BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HỒ CHÍ MINH
------------------------- NGUYỄN THỊ KIM THOA
HIỆN THỰC TRONG TÁC PHẨM
TIÊU BIỂU CỦA MARK TWAIN
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
TS. NGUYỄN THỊ ANH THẢO
Thành phố Hồ Chí Minh - 2007 LờI Cảm ƠN! Tôi xin chân thnh cám ơn Ban Giám hiệu, Phòng Đo
tạo Sau Đại học Trờng đại học S phạm Tp. Hồ Chí Minh đã
tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập v
thực hiện luận văn.
Đặc biệt, tôi xin by tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô
Nguyễn Thị Anh Thảo, ngời đã trực tiếp hớng dẫn nhiệt tình,
tận tâm v cho tôi những lời khuyên quý báu, những định
hớng giúp tôi hon thnh luận văn ny.
Cuối cùng, tôi xin gởi lòng biết ơn đến Cha, Mẹ, ngời
thân v bạn bè, những ngời luôn quan tâm v động viên tôi
trong suốt quá trình học tập v thực hiện luận văn ny.
Học viên
Nguyễn Thị Kim Thoa
1 Mục lục
mở đầu.....................................................................................................................2
2.3.3. Nhân vật Jim ...........................................................................................84
Chơng 3. nghệ thuật hi hớc của Mark Twain...............................89
3.1. Một số vấn đề về đặc điểm nghệ thuật hi hớc của Mark Twain.................89
3.2. Biện pháp tạo tiếng cời của Mark Twain .....................................................93
3.2.1. Tơng phản .............................................................................................93
3.2.2. Biện pháp nhại.........................................................................................98
3.3. Nghệ thuật dẫn truyện đặc sắc.....................................................................103
kết Luận .............................................................................................................115
Ti liệu tham khảo.......................................................................................118
phụ lục
2 Mở đầu
1. Lý do chọn đề ti
Trớc hết có thể thấy vị trí của Mark Twain (1835 - 1910) - bút danh của
Samuel Langhorn Clemens trên văn đn thế giới nói chung v nớc Mỹ nói riêng l
hết sức quan trọng. William Dean Howells, một tiểu thuyết gia cừ khôi đã không
ngần ngại nhận xét trên tờ nguyệt san Atlantic nh thế ny: "Mark Twain l một
thiên ti trác tuyệt, ngời hon ton xứng đáng đứng vo hng ngũ những nh văn
lỗi lạc nhất". Ngời ta cũng đánh giá Mark Twain l nh văn lớn đầu tiên của miền
Tây nớc Mỹ v thnh công của ông thể hiện sự thắng lợi của miền viễn Tây dân
gian đối với các Salon văn học ở Boston. Có thể nói, Mark Twain l một nh cách
tân lớn, ông đã khám phá lại ngôn ngữ Anh - thứ có tầm quan trọng không chỉ với
nớc Mỹ m còn với nớc Anh trong một giai đoạn lịch sử nhất định [29, tr.932].
Ernest Hemingway qua cuộc đối thoại trong Những ngọn đồi xanh châu Phi đã nhận
đn Mỹ thế kỷ XIX. Sức hấp dẫn của chúng không chỉ nằm ở lớp ngôn ngữ hi
hớc, bình dị, sâu sắc, ở tính phiêu lu lôi cuốn dnh cho mọi lứa tuổi m còn tồn
tại ngay trong tính hiện thực của mỗi thiên truyện. Văn học l phản ánh hiện thực v
đối với Mark Twain, phản ánh thực tế cuộc sống đời thờng bằng ngôn ngữ đời
thờng đã nhân giá trị phản ánh lên gấp bội.
Nếu có thể nhận xét khái quát phong cách nghệ thuật tiêu biểu của Mark
Twain trong một cụm từ thì cụm từ ấy chỉ có thể l "tính hi hớc, châm biếm". Thật
vậy, tác phẩm no của Mark Twain cũng thể hiện dù trực tiếp hay gián tiếp một
giọng văn châm biếm dí dỏm, thông minh để tạo nên cái thần thái v tính cách rất
riêng cho nh văn. Một câu hỏi đợc đặt ra l: phải chăng với việc chọn đề ti "hiện
thực trong tác phẩm của Mark Twain", luận văn đã đi chệch quỹ đạo phong cách
tiêu biểu của nh văn hi hớc lớn nhất nớc Mỹ thế kỷ XIX ny? Thực ra không
phải nh vậy, mọi tác gia từ La Fontaine, Molière đến Xervantex (Cervantes) đều
dùng tiếng cời để triệt tiêu thói xấu, để châm biếm, đả phá thói xấu của xã hội.
Chính vì thế, mỗi tác phẩm của họ đều thực sự l "ngụ ngôn" cho cuộc đời thực tại.
Đọc sáng tác của Mark Twain, ta thấy đâu chỉ có tiếng cời thông minh hóm hỉnh;
mặt bên kia của chất tiếu lâm l bộn bề những trăn trở, suy t, day dứt khôn nguôi
của lòng ngời về hiện thực cuộc sống. Chính tính chất hiện thực ấy đã lm cho câu
chuyện hi hớc của Mark Twain thêm sâu sắc v có duyên, có hồn hơn. Sáng tác
chân chính rồi cũng quay về hiện thực, phản ánh cái hiện thực m trớc đây đã từng
l t liệu trực tiếp hay gián tiếp của nó. Đó chính l một hnh trình m bất cứ nh
4 văn hiện thực no cũng phải dấn thân v tuân thủ. Đối với Mark Twain, viết không
chỉ để trải nghiệm m còn để tái hiện cuộc sống nh nó vốn có bằng ngôn ngữ của
nụ cời, của trái tim v khối óc. Điều tạo nên chất men say hấp dẫn ngời đọc ở tiểu
thuyết Mark Twain đâu đơn thuần l tính giải trí của nó. Mỗi thiên truyện của ông
mở ra cho ngời đọc một sự nhận thức sâu sắc về thế giới hiện thực m ông đang cố
bao la của cuộc sống. Nói cách khác, thông qua cái nhìn nội cảm, hiện thực đợc
khúc xạ v đợc phản ánh sâu sắc hơn, chân thật hơn v sống động hơn cái hiện thực
bề nổi của xã hội. Trong những tác phẩm trên của Mark Twain, các nhân vật chính
của Mark Twain hầu nh l thiếu nhi, cái nhìn trong sáng, ngây thơ của chúng l
điều kiện giúp cho nh văn có thể phản ánh chân thực cuộc sống. Nh vậy, đời sống
xã hội Mỹ thế kỷ XIX m nhất l xã hội miền Tây bên dòng Mississippi v đời sống
tâm lý của con ngời nơi đây chính l đối tợng m chúng tôi muốn tái hiện để có
cái nhìn ton vẹn v sâu sắc về nó. Tuy nhiên, nếu chỉ xem xét v nhìn nhận tác
phẩm của Mark Twain nh một biên niên sử phản ánh hiện thực xã hội Mỹ thì đó
quả l một thiếu sót lớn. Bỏ qua yếu tố hi hớc v châm biếm, tính hiện thực trong
tác phẩm sẽ mất đi giá trị phản ánh sâu sắc, thâm cay của nó; v nh thế, cũng sẽ bỏ
qua phong cách sáng tác đặc sắc, tiêu biểu của nh văn hi hớc lớn nhất nớc Mỹ
ny. Với lý do đó, chúng tôi sẽ nghiên cứu chủ đề hiện thực trong một số tác phẩm
tiêu biểu của ông dựa trên sự quy chiếu v tơng hỗ của các phong cách v khuynh
hớng nghệ thuật đặc trng cho tác giả. Đó l chất miền (local color), chất tro
phúng (humor) vùng biên giới v chất phiêu lu truyền thống của dân tộc Mỹ. Các
tác phẩm tiêu biểu của ông m chúng tôi tập trung nghiên cứu bao gồm Cuộc sống
trên dòng Mississippi, Những cuộc phiêu lu của Tom Sawyer v Những cuộc phiêu
lu của Huckle Berry Finn.
3. Phơng pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu,chúng tôi sử dụng tổng hợp nhiều phơng pháp của
phơng pháp nghiên cứu văn học: phơng pháp so sánh, phơng pháp thống kê hệ
thống, phơng pháp phân tích đối chiếu, phơng pháp lịch sử xã hội Trong số các
phơng pháp trên, phơng pháp phân tích - tổng hợp có tầm quan trọng hng đầu
trong quá trình nghiên cứu của luận văn.
4. Lịch sử vấn đề
Mark Twain l nh văn quen thuộc đối với độc giả Việt Nam. Nhiều tác phẩm
của ông nh Những cuộc phiêu lu của Tom Sawyer, Những cuộc phiêu lu của
Huckle Berry Finn, Vị hong tử v cậu bé nghèo khổ đã đợc dịch sang tiếng Việt.
Đo Ngọc Chơng in trong Bình luận văn học (1998), Nxb khoa học xã hội một lần
nữa khẳng định Mark Twain l nh văn của khuynh hớng hi hớc trong văn học
Mỹ, l "tác giả đầu tiên bên kia dòng Mississippi đã viết về miền Tây một cách xác
7 thực v đầy thân ái. Tác giả Đo Ngọc Chơng cũng thừa nhận tác phẩm của Mark
Twain, đặc biệt l Những cuộc phiêu lu của Huckle Berry Finn ra đời khi "ti năng
của Mark Twain phát triển lên đến đỉnh cao trong thế kết hợp ba dòng chảy: khuynh
hớng chất miền (local color), tính chất v truyền thống humour vùng biên giới, v
đặc biệt l truyền thống phiêu lu của dân tộc ny v của tiểu thuyết phiêu lu Mỹ".
Tác giả Lê Đình Cúc với bi viết "Ngòi bút hiện thực phê phán v nghệ thuật hi
hớc của Mark Twain" đăng trên tạp chí Văn học số 3, năm 1986 (sau ny đợc
trích in trong tác phẩm Những tác gia văn học Mỹ) đã nghiên cứu kết hợp chất hi
v hiện thực trong một số sáng tác tiêu biểu của Mark Twain l Ông hong v chú
bé ăn my, Những cuộc phiêu lu của Tom Sawyer v Những cuộc phiêu lu của
Huckle Berry Finn. Trong công trình nghiên cứu ny, hiện thực đợc khảo sát trên
nhiều bình diện, từ cuộc sống sinh hoạt, trờng học, nh thờ, mở rộng ra đặc điểm
ton cảnh xã hội Mỹ nửa cuối thế kỷ XIX. Nhìn chung, bi viết của tác giả Lê Đình
Cúc đề cập đến ba nội dung chính: hiện thực xã hội, tâm lý nhân vật v bút pháp tro
lộng. Tuy nhiên, bi viết của ông khai thác vấn đề hiện thực dới góc độ xã hội
nhiều hơn l tâm lý, tính cách cũng nh thủ pháp nghệ thuật gây tiếng cời. Tác giả
Lê Huy Bắc đã dnh gần hai trăm trang viết trong công trình nghiên cứu Văn học
Mỹ để giới thiệu Mark Twain nhng hơn một nửa trong số đó lại viết về nghệ thuật
tro phúng, phần còn lại tác giả tập trung nhấn mạnh những điểm chính trong cuộc
đời, nhân cách v sự nghiệp sáng tác của Mark Twain. Tính hiện thực do đó không
đợc nghiên cứu dới dạng một luận đề riêng biệt m chỉ đợc nhắc đến nh những
mảng nội dung mang tính chất tản mác, bổ sung cho kết cấu chính của bi viết. Tác
giả Hồng Sâm trong lời giới thiệu tác phẩm Những cuộc phiêu lu của Tom Sawyer
các bi bình luận (Mark Twain: A collection of critical essays) do Henry Nash
Smith biên tập đã giới thiệu một cách khá khái quát v đầy đủ phong cách v quan
điểm sáng tác của nh văn nổi tiếng ny. Bi tiểu luận phê bình của Van Wyck
Brooks: Chất uy-mua của Mark Twain (Mark Twain's humour) đã lý giải tiếng cời
ở chiều kích thâm sâu của nó, từ trong truyền thống uy-mua của vùng biên thùy xa
xôi đến cuộc sống khắc nghiệt đầy bạo liệt của vùng đất hoang sơ ny. Bi tiểu luận
phê bình của Maurice Le Breton: Mark Twain: Một sự đánh giá (Mark Twain: An
Appreciation) lại tập trung phân tích chủ nghĩa hiện thực trong các sáng tác của nh
văn Mark Twain. Theo ông, chủ nghĩa hiện thực đó không dừng lại ở những hình
thức bề ngoi của các sự kiện, hiện tợng cuộc sống m nó đi sâu vo việc giải thích
sự tác động của ngoại cảnh với tâm lý, tính cách của các nhân vật. Đó l do Mark
9 Twain luôn "bắt mình phải theo đuổi sự thẩm vấn gắt gao của bản thân đối với ton
bộ hiện thực rộng lớn, dữ dội v mãnh liệt của miền Tây nớc Mỹ". Bi tiểu luận
của Henry Nash Smith: Một tâm hồn lnh lặn v một lơng tâm bị méo mó (A sound
heart and a deformed conscience) đã miêu tả lại sự chuyển biến tâm lý ý thức của
các nhân vật chính, đặc biệt l Huck trong hnh trình tìm kiếm tự do của mình. ở
đó, Mark Twain dờng nh chuyển mình sang địa hạt của sự châm biếm xã hội.
Tóm lại, qua một số bi nghiên cứu trong v ngoi nớc, chúng tôi nhận định
rằng vấn đề hiện thực trong các sáng tác tiêu biểu của Mark Twain l vấn đề không
mới, ít nhiều đã có ngời nghiên cứu, đề cập đến. Song chắc chắn, mức độ sâu sắc,
ton diện v tính hệ thống của nó l điều m cha có công trình nghiên cứu no đạt
tới đợc. Nói cách khác, các công trình đi trớc vì không đặt ra mục đích tự thân l
nghiên cứu tính hiện thực trong một hệ thống v đề ti hon chỉnh nên đã xem xét
tính hiện thực trong các sáng tác của Mark Twain l yếu tố kết hợp, đồng vị với các
yếu tố khác nh tính tro phúng, phiêu lu Luận văn không tham vọng đợc xem
l công trình nghiên cứu ton diện v sâu sắc về hiện thực trong ton bộ các tác
11 Chơng 1. Hiện thực xã hội
1.1. Bối cảnh xã hội Mỹ thế kỷ XIX
1.1.1. Thế kỷ của sự bnh trớng lãnh thổ
Cuối thế kỷ XVIII, chiến tranh giữa quân đội nh vua Anh với những ngời di
dân Mỹ kết thúc. Nớc Mỹ dới sự chỉ huy ti tình của tớng George Washington
đã ginh đợc chiến thắng vẻ vang. Bản tuyên ngôn độc lập của nớc Mỹ năm 1776
đã đánh dấu nền độc lập, chủ quyền của một quốc gia. Nớc mỹ bớc vo thời kỳ
Nh vậy, năm 1850 Mỹ đã có đến 31 bang, dân số 23 triệu ngời, lãnh thổ Mỹ
kéo di từ Đại Tây Dơng đến Thái Bình Dơng sau khi đã mua California v vùng
Tây Nam của Mexico.
Năm 1898, Mỹ thôn tính đảo Hawai của Nhật v biến hòn đảo xinh đẹp ny
thnh bang thứ 50 của mình vo năm 1959.
Nh vậy có thể nói, thế kỷ XIX l thế kỷ mở rộng lãnh thổ không ngừng của
nớc Mỹ. Hầu hết các lãnh thổ chiếm đợc đều bằng con đờng thơng thuyết hay
mua bán. Dựa vo tình trạng vùng biên giới bao la mênh mông, lỏng lẻo v không rõ
rng, Mỹ đã thu về cho mình một nguồn ti nguyên đất vô cùng phong phú, béo bở,
hứa hẹn thu hút ngy cng đông nguồn dân di c v lao động nhập c. Song song với
ln sóng di c từ châu Âu sang l ln sóng di c từ Đông sang Trung Tây nội địa
Hoa Kỳ, v sau đó l từ miền Trung Tây sang miền viễn Tây. Cái đợc gọi l biên
giới, tức l ranh giới của vùng đất đã khám phá với những miền đất ít ngời biết đến
trở thnh cái biên giới xê dịch không ngừng về phía Tây. Tinh thần dân chủ chỉ đợc
bắt đầu khi ngời Mỹ tiến về đây, nơi m mọi ngời đều bình đẳng nh nhau, chủ
động, dũng cảm xông pha để tìm những vùng đất tốt. Miền Tây đã trở thnh một
vùng đất huyền thoại biểu trng cho những gì l giấc mơ v tính cách của ngời Mỹ:
tinh thần cá nhân, dũng cảm, tự lập, thực tế, lạc quan v dân chủ. Tuy nhiên, lý
thuyết về biên giới miền Tây ngy cng lỏng lẻo vì lý do sự tiến lên v lan toả của
đờng ranh giới báo hiệu sự thụt lùi của vùng đất tự do. Sự mở rộng biên giới đồng
nghĩa với việc các bộ lạc da đỏ bị xua đuổi một cách tn nhẫn từ Đông sang Tây
ngay trên chính mảnh đất của tổ tiên, cha ông họ. Năm 1842, sau cuộc nổi dậy của
mình, những ngời da đỏ còn lại bị đẩy từ phía Đông Mississippi sang Oklahoma.
Một đờng ranh giới đợc vạch ra từ Bắc xuống Nam, từ Minesota tới Texas v
ngời da đỏ đợc hứa l có quyền sử dụng mảnh đất ở phía Tây đờng ranh giới cho
đến khi no "cây còn mọc v sông hãy còn chảy". Thế nhng, chỉ cần mời năm sau
chính quyền Mỹ đã lấy lại phần đất Kansas v Nebraska bất chấp điều kiện sống của
13
ngời miền Đông đợc cho l có đặc quyền đặc lợi về kinh tế v tiền tệ. Trong khi
đó, chính phủ bang lại vay hết món nợ ny đến món nợ khác để trang trải chi phí
cho các công trình v dịch vụ công cộng. Họ phải bán đất công để trang trải nợ nần.
14 Trong thời gian ny (1834 - 1836) việc buôn bán đất tăng lên gấp năm lần so với
trớc đã đẩy nhanh nguy cơ đầu cơ đất ở các địa phơng. Năm 1837, một cuộc suy
thoái kinh tế lại tái diễn, nhiều ngân hng phá sản vì giấy bạc m họ phát hnh mất
giá trị (do Jackson chủ trơng lu hnh vng v bạc thay cho tiền giấy), giá nông
sản sụt giảm, nhiều nh máy phải đóng cửa v đất nớc chìm đắm trong cơn suy
thoái kéo di.
Cùng với việc khủng hoảng về kinh tế v tiền tệ, nớc Mỹ trong những năm
đầu thế kỷ XIX còn phải lao đao vì tính thất thờng của những biểu thuế m Quốc
hội Hoa Kỳ ban ra. Để bảo vệ có hiệu quả quá trình sản xuất trong nớc, Mỹ phải bổ
sung nhiều đạo luật mới vo những năm 1820 v 1821 nhằm tăng mức thuế nhập
khẩu lên. Tuy nhiên, việc lm ny không đủ để ngăn chặn hng hóa nhập khẩu từ
châu Âu sang vì giá nhân công ở châu Âu rẻ mạt, sản phẩm lại đợc sản xuất hng
loạt nên giá thnh thấp. Kết quả l hng hóa châu Âu dù bị đánh thuế cao vẫn rẻ hơn
hng hóa sản xuất tại Mỹ. Để tăng cờng khả năng cạnh tranh với nớc ngoi, các
bang vùng New England (gồm Maine, New Hampshire, Vermont, Massachusetts,
Rhode Island v Connecticut) đòi chính phủ phải tăng thuế nhập khẩu thêm nữa.
Quốc hội đã thông qua dự luật mới nâng thuế suất đánh vo hng nhập khẩu từ 20%
lên 36%. Điều ny gây nên một ln sóng phản đối mạnh mẽ trong các bang miền
Nam m đặc biệt l Virginia v Carolina. Họ giận dữ v bất bình vì trong khi thuế
suất cao, có lợi cho New England thì họ v các bang khác phải khổ sở bởi giá cả
hng hóa tăng vọt. Mâu thuẫn về biểu thuế, hay nói đúng hơn l hệ quả của mâu
thuẫn về phơng thức sản xuất giữa hai miền Bắc Nam đã đẩy nớc Mỹ rơi vo
tình trạng chia rẽ nội bộ triền miên. Chấm dứt chia rẽ không phải l điều đơn giản vì
Sau chiến tranh, quan hệ giữa ngời Mỹ da trắng v ngời Mỹ da đen cực kỳ
căng thẳng. Ngời miền Nam căm ghét dân da trắng đến từ miền Bắc, mang theo túi
vải để vơ vét. Họ gọi đó l những kẻ theo "chế độ túi vải" (carpet-bag Regime).
Miền Nam chiến bại bị thiệt thòi sau cái chết của tổng thống Lincoln. ý định bồi
thờng cho các chủ nô miền Nam sau chiến tranh, ý định tạo điều kiện sinh sống
cho nô lệ mới đợc giải phóng của ông không thực hiện đợc. Miền Nam với những
kẻ thua trận còn ngoan cố, bị đặt dới vòng cơng tỏa của chính đảng v lực lợng
quân sự chiếm đóng miền Bắc. Đáp trả lại những kẻ chiến thắng v các Tu chính án
thừa nhận quyền tự do của ngời da đen, ngời miền Nam kiêu kỳ v ngang bớng
không bao giờ thừa nhận sự ngang hng v bình đẳng giữa họ với ngời da đen m
họ cho l hạ đẳng.
16 Sự thống nhất quốc gia sau nội chiến đòi hỏi việc giao thơng, liên lạc không
ngừng giữa các vùng miền với nhau. Đó chính l lý do m các tuyến đờng sắt
không ngừng vơn xa v vơn nhanh hơn nữa. Chính phủ liên bang đã cấp cho
ngnh đờng sắt hng chục triệu hecta đất để xây dựng các tuyến đờng nối từ Đại
Tây Dơng qua Thái Bình Dơng, kích thích lu thông hng hóa, thúc đẩy nền kinh
tế phát triển. Tuy nhiên, nhờ lợi nhuận béo bở v sự u ái của chính phủ m ngnh
ny trở thnh nới có nhiều hoạt động đầu cơ v lạm dụng quyền lực nhiều nhất.
Nhiều vùng đất bị mua đi bán lại, nhiều địa phơng v t nhân bị ép buộc phải trả
một món tiền lớn cho công ty đờng sắt nếu không muốn bị tuyến đờng của họ
chạy ngang qua đất của mình. Đó l cha kể trong tình trạng độc quyền, các công ty
đờng sắt mặc sức quy định cớc phí cao v phân biệt đối xử giữa các vùng, miền,
địa phơng khác nhau.
Nh vậy, nếu nh hơn nửa đầu thế kỷ XIX, sự kiện chủ yếu của lịch sử Mỹ l
sự bnh trớng không ngừng để mở rộng lãnh thổ từ Đông sang Tây, sự thống nhất
Bắc - Nam về bình diện kinh tế v chế độ chính trị thì gần bốn mơi năm cuối thế kỷ
cử tri phải biết đọc v giải thích một đoạn trong Hiến pháp liên bang - điều ny l
không tởng v quá bất công đối với những ngời da đen bị mù chữ hng thế hệ.
Nhìn chung, thế kỷ XIX của nớc Mỹ l thế kỷ bnh trớng không ngừng để
mở rộng lãnh thổ. Điều đó hon ton phù hợp với một quốc gia non trẻ khao khát
lm giu v khẳng định vị thế của mình trên thế giới. Sự mở mang bờ cõi về phía
Tây thể hiện khát vọng tự do tìm kiếm miền đất giu có của ngời Mỹ cam đảm,
thích tự lập, xông pha v phiêu lu. Sự bnh trớng lãnh thổ đồng nghĩa với khả
năng bnh trớng v phát triển kinh tế vì những lợi nhuận về ti nguyên đất đai,
khoáng sản v nguồn lao động nhập c m nó mang lại. Trong những thập niên đầu,
mặc dù tình hình kinh tế gặp nhiều bất ổn do sự thiếu sót v yếu kém trong kinh
nghiệm v năng lực quản lý của chính quyền, nớc Mỹ vẫn không ngừng vơn lên
với tốc độ phát triển mạnh nh vũ bão. Bằng chứng l cuối thế kỷ, Mỹ tích lũy đợc
nguồn vốn t bản vững chắc, thu hút đầu t nớc ngoi o ạt v ngy cng tiến
nhanh trên con đờng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tuy nhiên, đằng sau bộ mặt
giu sang của xã hội t bản l một nớc Mỹ nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp: cạnh
tranh quyết liệt, đạo đức suy thoái v đặc biệt l mâu thuẫn chủng tộc tăng cao.
Nh vậy, nớc Mỹ thế kỷ XIX l một xã hội vận động sôi nổi, một quốc gia
non trẻ ấp ủ trong lòng nó những biến chuyển v nội lực phi thờng tựa nh một
ngọn núi lửa sắp phun tro. Nó hùng vĩ, mạnh mẽ bao nhiêu thì cng chất chứa
18 những hiểm nguy v bi kịch bấy nhiêu. Bối cảnh đó chắc chắn sẽ lm nên những
cảm hứng thời đại cho những sáng tác bất hủ của nền văn học Mỹ thế kỷ XIX.
1.2. Mark Twain v Chủ nghĩa hiện thực Mỹ thế kỷ XIX
1.2.1. Lý luận chung về chủ nghĩa hiện thực.
Xét về mặt cơ sở xã hội, chủ nghĩa hiện thực chỉ thực sự ra đời vo thế kỷ
XIX, thời kỳ m phơng thức sản xuất t bản chủ nghĩa phát triển mạnh mẽ v bộc
lộ những mối quan hệ xã hội bất công, vô nhân đạo của nó. Lịch sử nớc Pháp nửa
phát triển của chủ nghĩa t bản, ton bộ những bản chất xấu xa, đê hèn của chế độ t
hữu mới có dịp bộc lộ mạnh mẽ v dy xéo ráo riết số phận con ngời. Cho nên, hơn
bao giờ hết, văn học thế kỷ XIX thể hiện rõ chức năng phản ánh xã hội của nó. Cũng
từ thời kỳ ny trở đi chủ nghĩa hiện thực mới trở thnh một tro lu văn học hay một
phơng pháp sáng tác chính thức. Thế nhng bản thân bối cánh xã hội t bản thế kỷ
XIX cha đủ sức lm nên những trang viết về hiện thực một cách sâu sắc v ton
diện. Chính sự phát triển nhận thức của các nh văn ở thế kỷ ny mới quyết định
tính chất sâu sắc v ton diện của văn học hiện thực phê phán. Có thể nói, đây l thế
kỷ bùng nổ t duy khoa học kỹ thuật của lịch sử nhân loại, l thời kỳ m con ngời
ý thức đợc rằng đấu tranh giai cấp l động lực để phát triển lịch sử xã hội v thế
giới luôn ở trạng thái vận động, biến đổi không ngừng đầy biện chứng. Chính hon
cảnh xã hội v thnh tựu khoa học thời đại đã mi sắc ý thức, mi sắc ngòi bút hiện
thực của các nh văn trong việc phản ánh con ngời v các mối quan hệ xã hội phức
tạp. Đúng nh những gì m nh nghiên cứu ngời Nga Boris Kuskov nhận xét: "Chủ
nghĩa hiện thực với t cách phơng pháp sáng tác l một hiện tợng lịch sử phát sinh
ở một giai đoạn phát triển nhất định của lý trí con ngời, vo thời m con ngời nảy
sinh sự tất yếu không tránh khỏi phải ý thức bản chất v khuynh hớng vận động
của xã hội " [20, tr.30].
Bản chất của văn học hiện thực l tái hiện bộ mặt của thực tại nhng điều đó
không có nghĩa l nó tái hiện giống y chang thực tế cuộc sống. Nó chỉ ghi lại những
yếu tố quan trọng nhất, bộc lộ những gì mang tính quy luật v bản chất của sự vật,
hiện tợng. Cũng cần phải nói thêm rằng, ở góc độ lý thuyết, thực tại l một khái
niệm khách quan, bao trùm ton bộ thế giới của con ngời, l nơi con ngời sống,
suy nghĩ v sáng tạo. Điều ny quy định cho chủ nghĩa hiện thực một chức năng l
khi mô tả bề mặt các hiện tợng, sự kiện đời sống, nó còn phải chú ý đến thế giới
nội tâm v đời sống tình cảm của con ngời. Nói cách khác, nghiên cứu thực tại v
tâm lý con ngời luôn tơng ứng v quy chiếu lẫn nhau trong văn học hiện thực chủ
20
thờng bao hm thái độ v chính kiến chủ quan của nh văn, song thái độ chủ quan
21 ấy dần đi đến chỗ khách quan hóa để phù hợp với nguyên tắc chủ đạo của chủ nghĩa
hiện thực l phản ánh chân thực đời sống. Tuốcghênhép từng nói: "tái hiện sự thật,
thực tại cuộc sống một cách chân thực v mạnh mẽ l hạnh phúc cao quý nhất của
nh văn ngay cả khi sự thật ấy không phù hợp với những thiện cảm riêng của nh
văn".
Xây dựng tính cách điển hình trong hon cảnh điển hình l một đặc điểm quan
trọng của phơng pháp sáng tác hiện thực chủ nghĩa. Tính cách điển hình của nhân
vật chịu sự tác động từ những đặc điểm có ý nghĩa khái quát v cốt yếu của môi
trờng xã hội. Thông qua tính cách, thế giới quan v số phận nhân vật, đặc điểm của
môi trờng xã hội sẽ đợc phơi by v lm sáng tỏ. Hon cảnh điển hình đợc xây
dựng từ những hon cảnh cụ thể, riêng biệt nhng tiêu biểu để thông qua đó, các vấn
đề xã hội rộng lớn hơn đợc khái quát v cảm nhận. ở đây, ta thấy có một mối quan
hệ biện chứng giữa tính cách v hon cảnh, giữa cá nhân v môi trờng xã hội.
Lênin trong tác phẩm Mác, Anghen, Lênin bn về văn học v nghệ thuật đã nói:
"trong khi nghiên cứu những mối quan hệ thực tế v sự phát triển thực tế của những
mối quan hệ đó, tôi đã nghiên cứu chính ngay cái kết quả hoạt động của những cá
nhân đang sống". Anghen trong th gửi Latxan cũng đồng tình nh thế: "động cơ
hnh động của họ không phải l những ham thích vụn vặt của cá nhân m l cái tro
lu lịch sử lôi cuốn họ". Nh vậy, tính cách chính l con đẻ của hon cảnh v hon
cảnh điển hình phong phú đa dạng, phức tạp bao nhiêu sẽ quy định sự phức tạp,
phong phú v đa dạng của tính cách bấy nhiêu. "Hon cảnh xã hội bao giờ cũng
phức tạp, cho nên tính cách nhân vật mặc dù bao giờ cũng có thể nổi lên vi ba nét
chủ đạo nhng châu tuần chung quanh đó còn có những biểu hiện đa dạng gần nh
chính con ngời thật ngoi đời" [31, tr.534]. Tính phong phú v đa dạng của hon
cảnh tùy thuộc vo sự phức tạp của các mối quan hệ xã hội, vo sự đối kháng giai
bức tranh đẹp, nhng lấy đâu ra mẫu cho những bức tranh nh vậy? Những trang
phục nghèo nn, những gã t sản ba hoa của các ngời, tôn giáo chết của các ngời,
chính quyền thoái hóa của các ngời, những ông vua không có ngai vng của các
ngời, no thi vị của chúng đến đâu, có đáng để miêu tả chăng?... Lúc ny chúng ta
chỉ có thể chế nhạo thôi" [H.Balzac, Tuyển tập, tr.439, tập 15]. Nh vậy, các nh
chủ nghĩa hiện thực thế kỷ XIX trong khi miêu tả v nhận thức cuộc sống nhằm
vạch ra những mâu thuẫn khách quan của chủ nghĩa t bản đã không tránh khỏi việc
giữ một lập trờng phê phán đối với thế giới t hữu. Boris Kuskov nhận xét: "Những