NHỮNG VẤN ĐỀ THỰC TIỄN VỀ TRANH CHẤP LÃI
SUẤT TRONG HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG VÀ GIẢI PHÁP
KHẮC PHỤC
Dựa trên những lí luận tổng quan về HĐTD và lãi suất cho vay trong HĐTD
cũng như diễn biến của lãi suất cho vay qua các thời kì dưới sự điều hành của
NHNN ở chương 1, chương này nêu những vấn đề thực tiễn và đề xuất giải pháp
khắc phục. Phần 2.1 phân tích, đánh giá các tranh chấp xảy ra trong thực tiễn từ góc
độ pháp luật thực định và cách giải quyết trên thực tế của cơ quan chức năng. Phần
2.2 là một số kiến nghị nhằm khắc phục những bất cập còn tồn tại trong thực tiễn
liên quan đến vấn đề này. Cuối cùng là phần tổng kết chương 2.
1.1 Những vấn đề thực tiễn về tranh chấp lãi suất trong hợp đồng
tín dụng
Lãi suất trong HĐTD là một trong những yếu tố quan trọng nhất mà các
TCTD sử dụng để cạnh tranh trong hoạt động kinh doanh. Bên cạnh những yếu tố
như uy tín, chất lượng phục vụ hay vị trí địa lí thuận lợi thì lãi suất là mối quan tâm
đầu tiên của khách hàng gửi tiền cũng như khách hàng có nhu cầu sử dụng vốn.
Mức lãi suất cho vay thấp là công cụ hiệu quả để thu hút khách hàng vay vốn, tăng
thu nhập cho TCTD.
Việc thỏa thuận lãi suất trong HĐTD luôn chịu sự chi phối của chính sách nhà
nước. Qua nhiều thời kì, NHNN đã đưa ra một số chính sách điều hành lãi suất cho
vay trong hoạt động tín dụng. Những chính sách này đã tác động đến lãi suất cho
vay của các TCTD và là nguyên nhân gián tiếp dẫn đến những tranh chấp về lãi suất
đã từng xảy ra hoặc có thể phát sinh. Tranh chấp về lãi suất ít khi là nội dung chính
của một vụ việc, mà thông thường chỉ khi khách hàng vi phạm nghĩa vụ trả nợ và
vụ việc được đưa ra giải quyết tại cơ quan chức năng, những bất đồng quan điểm
quanh vấn đề lãi suất mới phát sinh.
Nhìn chung, các dạng tranh chấp về lãi suất có thể xảy ra trong quá trình thực
hiện hợp đồng là:
• TCTD hoặc người đi vay yêu cầu điều chỉnh lãi suất khi HĐTD quy định
lãi suất cố định và thời hạn vay vẫn còn.
• Tranh chấp về mức lãi suất trong hợp đồng và cách tính lãi trong hạn.
với điều kiện ông M. phải thanh toán 150.000.000 đồng tiền nợ gốc làm hai kì ngay
sau đó. Tại phiên tòa sơ thẩm, ngân hàng P cho rằng ông M. chưa thực hiện đầy đủ
việc thanh toán tiền nợ gốc nên ngân hàng vẫn áp dụng lãi suất cũ. Ông M. lại cho
rằng ông đã thực hiện được một kì trả nợ gốc là 75.000.000 đồng như thỏa thuận tại
phiên hòa giải nên yêu cầu ngân hàng P. giảm một phần lãi suất tương ứng với phần
2
ông đã trả được. Tòa cấp sơ thẩm đã xem xét và chấp thuận yêu cầu của ngân hàng
vì ông M. chưa thực hiện đầy đủ điều kiện theo thỏa thuận nên nghĩa vụ giảm lãi
suất và giảm tiền phạt chậm trả của ngân hàng P. không phát sinh.
Đối với những vụ tranh chấp như vậy, nguyên nhân chủ yếu thuộc về lỗi của
bên vay, bởi vì nghĩa vụ giảm lãi của TCTD chỉ phát sinh khi khách hàng vay vốn
đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình theo thỏa thuận.
1.1.1.2 TCTD yêu cầu nâng lãi suất cho vay
Điều khoản về lãi suất trong HĐTD là điều khoản vô cùng quan trọng. Thông
thường để hạn chế rủi ro lãi suất, TCTD không thỏa thuận lãi suất cố định với hợp
đồng trung – dài hạn mà quy định trong HĐTD lãi suất cho vay tính bằng lãi suất
tiền gửi cộng một biên độ và thay đổi định kì. Trong một số hợp đồng vay ngắn
hạn, lãi suất cho vay được thỏa thuận là lãi suất cố định trong suốt thời gian vay.
Khi thị trường có những biến động khiến TCTD phải nâng lãi suất huy động để thu
hút nguồn vốn trong dân cư, việc cho vay với lãi suất thấp hơn (ở những HĐTD kí
kết từ trước đó nhưng vẫn trong quá trình giải ngân) so với lãi suất huy động hiện
tại sẽ khiến TCTD mất đi một phần lợi nhuận. Vì vậy, không ít TCTD đã yêu cầu
khách hàng chấp nhận tăng lãi suất cho vay mới tiếp tục giải ngân. Đây chính là
tình trạng xảy ra rất nhiều trong thời gian giữa năm 2008 khi áp dụng chính sách
điều hành lãi suất “thắt chặt” của NHNN, lãi suất huy động và lãi suất cho vay được
đẩy lên rất cao. Tình trạng này không chỉ xảy ra ở đơn lẻ một TCTD nào hay đối
với một đối tượng cụ thể nào, chính vì thế đã có những tác động to lớn đối với
người dân tham gia vào quan hệ tín dụng. Dưới đây là một vụ việc điển hình trong
số ít những vụ việc có sự phản ứng mạnh mẽ từ phía người đi vay, trong khi hầu hết
những vụ việc khác bên vay thường chịu thiệt thòi tăng mức lãi suất nhằm có được
hợp trên, lẽ ra ngân hàng X phải thực hiện hợp đồng với lãi suất như đã thỏa thuận
trước đó trong HĐTD, việc tăng lãi suất là trái với quy định của pháp luật.
Trên thực tế, có rất nhiều trường hợp khách hàng buộc phải tăng lãi suất theo
yêu cầu của TCTD. Tại các buổi tiếp xúc cử tri ở huyện Mộc Hóa, tỉnh Long An, đã
có hàng ngàn hộ dân trên địa bàn này chất vấn các đại biểu Hội đồng nhân dân về
việc ngân hàng lại tăng lãi suất cho vay trong khi hạn hợp đồng chưa hết. Theo các
cử tri huyện Mộc Hoá, thị xã Tân An và các huyện khác trong tỉnh, khi ngân hàng
tăng lãi suất (từ 1,2% lên 1,50%, có hộ lên 1,75%), thì rất nhiều hộ vay vốn còn hạn
hợp đồng. Tính đến ngày 10/7/2008 đã có 72% nông dân trong huyện Mộc Hóa đã
phải kí điều chỉnh tăng lãi suất vay dù HĐTD với Ngân hàng Nông nghiệp và phát
triển nông thôn chưa tới hạn và trong hợp đồng thỏa thuận lãi suất cố định. Chỉ có
khoảng 30 nông dân kiên quyết không chịu điều chỉnh lãi suất, họ buộc ngân hàng
phải thực hiện đúng hợp đồng
2
. Tương tự như vậy, tại tỉnh Bến Tre, để chuẩn bị cho
1 Ái Phương (2008), Ngân hàng có quyền tự ý tăng lãi suất cho vay, Báo Pháp luật TPHCM, xem
thêm tại / view.aspx?news_id=221904
2 Khi ngân hàng ép buộc người vay điều chỉnh lãi suất (2008), Báo Điện tử Đài tiếng nói Việt Nam,
xem thêm tại />91745.vov
4
kì họp thứ 14 Hội đồng nhân dân tỉnh khoá VII, Thường trực Hội đồng nhân dân
tỉnh Bến Tre đã phối hợp tổ chức cho đại biểu họp thảo luận tổ và tiếp xúc cử tri.
Theo đó một trong những vấn đề mà người dân quan tâm là một số ngân hàng đã
tăng lãi suất đối với các HĐTD đã có hiệu lực trước khi Quyết định số
16/2008/QĐ-NHNN ngày 16/5/2008 và Công văn 5004/NHNN-CSTT ngày
04/6/2008 được ban hành. Điều này gây phản ứng, khó khăn từ phía các hộ vay
trong tỉnh, nhất là đối với các hộ vay nuôi thuỷ sản hiệu quả thấp ở ba huyện ven
biển (huyện Thạnh Phú, Ba Tri, Bình Đại)
3
.
từ ngày 19/5/2008, mức lãi suất cho vay có điều chỉnh cũng không được vượt quá
mức lãi suất cho vay tối đa theo quy định tại Quyết định số 16/2008/QĐ-NHNN.
Với việc áp dụng lãi suất trần cho vay bằng 150% lãi suất cơ bản và việc
NHNN đẩy mạnh lãi suất cơ bản lên đến 14%/năm theo Quyết định số 1317/QĐ-
NHNN ngày 10/6/2008, chính sách này đã ngăn chặn đà bùng nổ lạm phát, làm
chậm lại hoạt động cho vay của hệ thống ngân hàng và thu hút nguồn vốn nhàn rỗi
trong dân cư. Bên cạnh đó, chính sách này vẫn có mặt trái nhất định, khi làm cho
TCTD phải đối mặt với tình trạng nợ quá hạn gia tăng. Khách hàng hoặc không có
khả năng trả nợ hoặc có tiền cũng không muốn trả, vì mức lãi suất cho vay cũ chỉ
tối đa 12%/năm, nếu bị phạt nợ quá hạn vẫn thấp hơn lãi suất cho vay mới, thêm
vào đó, trả nợ xong lại khó vay vốn trở lại bởi lãi suất đã rất cao. Nếu TCTD khởi
kiện ra tòa án, phát mãi tài sản bảo đảm cũng rất khó khăn, trải qua nhiều thủ tục,
thời gian xử lí được tài sản kéo dài trở nên khó thu hồi vốn. Chính vì thế, trong
khoảng thời gian lãi suất tăng cao, số lượng các vụ tranh chấp liên quan đến việc
khách hàng không trả nợ gia tăng nhanh chóng, và một trong những vấn đề thường
bị kháng cáo, kháng nghị lên cơ quan phúc thẩm là cơ chế áp dụng lãi suất nợ quá
hạn và tính nợ quá hạn.
Từ đó cho thấy, trong cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008 – 2009, song song
với việc NHNN sử dụng lãi suất như một công cụ hữu hiệu để ngăn chặn lạm phát
tăng cao, thì cũng có nhiều tranh chấp phát sinh. Hầu hết người chịu thiệt thòi trong
những tranh chấp đó là cá nhân, tổ chức vay vốn. Có một thời gian tâm lí bất bình
đã xảy ra với chủ thể đi vay mà kí kết HĐTD trước thời điểm lãi suất cơ bản tăng
cao. Niềm tin vào hệ thống ngân hàng có phần giảm sút, không ít người dân tỏ rõ
thái độ gay gắt với cách hành xử của một số TCTD. Tuy nhiên, cũng cần phải nhìn
nhận vấn đề từ phía các TCTD, cuộc khủng hoảng kinh tế đã có tác động tiêu cực
đến hoạt động kinh doanh của không chỉ cá nhân, tổ chức mà bản thân các TCTD
cũng gặp khó khăn trong việc duy trì lợi nhuận năm sau cao hơn năm trước. Để có
nguồn vốn kinh doanh, các TCTD buộc đẩy mạnh lãi suất tiền gửi nhằm thu hút
khách hàng, trong khi việc giải quyết đầu ra cho nguồn vốn này cũng không đơn
giản. Nếu duy trì lãi suất cho vay cố định với những HĐTD trước đó, bài toán lợi
• Số tiền vay 250.000.000 đồng.
• Thời hạn vay là 12 tháng từ ngày 27/11/2007 đến 27/11/2008.
• Lãi suất vay được tính từ ngày 27/11/2007 đến 04/7/2008 là 1,05%/tháng,
từ ngày 04/7/2008 trở đi là 1,75%/tháng. Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi
suất cho vay.
• Ngày 28/12/2008, bà H. kí cam kết sẽ trả đủ số tiền vốn vay 250.000.000
đồng và tiền lãi cho ngân hàng sau 3 tháng kể từ ngày đến hạn trả nợ.
Bản án sơ thẩm số 06/2009/KDTM-ST ngày 28/9/2009 căn cứ vào Khoản 1
Điều 476 BLDS 2005 và Quyết định số 16/2008/QĐ-NHNN ngày 16/5/2008 và
7
Quyết định số 2538/QĐ-NHNN ngày 31/10/2007 về lãi suất cơ bản là 8,25%/năm,
lãi suất cho vay không vượt quá 150% lãi suất cơ bản, vậy lãi suất cho vay tối đa là
12,375%/năm (bằng 1,03%/tháng). Ngân hàng thỏa thuận cho phía bị đơn vay mức
lãi suất là 1,05%/tháng là cao hơn mức trần lãi suất cho vay. Do đó, tòa điều chỉnh
tính lãi trong hạn từ ngày 27/11/2007 đến 04/7/2008 là: 250.000.000 x 7 tháng 7
ngày x 1,03%/tháng = 18.625.833 đồng.
Song, vấn đề đặt ra là từ tháng 6/2002 đến ngày 19/5/2008 NHNN áp dụng cơ
chế lãi suất thỏa thuận, từ ngày 19/5/2008 trở về sau mới áp dụng mức trần lãi suất
bằng 150% lãi suất cơ bản; vụ việc ở trên HĐTD kí ngày 26/11/2007 là trước ngày
19/5/2008, thỏa thuận lãi suất 1,05%/tháng kéo dài đến ngày 04/7/2008. Như vậy,
trong khoảng thời gian từ ngày 19/5/2008 đến 04/7/2008 lãi suất cho vay mới cao
hơn 150% lãi suất cơ bản là 1,03%/tháng, nhưng tòa sơ thẩm lại xử tính lãi suất cho
vay trong hạn là 1,03%/tháng cho cả thời gian trước ngày 19/5/2008, bên nguyên
đơn không kháng cáo phần này nên tòa phúc thẩm không xem xét đến. Có thể thấy
rằng đây là một sai sót của TAND tỉnh Sóc Trăng khi áp dụng hồi tố quy định hiện
hành tại thời điểm xét xử cho cả thỏa thuận trước đó vốn được điều chỉnh bằng quy
định khác của pháp luật và hoàn toàn hợp pháp.
Tương tự, TAND tỉnh Sóc Trăng giải quyết tranh chấp HĐTD giữa nguyên
đơn cũng là VietBank và bà Trần Thị Hoàng A. và ông Võ Minh T. (Phụ lục 2).
• HĐTD số 739/NHVNTT ngày 14/12/2007 và hợp đồng sửa đổi, bổ sung số
toàn bộ dư nợ tối thiểu cho ngân hàng trước ngày đến hạn. Sau khi được cấp thẻ tín
dụng hạn mức 15.000.000 đồng, ông H. đã rút gần 14.500.000 đồng để tiêu xài.
Tháng 4/2008, ông H. thanh toán được khoảng 1.500.000 đồng cho ngân hàng.
Tháng 7/2009, ngân hàng khởi kiện, và hai bên thỏa thuận ông H. trả góp mỗi tháng
2.000.000 đồng cho đến khi hết nợ. Tại tòa, đại diện ngân hàng xác định số tiền nợ
cả gốc lẫn lãi của ông H. tính đến ngày xét xử là gần 40.000.000 đồng. Trong
trường hợp hai bên hòa giải được, ngân hàng sẽ giảm cho ông H. hơn 8.500.000
đồng tiền phí vượt hạn mức và một phần phí thanh toán trả chậm. Số nợ còn lại ông
H. phải thanh toán làm ba lần trong vòng hai tháng kể từ ngày hòa giải thành.
Ngược lại, ông H. không đồng ý hòa giải bởi cho rằng ngân hàng tính lãi quá cao và
đề nghị tòa xem xét.
Tòa sơ thẩm cho rằng ngân hàng tính lãi không đúng như thỏa thuận trong
HĐTD. Cụ thể, theo hợp đồng, tiền lãi được tính trên số tiền khách hàng rút kể từ
ngày rút tiền nhưng thực tế ngân hàng lại tính lãi theo từng tháng trên số dư cuối kì
của tháng trước (gồm nợ gốc, lãi tháng trước và các khoản phí phải trả của tháng
trước). Đây là cách tính lãi cộng dồn nên từ số nợ gốc ban đầu chỉ hơn 14.000.000
đồng, sau 22 tháng, số nợ cả gốc lẫn lãi đã lên gần đến 40.000.000 đồng. Như vậy,
lãi suất áp dụng theo cách tính này là khoảng 8%/tháng, cao hơn rất nhiều so với
quy định pháp luật về cách tính lãi suất theo thỏa thuận giữa TCTD đối với khách
hàng (thời điểm một số NHTM áp dụng lãi suất cao nhất sau khi tính cả các chi phí
5 Hoàng Yến (2009), Tính lãi suất “trên trời”, Báo Pháp luật TPHCM, xem thêm tại
/2009122711504885p1063c1016/tinh-lai-suat-tren-troi.htm
9
là 23 – 24%/năm như đã trình bày ở phần 2.1.1.2). Bên cạnh đó, theo hợp đồng thì
sau 90 ngày kể từ ngày lập bản thông báo giao dịch, nếu chủ thẻ không thanh toán,
thanh toán không đủ số tiền tối thiểu thì toàn bộ số dư nợ của chủ thẻ là nợ quá hạn
và áp dụng lãi suất nợ quá hạn theo quy định của ngân hàng. Tính từ cuối tháng
5/2009 là đã quá 90 ngày ông H. không thanh toán đủ số tiền tối thiểu nên ngân
hàng phải có trách nhiệm chuyển toàn bộ số dư nợ sang nợ quá hạn, nhưng ngân
hàng vẫn tiếp tục tính lãi suất theo cách cộng dồn lãi, phí vào nợ gốc. Tòa xác định
ngày 03/6/2007, căn cứ theo Quyết định số 1143/QĐ-NHNN ngày 29/5/2007 thì
vào thời điểm vi phạm hợp đồng mức lãi suất cho vay không được vượt quá
1,03%/tháng. Xét thời điểm thỏa thuận của hợp đồng mức lãi suất 0,85%/tháng, sau
đó điều chỉnh là 1,1%/tháng, nhưng tính bình quân mức lãi suất bị đơn đã trả cho
nguyên đơn không vượt quá 150% lãi suất cơ bản do NHNN công bố nên không
chấp nhận yêu cầu của bị đơn. Căn cứ vào Khoản 5 Điều 474 và Khoản 1 Điều 476
BLDS 2005, tòa xác định mức lãi suất là 1,03%/tháng.
Từ tranh chấp trên có thể thấy rằng khi giải quyết vụ việc này, tòa sơ thẩm
không xem xét thỏa thuận lãi suất trên từng thời điểm so với quy định của pháp luật
mà lại chia bình quân lãi suất trong toàn thời gian thực hiện để xác định tính hợp
pháp của thỏa thuận lãi suất. Với cách xác định bằng lãi suất bình quân như vậy,
phía bị đơn phải chịu thiệt. Rõ ràng đây là một cách xác định lãi suất không đúng
với quy định của pháp luật.
Tóm lại, tranh chấp về lãi suất trong hạn và cách tính lãi trong hạn tập trung ở
ba vấn đề:
Một là, cơ quan xét xử không nhất quán khi vừa áp dụng trần lãi suất cho vay
bằng 150% lãi suất cơ bản cho cả giai đoạn được phép thỏa thuận lãi suất trước
ngày 19/5/2008; vừa không áp dụng mức trần với thỏa thuận lãi suất trong giai đoạn
từ 19/5/2008 về sau.
Hai là, tranh chấp lãi suất do TCTD tính lãi cộng dồn gây thiệt hại cho khách
hàng.
Ba là, cơ quan xét xử chia bình quân lãi suất trong thời gian vay để xác định
tính hợp pháp của thỏa thuận lãi suất trong từng giai đoạn tương ứng với từng cơ
chế điều hành lãi suất của NHNN.
Từ các vấn đề này, tác giả sẽ đề xuất những giải pháp nhằm hạn chế và khắc
phục ở phần 2.2.
1.1.3 Lãi suất nợ quá hạn và cách tính lãi đối với khoản nợ quá hạn
Lãi suất nợ (gốc) quá hạn là một trong những nội dung thường xảy ra tranh
chấp nhiều nhất trong hoạt động tín dụng. Trên thực tế việc áp dụng cách tính lãi
suất nợ quá hạn còn nhiều vấn đề chưa được rõ ràng. Như đã trình bày ở phần
146.533.546 đồng.
• Hợp đồng thứ hai PHT.CN.01171107 ngày 19/11/2007 và HĐTD trung, dài
hạn số 32276929 ngày 20/11/2007, tổng số tiền 633.326.000 đồng nợ vốn
và 34.075.314 đồng nợ lãi.
Bản án sơ thẩm số 61/2009/HNST ngày 31/12/2009 của TAND quận 10
(TPHCM) tuyên tiền lãi của ACB sẽ được tính tiếp tục kể từ ngày 01/01/2010 với
mức lãi suất cơ bản theo quy định của NHNN trên tổng số dư nợ gốc thực tế cho
đến khi trả hết nợ gốc căn cứ vào BLDS 2005. Sau đó ACB kháng cáo cho rằng ông
12