh đêm yên tĩnh trước một trận đánh khác :
Quân Tơ-roa đốt bùng lên bao ngọn lửa hồng trước thành quách I-li-ông
Nghìn đống lửa sáng trưng cháy giữa cánh đồng,
Cạnh mỗi đống, năm chục người ngồi châu bên ánh rọi,
Và lũ ngựa nhai đại mạch trắng và lúa mì dai chờ đợi,…
[31, (1), tr.249 – 250].
Có thể nói trong Iliad, song hành với những trận đánh ác liệt, những người anh hùng
là không gian chiến trận rộng lớn với thành quách, cánh đồng…
Sang đến Odyssey, cùng với hành trình hồi hương gian nan của Ulysses, không gian
mở rộng hơn nhiều và Homer cũng chú ý miêu tả thiên nhiên chi tiết hơn. Khác với Achilles
– chiến binh, Ulysses – kẻ hải hồ phải vượt qua vô số thử thách trên hải trình dài mười năm
của m
ình. Do đó không gian biển cả có thể nói bao trùm tác phẩm. Khi Ulysses bỏ qua lời
cảnh báo của nữ thần Calypso, đóng bè vượt biển, Homer đã miêu tả cảnh bão tố trên biển
rất thực:
… một ngọn sóng cao ngất, khủng khiếp, xông tới, xô vào người và lật úp chiếc bè.
Người bị hất khỏi bè, phải buông rời tay lái. Cột buồm bị mọi thứ gió cùng hợp lực
đánh vào dữ dội, bẻ gãy làm đôi, tung các mảnh ra xa, sàn bè cũng rơi chìm xuống
bể. [32, tr.38].
Và khi Ulysses cố bơi đến c
hiếc bè, trèo lên đó thì :
Những ngọn sóng khổng lồ liền đẩy chiếc bè khắp chốn, lắc lư theo dòng nước. Như
những cây gai mắc chằng vào nhau thành một bó bị gío bắc mùa thu quét đi khắp
cánh đồng, chiếc bè cũng bị gió đẩy đi đó đây trên mặt biển, khi thì gió nam trao c
ho
gió bắc, khi thì gió đông lại nhường cho gió tây đuổi. [32, tr.39].
Tất nhiên, thiên nhiên ở đây không chỉ là không gian mà nó còn là hiện thân của thử
thách mà hành động vùng vẫy chống chọi của người anh hùng “muôn vàn trí xảo” chính là
tinh thần, là khát vọng chinh phục thiên nhiên của người Hy Lạp nói riêng và của người
phương Tây nói chung. Sau khi bước ra khỏi những cuộc chinh chiến, con người bước vào

lừng tiếng muôn loài chim ca hát. Những dòng sông uốn lượn, vang tiếng lảnh lót
của vịt nước, thiên nga, cò hạc… Trên bờ sông, tiếng những con chi
m công ngọt
ngào như rót mật vào tai. [28, tr.218].
Bên cảnh vẻ đẹp nên thơ, nguyên sơ của không gian rừng núi, thiên nhiên ở đây còn
mang ý nghĩa giác ngộ tâm linh. Hòa hợp với thiên nhiên con người sẽ tìm được bản ngã
của mình, sẽ trưởng thành và ngộ ra chân lí. Không gian này vì thế đối lập với không gian
kinh đô do con người tạo nên cũng được miêu tả khá chi tiết trong sử thi Mahabharata. Đối
lập, bởi lẽ con người sẽ trở thành nô lệ của dục vọng, của lòng t
ham trong chính những lâu
đài nguy nga tráng lệ kia.
Sử thi An Độ, bên cạnh Mahabharata, không thể không nhắc đến Ramayana. Thiên
nhiên trong Ramayana xuất hiện nhiều hơn và đặc sắc hơn. Tuy nhiên ý nghĩa là không
gian sống và hành động của nhân vật dường như mờ nhạt hơn ý nghĩa Thiên nhiên – không
gian nội tâm. Do đó chúng tôi sẽ nói về thiên nhiên trong sử thi Ramayana ở phần sau.
Khi tìm hiểu thiên nhiên như là không gian sống và hành động của các nhân vật trong
tác phẩm văn chương, chúng ta còn khám phá được những nét vừa riêng biệt vừa tiêu biểu
của thiên nhiên ở những quốc gia khác nhau. Những bức tranh phong cảnh các mùa trong
năm; hình ảnh một ngọn núi, một dòng sông… thường được các nhà văn miêu tả hết sức ch
i
tiết và sống động. Đó chính là những không gian mở thường rất rộng rãi, khoáng đạt. Thông
qua kiểu không gian ấy chúng ta còn có thể hiểu được phần nào phong cách của từng nhà
văn. Cảnh vật mùa xuân qua ngòi bút của Lev Tolstoy, hồi sinh mạnh mẽ, tràn đầy sức sống
và rất Nga:
Cỏ già năm ngoái xanh tốt lại, cỏ non năm nay như kim đâm tủa trên mặt đất; những
chồi cây tuyết cầu, phúc bồn tử và
bạch dương dính nháp, sực nức mùi hương, đều
căng nhựa và quanh rặng liễu tắm nắng vàng tươi, đàn ong bị nhốt suốt mùa đông
trong túp lều bằng cành cây, lại thoát ra, vo ve bay lộn. Chim sơn ca không ai trông
thấy tuôn tiếng hót trên đồng cỏ nhung tơ và ruộng rạ phủ băng, chim te te than vãn

tả không chỉ là những bức tra
nh mang đậm màu sắc Nhật Bản mà còn phảng phất trong đó
quan niệm Thần đạo (Shinto) rất quen thuộc của người dân xứ Phù Tang.
Thiên nhiên như là tự nhiên ấy tiếp tục tồn tại trong tác phẩm văn chương đương đại.
Dẫu tác giả có đưa vào nó những hàm nghĩa mới mẻ, những mối quan hệ mới mẻ (ví dụ
trong các tác phẩm hậu hiện đại) thì nó vẫn thế : thiên nhiên – tự nhiên.
Như vậy, chúng tôi vừa nói đến ý nghĩa đầu tiên cũng là ý nghĩa phổ biến nhất của
thiên nhiên trong tác phẩm văn chương : thiên nhiên như là tự nhiên được hiểu là m
ôi
trường hành động của nhân vật. Bây giờ chúng tôi sẽ nói đến ý nghĩa thứ hai của thiên
nhiên. Đó là không gian nội tâm.
1.1.1.2. Thiên nhiên – không gian nội tâm
Mọi hình ảnh thiên nhiên đều mang ý nghĩa là không gian sống và hành động của
nhân vật nhưng không phải tất cả các không gian trong tác phẩm văn chương đều có thể là
không gian nội tâm. T
hiên nhiên chỉ trở thành không gian nội tâm khi các nhà văn dùng việc
miêu tả thiên nhiên như là một phương tiện để diễn tả những những trạng thái tinh thần
phức tạp của con người. Tất nhiên không phải vì bất lực trong việc diễn tả tâm lí mà nhà văn
phải dùng đến cách này. Nhưng quả thật, một bức tranh thiên nhiên xuất hiện đúng lúc tỏ ra
rất đắc địa trong việc thể hiện những rung động của lòng người và với độc g
iả, nó cũng
giúp sự cảm nhận tự nhiên hơn, dễ dàng hơn.
Trong văn học phương Đông, từ xưa, tả cảnh ngụ tình được coi là một bút pháp quen
thuộc. Như trên chúng tôi đã nói, sử thi “Ramayana” của An Độ có thể coi là một dẫn
chứng tiêu biểu. Thiên nhiên trong “Ramayana” được miêu tả với dung lượng nhiều và rất
chi tiết. Trong suốt cuộc lưu đầy mười bốn năm của hoàng tử Rama, mỗi khi buồn bã, nhớ
mong hay đau khổ, các nhân vật đều tìm đến với thiên nhiên. Đây là cảnh hồ Pampa, vào
mùa xuân :
… nước hồ sao mà trong vắt như pha lê, có gì khác chất ngọc lỏng trên nước da màu
lơ? Những bông sen đỏ rộ nở mới nhiều làm sao! Những rặng cây viền quanh bờ mới

chuyện tình buồn trên nền không gian trong trắng, thanh bạch của tuyết. Với 131 lần xuất
hiện của từ “tuyết” trong toàn bộ tác phẩm, không gian xứ tuyết vì thế đã trở thành biểu
tượng chứa đựng khát vọng của một lữ khách suốt đời khao khát tìm kiếm cái đẹp. Ý nghĩa
này còn chứa đựng trong những không gian tuyết được miêu tả rất nên thơ. Cũng là tuyết
nhưng lúc thì “lấp lóa dịu dàng trong ánh sáng”; lúc lại “đang rơi vẽ nên những hào
quang, nhảy múa quanh dáng của Komak
o”…
Điều thú vị là không gian tuyết này cũng rất thường gặp trong tác phẩm của Jack
London. Tuy nhiên, với nhà văn Mĩ này, ý nghĩa ẩn dụ của nó lại khác hẳn. Không gian
trắng xóa, lạnh lẽo trở đi trở lại trong các sáng tác của Jack London vừa thể hiện khát vọng
chinh phục thiên nhiên của con người; lại vừa tượng trưng cho sự thách thức của thiên nhiên
m
à con người khó lòng chinh phục. Không gian tuyết mà Jack London miêu tả thường bao
la, trắng toát :
Tuyết trắng một màu, chỗ nào băng ùn lại nhiều, mặt tuyết cuộn lên thành những đợt
sóng gợn lăn tăn. Từ Bắc xuống Nam, xa hút tầm mắt, tuyết trải trắng một màu mênh
mang… [40, tr.268].
Và cũng thường im lặng đến rợn người vì trong đó thường ẩn chứa những tai họa
khôn lường :
Xung quanh là một sự im lặng đến rùng rợn – không một tiếng động nhỏ nào trong
khu rừng bị tuyết ngập trắng. Cái lạnh và sự im lặng làm đông giá trái tim và cặp
môi run run của thiên nhiê
n. [40, tr.82].
Như vậy, khi thiên nhiên được xem là không gian nội tâm thì nó thường trở thành
một nhân vật trữ tình khác bên cạnh nhân vật chính. Nhân vật thiên nhiên này có khi là tấm
gương phản chiếu nội tâm nhân vật; có khi lại trở thành một người bạn thầm lặng cảm thông
cho nỗi niềm của nhâ
n vật. Cũng có khi thiên nhiên đối lập với nhân vật; thách thức ý chí,
bản năng sinh tồn của nhân vật…
Thiên nhiên trong văn học bên cạnh ý nghĩa là không gian sống và hành động của

21, tr.12 – 13].
Trong các tác phẩm của mình, Rousseau thường miêu tả những bức tranh tuyệt đẹp
về cảnh hồ, cảnh đêm trăng, cảnh núi rừng, những con đường nhỏ, con suối… Ông cũng ca
ngợi cuộc sống nơi thôn dã với những người nông dân thật thà, chất phác, bình dị, tốt bụng.
Như vậy có thể thấy Rousseau muốn dựa vào thiên nhiên làm nơi của trật tự, của sự hòa

hợp.
Thực ra quan điểm này cũng đã từng được Montaigne (1533 – 1592), nhà nhân văn
chủ nghĩa người Pháp nói đến từ cuối thế kỉ XVI. Trong chương sách nổi tiếng “Những
người dã man” ông đã viết về những người da đỏ ở Brazil như sau :
Ở họ, những phẩm chất và đức tính có thật, hữu ích nhất và tự nhiên nhất, thể hiện
ra một cách sinh động và mạnh mẽ… Những luật của tự nhiên mà không bị những
luật của chúng ta làm cho hư hỏng đi, còn đang chi phối họ… Như vậy, tôi xem các
dân tộc ấy là dã man, là vì họ còn ít tiếp nhận cách thế của trí tuệ con người và còn
gần gũi với sự chất phác nguyên thủy của họ. Và họ còn đang ở trong tình trạng
trong sáng đến nỗi nhiều khi tôi lấy làm bực rằng người ta không biết đến họ sớm
hơn, từ những ngày mà c
ó những người có thể đánh giá họ đúng hơn chúng ta. [21,
tr.8 – 9].
Điều này cho thấy, nguyên tắc xuất phát điểm của Montaigne là tính tự nhiên và sự
gần gũi với thiên nhiên. Ong còn khẳng định nguyên tắc này nhiều lần trong Những tiểu
luận của
mình: “Tất cả những gì xảy ra đúng như tự nhiên đều đáng tôn trọng”. Hay
“…biết tự biểu hiện ra một cách xứng đáng trong bản chất tự nhiên của mình là một dấu
hiệu của sự hoàn thiện”. [21, tr.10].
Tất cả làm nên một trào lưu tư tưởng về nguồn, tức là quay về tìm hiểu xã hội chất
phác thời nguyên thủy, mà đỉnh cao của nó là ở thế kỉ XVIII.
Sang đến t
hế kỉ XIX, ngành xã hội học bước vào thời kì xây dựng, thường được gọi
là xã hội học cổ điển, các nhà nhân học và dân tộc học bắt đầu sự mô tả khách quan các xã


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status