Đề tài " LÃI SUẤT
TRONG HỢP
ĐỒNG VAY TIỀN
VÀ TÁC ĐỘNG
CỦA NÓ ĐẾN NỀN
KINH TẾ HIỆN
NAY"
LÃI SUẤT TRONG HỢP ĐỒNG VAY TIỀN VÀ TÁC
ĐỘNG CỦA NÓ ĐẾN NỀN KINH TẾ HIỆN NAY
CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG “SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA
HỌC”
ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI – NĂM 2009
Người thực hiện: Dương Thu
Phương
Giới tính: Nữ Dân tộc: Kinh
Lớp: DS32C Năm thứ: 3/4 Khoa: Luật Dân
Sự
Người hướng dẫn: Nguyễn Minh
Oanh
THS. GV Khoa: Luật Dân
SựLỜI NÓI ĐẦU
Trong quá trình tiến hành công cuộc đổi mới kinh tế, Đảng và Nhà nước ta luôn
chấp liên quan đến lãi và lãi suất. Tuy nhiên những quy định của pháp luật về vấn đề này
còn rất chung chung và chưa rõ ràng. Điều đó càng làm tăng thêm các tranh chấp và đã bị
một số đối tượng lợi dụng những quy định còn thiếu chặt chẽ của pháp luật để cho vay
nặng lãi, để tổ chức đánh bạc… làm biến thái đi mục đích thiết thực của lãi suất. Vì vậy
có rất nhiều điều cần phải nói và bàn bạc thêm về lãi suất nhưng với sự phong phú và đa
dạng của nó nên đề tài này chỉ tập trung nghiên cứu một số khía cạnh cơ bản, khái quát
nhất.
Có thể nói lãi suất là một vấn đề còn rất mới mẻ và sự biến đổi không ngừng, thất thường
của chính nó đặc biệt trong thời gian gần đây đã thôi thúc rất nhiều nhà khoa học, nhà
chuyên môn và những ai yêu thích tìm hiểu về tiền tệ nghiên cứu với mục đích mong
muốn kìm hãm những rủi ro do lãi suất mang lại. Cụ thể, đặt ra những mục tiêu trước
mắt, giải thích được do đâu lãi suất lại có sự tăng giảm nhanh chóng như vậy, tại sao lãi
suất chịu sự chi phối của nền kinh tế và ngược lại lãi suất có ảnh hưởng gì đối với lạm
phát và giảm phát thì sẽ tìm ra biện pháp khắc phục. Tuy nhiên với kiến thức còn nhiều
hạn chế và sự eo hẹp về tài liệu, thời gian nên đề tài này không thể tránh khỏi những
thiếu sót nhất định. Tôi xin chân thành đón nhận ở thầy cô và các bạn những ý kiến đóng
góp bổ ích để đề tài được hoàn thiện hơn.
Trong đề tài gồm những chương sau:
Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về hợp đồng vay tiền
Chương 2: Lãi suất trong hợp đồng vay tiền
Chương 3: Quy định của pháp luật Việt Nam về lãi suất trong hợp đồng vay tiền và thực
trạng áp dụng
Chương 4: Tác động của lãi suất trong hợp đồng vay tiền tới nền kinh tế hiện nay
Chương 5: Nhận xét và kiến nghị.
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HỢP ĐỒNG VAY TIỀN
1.1. Khái niệm hợp đồng vay tiền
Cho vay là một hiện tượng kinh tế khách quan, xuất hiện khi trong xã hội loài người có
tình trạng tạm thời thừa và tạm thời thiếu vốn. Khái niệm cho vay, theo nghĩa chung nhất
+ Hợp đồng là sự thoả thuận ý chí của ít nhất hai bên. Sự thoả thuận này được thể hiện
thông qua hai giai đoạn là đề nghị giao kết và chấp nhận đề nghị.
+ Sự thoả thuận của các bên phải đạt được đến sự thống nhất tức là chỉ khi nào ý chí qua
lại đồng thời là ý chí thống nhất thì hợp đồng mới hình thành. Nếu giao dịch thể hiện ý
chí một bên sẽ không có hợp đồng.
+ Mục đích của hợp đồng phải nhằm đạt được hậu quả pháp lý đã định trước. Hậu quả
pháp lý của hợp đồng có thể làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa
vụ dân sự.
Là một loại hợp đồng dân sự, hợp đồng vay tài sản được hiểu là sự thoả thuận giữa các
bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả bên vay phải hoàn trả
cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu
có thoả thuận hoặc pháp luật đã quy định”
([1])
.
Hợp đồng vay tiền là một loại hợp đồng vay tài sản, dựa trên định nghĩa về Hợp đồng
(Điều 388 – BLDS 2005) và Hợp đồng vay tài sản (Điều 471 – BLDS 2005) tác giả xin
định nghĩa về hợp đồng vay tiền như sau: hợp đồng vay tiền là sự thoả thuận giữa các
bên, theo đó bên cho vay giao tiền cho bên vay; khi đến hạn trả bên vay phải hoàn trả
cho bên cho vay đúng số lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thoả thuận hoặc pháp luật
quy định.
Hợp đồng vay tiền có lãi suất là hợp đồng có sự thoả thuận về lãi suất hoặc lãi suất do
pháp luật quy định. Khi tranh chấp xẩy ra đòi hỏi thẩm phán phải quan tâm để giải quyết
cả về việc trả tiền nợ gốc, nợ lãi, bao gồm cả lãi suất và thời gian tính lãi nợ quá hạn kể
từ khi hết hạn vay, với hợp đồng vay không có thời hạn thì thời gian tính lãi nợ quá hạn
kể từ khi đòi nợ.
1.2. Đặc điểm của hợp đồng vay tiền
Qua những phân tích ở trên, hợp đồng vay tiền có những đặc điểm pháp lý sau:
· Thứ nhất, hợp đồng vay tiền là hợp đồng chuyển quyền sở hữu đối với số tiền vay, khi
bên vay nhận tiền. Bên vay có toàn quyền đối với tiền vay trừ trường hợp vay tiền có điều
kiện sử dụng. Ví dụ: A thoả thuận với B không được sử dụng khoản tiền mà A cho B vay
đợi tác nhân có khả năng thoã mãn nhu cầu trao đổi.
- Đơn vị tính toán giá trị
Các hàng hoá khi trao đổi với nhau cần có sự so sánh để hình thành tỉ lệ trao đổi. Chức
năng này của tiền tệ biểu hiện giá trị hàng hoá thành tiền, nhờ đó mà các hàng hoá có thể
so sánh với nhau về mặt lượng. Điều này có tầm quan trọng rất lớn do tiết kiệm được các
chi phí giao dịch bởi số lần hình thành giá trung gian trong trao đổi trực tiếp.
- Phương tiện tích luỹ giá trị
Chức năng này của tiền tệ giúp để tích luỹ sức mua trong thời gian nhận thu nhập cho đến
khi sử dụng chúng bởi thu nhập của con người thường không được sử dụng ngay một lúc.
Tiền là đối tượng của hợp đồng vay có thể là Việt Nam đồng (VND) hay ngoại tệ tuỳ
theo sự thoả thuận của các bên hoặc pháp luật quy định. Đối tượng của hợp đồng vay tiền
được chuyển từ bên cho vay sang bên vay làm sở hữu. Bên vay có quyền định đoạt số
tiền vay. Khi hết hạn của hợp đồng vay tiền, bên vay có nghĩa vụ trả cho bên kia số tiền
đã vay. Có hợp đồng vay tiền không thoả thuận thời hạn thì bên vay phải trả số tiền vay
bất kỳ lúc nào khi có yêu cầu của bên cho vay.
1.3.2. Kỳ hạn
Hợp đồng vay tiền có thể có hoặc không có kỳ hạn (xác định hoặc không xác định). Nếu
hợp đồng vay tiền không thoả thuận về kỳ hạn thì hợp đồng vay tiền được coi là không có
kỳ hạn. Bên cho vay có quyền yêu cầu bên vay phải thực hiện hợp đồng bất kỳ lúc nào.
Tuy nhiên để tạo điều kiện cho bên vay chuẩn bị tiền, bên cho vay phải báo trước cho bên
vay một thời gian hợp lí để thực hiện hợp đồng. Hết thời gian đó, bên vay buộc phải thực
hiện nghĩa vụ của mình (Điều 447 – BLDS 2005). Nếu hợp đồng không có kỳ hạn thì bên
vay có thể thực hiện hợp đồng bất cứ lúc nào, bên cho vay không được từ chối tiếp nhận
việc thực hiện nghĩa vụ của bên vay. Xác định thời điểm chấm dứt hợp đồng vay tiền có
ý nghĩa quan trọng trong việc xác định trách nhiệm dân sự của các bên và thời hiệu khởi
kiện yêu vầu giải quyết tranh chấp về hợp đồng.
Trường hợp hết hạn hợp đồng mà bên vay không trả nợ được thì phải chịu trách nhiệm
dân sự do vi phạm hợp đồng. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này chúng ta đang đề
cập tới hợp đồng vay có lãi suất nên bên vay phải trả lãi trên nợ gốc và lãi quá hạn theo
lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn chậm trả tại thời
gian nào. Thời điểm này được coi là thời điểm chấm dứt hợp đồng cho vay tiền không kỳ
hạn. Trường hợp các bên có thoả thuận về mục đích vay, bên cho vay có quyền kiểm tra
việc sử dụng tiền của bên vay có đúng mục đích như thoả thuận hay không. Nếu sử dụng
tiền không đúng mục đích như đã thoả thuận, bên cho vay có quyền huỷ hợp đồng
(Khoản 2 Điều 478 – BLDS 2005).
1.6. Họ, hụi, biêu, phường
Họ, hụi, biêu, phường (gọi chung là họ) là một loại giao dịch dân sự về tài sản. Giao dịch
này được nhân dân ta sử dụng từ lâu và nó đã trở thành tập quán. Dưới hình thức góp
vốn, lĩnh vốn theo phường, hội trên cơ sở thoả thuận của một nhóm người về thời gian, số
tiền, thể thức góp vốn, lĩnh họ và quyền, nghĩa vụ của các thành viên.
Nguyên tắc chung của chơi họ là nhiều người (nhà con) cùng tham gia một dây họ bầu ra
nhà cái (người thu tiền của các nhà con và chuyển cho người bốc (bát) họ). Hàng tháng,
mỗi nhà con phải góp một số tiền nhất định cho nhà cái. Lần lượt theo thứ tự bốc thăm
hoặc theo thoả thuận đến kỳ hạn bốc họ, một nhà con sẽ nhận về số tiền từ nhà cái, số
tiền này do các nhà con khác góp họ. Theo thứ tự bốc họ, khi người cuối cùng bốc họ thì
dây họ chấm dứt.
Bản chất truyền thống của góp họ là những người chơi họ tương trợ giúp đỡ lẫn nhau.
Dưới hình thức góp họ, thành viên góp họ có được số vốn tập trung để có điều kiện kinh
doanh hoặc sử dụng vào những công việc cần chi tiêu lớn. Những hình thức chơi họ có
tính chất lành mạnh được Nhà nước khuyến khích. Ngược lại Nhà nước cấm hình thức
“chơi họ” để nhằm mục đích cho vay nặng lãi giữa nhà cái với các nhà con, các hình thức
chơi họ nhằm lừa đảo hoặc các hình thức biến tướng của chơi họ là đánh bạc… Những
trường hợp này, tuỳ theo mức độ vi phạm nặng nhẹ mà bị xử lí hành chính, chịu trách
nhiệm dân sự hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.
Ngày 27/11/2006, Chính phủ đã ban hành Nghị định 144/2006/NĐ-CP quy định về hình
thức họ, hụi, biêu, phường; quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của những người tham gia
họ. Theo nội dung Nghị định, Nhà nước nghiêm cấm việc tổ chức họ để cho vay nặng lãi,
lừa đảo, lạm dụng tín nhiệm hoặc các hành vi trái pháp luật khác để chiếm đoạt tài sản
của người khác. Nghị định nêu rõ, quyền và lợi ích hợp pháp của những người tham gia
họ là nhằm mục đích tương trợ trong nhân dân. Có hai hình thức họ là họ không lãi và họ
.
Cũng có định nghĩa cho rằng: lãi suất là giá cả của quyền được sử dụng vốn vay trong
một thời gian nhất định mà người sử dụng vốn phải trả cho người sở hữu vốn
([3])
.
Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, lãi suất được định nghĩa là tỷ lệ của tổng số tiền
phải trả so với tổng số tiền vay trong một khoảng thời gian nhất định. Lãi suất là giá mà
người vay phải trả để được sử dụng tiền không thuộc sở hữu của họ và là lợi tức người
cho vay có được đối với việc trì hoãn chi tiêu.
Từ những cơ sở trên, tác giả xin được đưa ra định nghĩa về lãi suất như sau: lãi suất
trong hợp đồng vay tiền là tỉ lệ nhất định mà bên vay phải trả thêm vào số tiền đã vay
tính theo đơn vị thời gian. Lãi suất thường được tính theo tuần, tháng hoặc năm do các
bên thoả thuận hoặc do pháp luật quy định. Căn cứ vào lãi suất số tiền vay và thời gian
vay mà bên vay phải trả một số tiền nhất định. Số tiền này tỉ lệ thuận với lãi suất, số tiền
đã vay và thời gian vay.
Trong trường hợp các bên không có thoả thuận về lãi suất thì hợp đồng vay tiền sẽ không
có lãi suất. Nếu các bên có thoả thuận về lãi suất thì không được vượt quá “150% của lãi
suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước (NHNN) công bố đối với loại cho vay tương
ứng”
(
[4]
)
. Như vậy, nếu các bên thoả thuận về lãi suất gấp hai, ba hoặc nhiều lần lãi suất
của Ngân hàng Nhà nước công bố thì khi tranh chấp xảy ra, mức lãi suất tối đa mà Toà án
chấp nhận không vượt quá “150% mức lãi suất cơ bản do NHNN công bố đối với loại
cho vay tương ứng”.
2.2. Đặc điểm của lãi suất
Là một công cụ để tính lợi nhuận nhằm thoả mãn nhu cầu vật chất hoặc tinh thần của cả
bên cho vay và bên vay, lãi suất có những đặc điểm cơ bản sau đây:
· Thứ nhất, lãi suất được phát sinh chủ yếu trong các hợp đồng vay tài sản: Qua nghiên
suất tín dụng thương mại có các mức khác nhau. Song các mức lãi suất tín dụng thương
mại đều có điểm chung là chúng không được ghi cụ thể bằng tỷ lệ phần trăm (%) trên
chứng từ vay nợ (trên thương phiếu) mà được bao hàm trong tổng giá cả hàng hoá bán
chịu có nghĩa là doanh nghiệp mua chịu phải trả giá hàng hoá cao hơn mức mua trả tiền
ngay. Chênh lệch giữa hai loại tổng giá cả hàng hoá này là tiền lãi mà doanh nghiệp mua
chịu trả cho doanh nghiệp bán chịu, do vậy để tính lãi suất tín dụng thương mại, người ta
sử dụng công thức sau:
Tổng giá cả hàng hóa bán chịu – Tổng giá cả hàng hóa bán trả tiền ngay x 100%
Lãi suất TDTM = ————————————————————————————
–
Tổng giá cả hàng hóa bán trả tiền ngay
- Lãi suất tín dụng ngân hàng áp dụng trong quan hệ giữa ngân hàng với công chúng và
doanh nghiệp trong việc thu hút tiền gửi và cho vay, trong hoạt động tái cấp vốn của
Ngân hàng Trung ương cho các ngân hàng, và trong quan hệ giữa các ngân hàng với nhau
trong thị trường liên ngân hàng. Việc phân biệt khái niệm lãi suất trong các quan hệ này
là cần thiết để hiểu rõ mối quan hệ giữa chúng:
+ Lãi suất tiền gửi được áp dụng để tính tiền lãi phải trả cho người gửi tiền. Lãi suất tiền
gửi có nhiều mức khác nhau tuỳ thuộc vào thời hạn gửi, vào quy mô tiền gửi. Sự biến
động lãi suất tiền gửi ở mức độ lớn không chỉ ảnh hưởng đến quy mô nguồn vốn của các
ngân hàng mà còn ảnh hưởng đến khối tiền giao dịch và qua đó tới lạm phát. Chính vì
vậy việc áp dụng chính sách tăng mạnh lãi suất tiền gửi có hiệu quả cao trong kiềm chế
đẩy lùi lạm phát.
+ Lãi suất tiền vay được áp dụng để tính lãi tiền vay mà khách hàng phải trả ngân hàng.
Về mặt nguyên tắc mức lãi suất tiền vay bình quân phải cao hơn mức lãi suất tiền gửi
bình quân, và có sự phân biệt giữa các khoản vay với thời hạn khác nhau cũng như mức
rủi ro khác nhau. Sự thay đổi lãi suất tiền vay có tác động tới quy mô cho vay và khả
năng cung ứng tiền của hệ thống ngân hàng trung gian. Vì cơ chế này mà Ngân hàng
Trung ương có thể thực hiện mục tiêu nới lỏng hoặc thắt chặt cung ứng tiền bằng cách
ảnh hưởng tới lãi suất tiền vay của các ngân hàng áp dụng đối với nền kinh tế.
căn cứ vào mức lãi suất cơ bản của một số ngân hàng đứng đầu, của các ngân hàng
khác… cộng, trừ (±) biên độ dao động theo một tỷ lệ phần trăm (%) nhất định để hình
thành lãi suất cơ bản của mình (Malaysia). Một số nước lại sử dụng lãi suất liên ngân
hàng làm lãi suất cơ bản (Singapore, Pháp) vì thực chất lãi suất cơ bản của các ngân hàng
rất gần với mức lãi suất thị trường liên ngân hàng nếu không như vậy hoạt động
Arbitrage (buôn chứng khoán) về lãi suất sẽ diễn ra. Mặc dù khác nhau, lãi suất cơ bản
của hầu hết các nước đều hình thành trên cơ sở thị trường và đó là mức lãi suất tối thiểu
bù đắp được chi phí và có một mức lợi nhuận bình quân cho phép. Khi áp dụng đối với
các đối tượng có mức rủi ro khác nhau, mức lãi suất kinh doanh sẽ khác nhau vì sự biến
động của mức bù rủi ro.
ở Việt Nam, Luật Ngân hàng Nhà nước 1997“ quy định
Lãi suất cơ bản là lãi suất do Ngân hàng Nhà nước công bố làm cơ sở cho các tổ chức
tín dụng ấn định lãi suất kinh doanh”
([6])
.
Hiện nay lãi suất cơ bản được xác định dựa trên cơ sở tham khảo lãi suất cho vay thương
mại tốt nhất của một nhóm ngân hàng (chiếm phần lớn thị phần tín dụng) do thống đốc
Ngân hàng Nhà nước quy định.
- Lãi suất tín dụng Nhà nước áp dụng khi Nhà nước đi vay của các chủ thể khác nhau
trong xã hội dưới hình thức phát hành tín phiếu hoặc trái phiếu. Loại lãi suất này có thể
do Nhà nước ấn định căn cứ vào lãi suất tiền gửi tiết kiệm của ngân hàng, vào các yếu tố
khác như: sự biến động của lạm phát, nhu cầu cấp thiết về vốn của Nhà nước… hoặc
được hình thành thông qua hoạt động đấu thầu tín phiếu, trái phiếu của Nhà nước. ở Việt
Nam hiện nay, Ngân hàng Nhà nước được giao nhiệm vụ tổ chức đấu thầu tín phiếu Kho
bạc Nhà nước.
2.3.2. Phân loại theo giá trị thực của lãi suất (hay theo mối quan hệ giữa lạm phát và
giảm phát)
(
[2]
)
Sự phân biệt giữa lạm phát thực tế và dự kiến cho thấy lãi suất danh nghĩa không thể điều
chỉnh để thích ứng với lạm phát thực tế mà chỉ có thể điều chỉnh để thích ứng với lạm
phát dự kiến. Hiệu ứng Fisher có thể biểu diễn chính xác hơn dưới dạng:
i = ir + pe
Lãi suất thực dự kiến ir bị quy định bởi trạng thái cân bằng trên thị trường hàng hoá và
dịch vụ. Lãi suất danh nghĩa i thay đổi theo tỷ lệ một – một với những thay đổi trong tỷ lệ
lạm phát dự kiến pe.
Vì được điều chỉnh lại cho đúng theo những thay đổi về mức giá nên lãi suất thực phản
ánh chính xác hơn thu nhập từ việc cho vay cũng như chi phí thật của việc vay tiền và do
vậy sự phân biệt hai loại lãi suất này có ý nghĩa quan trọng đối với các chủ thể tham gia
trên thị trường tín dụng.
2.3.3. Phân loại theo bản chất hợp đồng tài chính
(
[8]
)
Trả lãi theo mức độ cố định hay thả nổi là bản chất của hợp đồng tài chính. Cách phân
loại theo tiêu thức này chia lãi suất thành hai loại là lãi suất cố định và lãi suất thả nổi.
Lãi suất cố định được giữ cố định trong suốt thời hạn vay. Còn lãi suất thả nổi có thể thay
đổi theo chỉ số lạm phát.
Lãi suất cố định có ưu điểm: người gửi tiền và người vay tiền biết trước số tiền lãi được
trả và phải trả. Nhưng cũng có những nhược điểm: bị ràng buộc vào một lãi suất nhất
định trong thời gian nào đó, dù cho các loại lãi suất khác thay đổi như thế nào. Nó thường
được áp dụng trong trường hợp lãi suất thị trường tương đối ổn định.
Lãi suất thả nổi có lợi cho cả hai bên nếu khi nhận và trả tiền đều tính theo cùng mức lãi
suất chung là lãi suất hiện tại thường áp dụng trong các thời kỳ lãi suất thị trường biến
động nhiều, khó dự đoán chính xác chiều hướng cũng như mức độ biến động lãi suất.
2.3.4. Phân loại theo cách đo lường lãi suất
(
[9]
)
đến hạn trả lãi nhưng do sự kiện bất ngờ hay sự kiện bất khả kháng mà bên vay không thể
thực hiện nghĩa vụ trả lãi của mình hoặc được bên cho vay chấp nhận không phải trả lãi
quá hạn khi qua thời hạn vay…
2.4. Những chính sách về lãi suất ở nước ta từ đầu thập kỷ 90 đến nay
Từ đầu thập kỷ 90, chính sách lãi suất đã dần thay đổi để từng bước thích ứng với cơ chế
lãi suất thị trường đồng thời tăng cường hiệu lực của cơ chế giá trong việc thực hiện
chích sách tiền tệ.
2.4.1. Giai đoạn trước tháng 6 năm 1992
(
[10]
)
Nhà nước can thiệp ở mức độ cao và trực tiếp vào lãi suất thông qua ấn định các mức lãi
suất tiền gửi và lãi suất tiền vay. Cơ chế lãi suất âm và mang nặng tính chất bao cấp được
duy trì suốt thời kỳ này với mức cho vay đối với doanh nghiệp Nhà nước thấp hơn đối
với doanh nghiệp ngoài quốc doanh; Lãi suất danh nghĩa nhỏ hơn (<) tỉ lệ lạm phát. Lãi
suất cho vay ngắn hạn lớn hơn lãi suất cho vay dài hạn; Lãi suất tiền gửi tiết kiệm cao
hơn lãi suất tiền gửi tiết kiệm cao hơn lãi suất tiền gửi các tổ chức kinh tế. Tình trạng này
làm cho lãi suất không thực hiện được chức năng vốn có của nó.
2.4.2. Giai đoạn từ tháng 6 năm 1992 đến năm 1995
(
[11]
)
Ngân hàng Nhà nước đã có nhiều bước điều chỉnh trong điều hành chính sách lãi suất:
chuyển từ cơ chế lãi suất thực âm sang cơ chế lãi suất thực dương để đảm bảo cho bên
cho vay và bên vay đều có lợi, xoá bỏ về cơ bản sự chênh lệch lãi suất cho vay giữa các
thành phần kinh tế; thay vì ấn định lãi suất cụ thể bằng quản lý lãi suất theo một khung,
bao gồm lãi suất tối thiểu về tiền gửi và lãi suất tối đa về tiền vay. Những thay đổi về lãi
suất đã được cải cách linh hoạt hơn với cơ chế thị trường. Tuy nhiên, cơ chế này vẫn
khống chế trực tiếp lãi suất, điều này làm giảm tác dụng kích thích và điều tiết hoạt động
kinh doanh của các ngân hàng.
cụ gián tiếp khác chưa thực sự có hiệu quả; việc điều hành trần lãi suất vẫn là một biện
pháp can thiệp hành chính của Nhà nước do vậy đã hạn chế tính chủ động linh hoạt trong
kinh doanh của các tổ chức tín dụng, hạn chế việc hình thành và phát triển của các công
cụ tài chính, có nguy cơ làm suy giảm năng lực tài chính của tổ chức tín dụng.
2.4.4. Giai đoạn từ tháng 8 năm 2000 đến tháng 05 năm 2002
(
[13]
)
Đây là giai đoạn sử dụng lãi suất cơ bản với lãi suất tái triết khấu, lãi suất tái cấp vốn
trong điều hành chính sách tiền tệ. Theo cơ chế lãi suất cơ bản, Ngân hàng Nhà nước
hàng tháng sẽ công bố lãi suất cơ bản (lãi suất cơ bản được hình thành căn cứ vào mức
lãi suất cho vay thương mại tốt nhất của một nhóm các tổ chức tín dụng chiếm phần lớn
thị phần tín dụng). Chính sách lãi suất thời kỳ này đã tiến gần đến các nguyên tắc lãi suất
thị trường hơn. Tuy nhiên việc khống chế dao động của lãi suất cơ bản làm hạn chế phần
nào tính thị trường của lãi suất và làm cho cơ chế này về bản chất vẫn là cơ chế điều hành
trần lãi suất. Mặc dù vậy, việc sử dụng lãi suất cơ bản làm lãi suất tham chiếu khi cấp tín
dụng các tổ chức tín dụng là bước chuẩn bị cho tự do hoá lãi suất hoàn toàn sau này.
2.4.5. Giai đoạn từ tháng 6 năm 2002 đến cuối năm 2008 (đến khủng hoảng kinh tế tài
chính toàn cầu cuối năm 2008)
Ngân hàng Nhà nước có những thay đổi mang tính bước ngoặt trong điều hành lãi suất.
Cơ chế lãi suất thoả thuận từ ngày 01/6/2002 đã xoá bỏ biên độ khống chế lãi suất cho
vay, cho phép các tổ chức tín dụng được tự do thoả thuận lãi suất cho vay bằng đồng Việt
Nam dựa theo quan hệ cung – cầu vốn và mức độ tín nhiệm đối với khách hàng. Sang
những tháng đầu năm 2003, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục điều chỉnh cơ chế điều hành lãi
suất mà theo đó lãi suất tái cấp vốn đóng vai trò lãi suất trần, lãi suất tái chiết khấu là lãi
suất sàn trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng, lãi suất thị trường mở đóng vai trò là công
cụ điều hành thường xuyên của Ngân hàng Nhà nước. Ngoài hình thức tái cấp vốn thông
thường, Ngân hàng Nhà nước qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và thanh
toán bù trừ. Ngân hàng Nhà nước còn áp dụng lãi suất tiền gửi của các tổ chức tín dụng
tại Ngân hàng Nhà nước làm phương tiện thường xuyên điều tiết lãi suất liên ngân hàng;
các loại để làm nhà ở được vay ở mức tiền tối đa bằng 100% giá trị hàng hóa nhưng
không vượt quá 50 triệu đồng, hai hạng mục này được hỗ trợ 4% lãi suất vay. Theo đó,
các khoản vay từ ngày 01 tháng 05 năm 2009 đến ngày 31 tháng 12 năm 2009 sẽ có thời
gian hỗ trợ lãi suất tối đa 24 tháng đối với các sản phẩm máy móc, thiết bị cơ khí, phương
tiện phục vụ sản xuất, chế biến nông nghiệp và máy vi tính, hỗ trợ lãi suất tối đa 12 tháng
đối với các sản phẩm vật tư nông nghiệp và vật liệu xây dựng các loại để làm nhà ở. Điều
kiện được hưởng chính sách hỗ trợ lãi suất là sản phẩm được sản xuất trong nước và phải
được đăng ký, niêm yết giá bán và có nhãn hàng hóa theo quy định của pháp luật. Đồng