10/2013
Gvhd: Th.s Lê Thị Ngân Hà
Mssv: 1055050253
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP.HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT QUỐC TẾ
Thực trạng tranh chấp lãi suất
Bài tiểu luận:
“Thực trạng tranh chấp lãi suất
trong hợp đồng tín dụng”
Giảng viên hướng dẫn: Th.s LÊ THỊ NGÂN HÀ
Sinh viên thực hiện
:
Lớp
:
QT13.3K35
MSSV
:
1055050253
.............................................................................................................................
1.1.1 Khái niệm....................................................................................................1
1.1.2 Đặc điểm.....................................................................................................1
1.2 Lãi suất................................................................................................................2
I.2.1 Khái niệm...................................................................................................2
1.2.1.1 Lợi tức tín dụng.................................................................................2
1.2.1.2 Lãi suất tín dụng ...............................................................................2
1.2.2 Phân loại lãi suất .....................................................................................3
1.2.3 Đặc trưng của lãi suất trong hợp đồng tín dụng .....................................4
1.2.4 Vai trò của lãi suất....................................................................................5
1.2.5 Pháp luật về lãi suất và cơ chế điều chỉnh lãi suất trong lĩnh vực tín dụng
ngân hàng..................................................................................................5
1.2.5.1 Quy định về lãi suất trong hoạt động tín dụng..................................5
1.2.5.2 Quy định về lãi suất trong hợp đồng của TCTD...............................6
1.3 Tranh chấp về lãi suất trong hợp đồng tín dụng................................................8
1.3.1 Khái niệm..................................................................................................8
1.3.2 Đặc điểm về tranh chấp lãi suất cho vay...................................................8
1.3.3 Nguyên nhân của tranh chấp về lãi suất....................................................9
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VỀ TRANH CHẤP LÃI SUẤT TRONG HĐTD-GIẢI
PHÁP KHẮC PHỤC........................................................................................................10
2.1 Những vấn đề thực tiễn về tranh chấp lãi suất trong HĐTD ............................10
2.1.1 Khách hàng yêu cầu giảm lãi suất hoặc miễn lãi....................................10
2.1.2 TCTD yêu cầu nâng lãi suất cho vay.......................................................10
2.1.3 Lãi suất trong hạn và cách tính lãi trong hạn..........................................11
2.1.4 Lãi suất quá hạn và cách tín nợ quá hạn..................................................12
2.2 Giải pháp khắc phục...........................................................................................13
2.2.1 Quy định thống nhất về lãi suất cho vay của TCTD.................................13
2.2.2 Thống nhất quy định về lãi suất đối với khoản nợ quá hạn......................14
4
-
CHƯƠNG I: LÍ LUẬN CHUNG VỀ TRANH CHẤP LÃI SUẤT TRONG HỢP
ĐỒNG TÍN DỤNG
1.1
KHÁI QUÁT VỀ HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG
1.1.1 Khái niệm
Quan hệ tín dụng vay mượn giữa TCTD và các chủ thể khác trong nền kinh tế là quan
hệ kinh tế nhằm chuyển giao và sử dụng tạm thời các nguồn vốn tiền tệ nhất định giữa
TCTD và bên đi vay theo nguyên tắc hoàn trả cả vốn và lãi vay. Để tham gia một quan
hệ này, các bên phải kí với nhau một văn bản nhằm xác lập quyền và nghĩa vụ giữa các
bên. Văn bản này được gọi là hợp đồng tín dụng.
Từ khái niệm hợp đồng dân sự theo Điều 388 BLDS 2005 có thể hiểu: “HĐTD là sự
thỏa thuận bằng văn bản giữa một bên là TCTD với một bên là các tổ chức, các nhân có
đủ điều kiện do luật định nhằm xác lập các quyền và nghĩa vụ nhất định của các bên,
theo đó TCTD thỏa thuận sẽ chuyển giao một số tiền cho bên vay sử dụng trong một
thời hạn nhất định, với điều kiện hoàn trả cả gốc và lãi, dựa trên sự tín nhiệm”.
1.1.2 Đặc điểm
HĐTD mang những đặc điểm chung của hợp đồng dân sự nhưng vẫn có những nét khác
biệt:
Về hình thức HĐTD luôn phải được lập thành văn bản. Với hình thức này, các bên có
thể thực hiện hợp đồng trong sự bảo đảm an toàn pháp lí và khi có tranh chấp xảy ra,
HĐTD sẽ là căn cứ xác thực nhất để các cơ quan tài phán giải quyết tranh chấp. Thông
thường, các HĐTD là hợp đồng theo mẫu, được chủ thể cho vay là các TCTD soạn thảo
phù hợp với quy chế của TCTD, bên đi vay thường phải chấp nhận các điều khoản có
trong hợp đồng mà không thể yêu cầu sửa đổi theo hướng có lợi hơn cho mình. Bên vay
thể hiện sự tự do ý chí của mình thông qua việc đồng ý giao kết hợp đồng (nghĩa là chấp
nhận toàn bộ những điều khoản trong hợp đồng). Pháp luật cũng có cơ chế để bảo vệ
khách hàng thông qua khoản 2, 3 Điều 407 BLDS 2005: Trường hợp HĐTD có những
trong những điều khoản quan trọng nhất của HĐTD, yếu tố làm cho HĐTD có đầy đủ ý
nghĩa của nó.
1.2 LÃI SUẤT
1.2.1 Khái niệm
1.2.1.1 Lợi tức tín dụng
Lợi tức tín dụng là phần giá trị tăng thêm mà người đi vay phải trả cho người vay sau
khi đã sử dụng số tiền vay trong một thời gian nhất định hay nói cách khác lợi tức tín
dụng là thu nhập mà người cho vay nhận được ở người đi vay do việc sử dụng tiền vay
của người này. Phần lợi nhuận dành cho người cho vay này được gọi là lợi tức. Thực
chất lợi tức là giá cả của lượng hàng hoá (tức lượng tiền tệ ) cho vay. Lợi tức tín dụng
phụ thuộc vào 3 nhân tố: giá trị tín dụng, thời hạn tín dụng và lãi suất tín dụng.
1.2.1.2 Lãi suất tín dụng
Về khía cạnh kinh tế: lãi suất tín dụng là tỷ lệ phần trăm giữa tổng số lợi tức thu được
trong một thời gian với tổng số vốn bỏ ra cho vay trong cùng một thời gian đó. ta có
định nghĩa khái quát về lãi suất tín dụng như sau: Lãi suất tín dụng là tỷ lệ so sánh giữa
số lợi tức thu được với số vốn cho vay phát ra trong một thời kỳ nhất định . Lãi suất tín
dụng thực chất là giá cả của tín dụng, giá cả của quyền sử dụng vốn.
Lãi suất tín dụng tăng hay giảm bị ảnh hưởng bởi các nhân tố sau đây: cung cầu về vốn
tín dụng, chính sách tiền tệ của Chính phủ và tình hình lạm phát trong nước.
Theo Điều 2 Quy định phương pháp tính và hoạch toán thu, trả lãi của NHNNVN và
các TCTD ban hành kèm theo Quyết định số 652/2001/QĐ_NHNN của Thống đốc
NHNN: Lãi suất được hiểu là khoản tiền bên vay, huy động vốn hoặc bên thuê trả cho
-
8
bên cho vay, đầu tư chứng khoán, gửi tiền hoặc bên cho thuê về việc sử dụng vốn vay,
vốn huy động hoặc tài sản cho thuê. Lãi được tính toán căn cứ vào số vốn, thời gian sử
dụng vốn và lãi suất.
chức năng giải quyết khi có tranh chấp xảy ra:
• Lãi suất trong hạn là lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng dùng làm căn cứ để tính lãi
mà khách hàng vay phải trả cho TCTD tính trên số tiền đã vay tương ứng với thời
hạn mà các bên đã thỏa thuận.
• Lãi suất quá hạn là chi phí phát sinh khi tồn tại khoản nợ quá hạn. Tại Khoản 2 Điều
13 Quy chế cho vay của TCTD đối với khách hàng ban hành kèm theo QĐ số
1627/2001 thì “ nợ quá hạn là những khoản nợ mà khi đến thời hạn trả nợ gốc hoặc
9
-
-
-
lãi khách hàng không trả nợ đúng hạn và không được điều chỉnh hoặc gia hạn kì hạn
nợ gốc hoặc lãi” Lãi suất thường cao hơn lãi suất trong hạn do áp dụng đối với
người vay vi phạm nghĩa vụ về thời hạn trả nợ.
Ngoài ra, NHNN còn quy định lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn và lãi suất tái chiết
khấu
• Lãi suất cơ bản: là lãi suất giữ vị trí quan trọng, chi phối các loại lãi suất khác. Lãi
suất cơ bản do Ngân hàng Trung ương công bố trên cơ sở tình hình thực tế và mục
tiêu của chính sách tiền tệ. Trước kia, lãi suất cơ bản được dung làm cơ sở cho các
tổ chức tín dụng xác định lãi suất kinh doanh theo nguyên tắc không được vượt quá
150% lãi suất cơ bản. Nhưng hiện nay, Ngân hàng có thể được tùy ý thỏa thuận lãi
suất với khách hàng, lãi suất cơ bản chỉ mang ý nghĩa xác định cho vay nặng lãi.
• Lãi suất tái chiết khấu: là lãi suất được dung khi Ngân hàng Trung ương tái chiết
khấu giấy tờ có giá cho các Ngân hàng thương mại; lãi suất tái chiết khấu có tác
động rất mạnh đến lãi suất cho vay của Ngân hàng thương mại.Nếu lãi suất tái chiết
rủi ro với vốn vay ít hơn so với các khoản vay dài. Ngoài ra, mục đích sử dụng vốn
cũng là nhân tố ảnh hưởng không nhỏ đến lãi suất: nếu khoản tiền vay được sử dụng
vào mục đích đầu tư sản xuất kinh doanh thì khả năng thu hồi vốn sẽ đảm bảo nên lãi
suất đầu tư kinh doanh sẽ thấp hơn các lãi suất áp dụng cho các khoản vay khác.
1.2.4 Vai trò của lãi suất
Lãi suất có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế-xã hội nói chung và lĩnh vực tài
chính tiền tệ nói riêng. Vai trò này thể hiện qua các điểm sau đây:
Xét ở tầm vĩ mô: Lãi suất tín dụng là công cụ thực hiện chính sách tiền tệ, được sử dụng
để kiểm soát, tác động vào nền kinh tế, góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội
của đất nước: Điều chỉnh lượng cung ứng tiền, từ đó tác động đến sự tăng giảm sản
lượng để thực hiện điều tiết nền kinh tế (ổn định lạm phát, công ăn việc làm và phát
triển sản xuất). Khi nền kinh tế rơi vào suy thoái, NHNN có thể hạ lãi suất nhằm tăng
cung tiền và kích cầu để thúc đẩy kinh tế phát triển. Ngược lại, khi nền kinh tế rơi vào
lạm phát cao, NHNN sẽ nâng lãi suất lên nhằm hạn chế và rút bớt cung tiền góp phần
giảm tỉ lệ lạm phát.Tác động tới tổng cung và tổng cầu thông qua tác động tới hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp, đến tiêu dùng và tiết kiệm của dân cư. Lãi suất thấp sẽ
khuyến khích các cá nhân, tổ chứa vay vốn phát triển sản xuất, kinh doanh. Ngược lại,
lãi suất cao sẽ làm thu hẹp hoạt động đầu tư của các tổ chức này. Lãi suất cũng là công
cụ tốt để khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào các ngành nghề đang được ưu tiên
trong chiến lược phát triển kinh tế của đất nước trong thời kì đó.
Xét ở tầm vi mô: Làm công cụ điều hòa cung cầu ngoại tệ, góp phần cân bằng cán cân
thanh toán quốc tế. Lãi suất tín dụng tác động tới hoạt động sản xuất kinh doanh của
từng doanh nghiệp và đời sống của dân cư, là đòn bẩy để kích thích các đơn vị và cá
nhân sử dụng vốn một cách tiết kiệm và có hiệu quả.
1.2.5. Pháp luật về lãi suất và cơ chế điều chỉnh lãi suất trong lĩnh vực tín dụng
ngân hàng.
1.2.5.1 Quy định pháp luật về lãi suất trong hoạt động tín dụng
Lãi suất tín dụng ngân hàng được sử dụng như một công cụ chủ yếu để cạnh tranh trong
hoạt động của các ngân hàng bởi người vay vốn thường sẽ tìm đến những nơi nào có
mức lãi suất cho vay thấp.
vượt quá 50% của mức lãi suất cao nhất do NHNN quy định đối với loại cho vay tương
ứng”. “mức lãi suất cao nhất” ở đây là lãi suất trần do NHNN quy định.
BLDS 2005 đã nâng giá trị tỷ lệ xác định mức tối đa của lãi suất thỏa thuận từ 50% lên
150%, đồng thời cũng có sự thay đổi về đối tượng so sánh từ lãi suất trần sang lãi suất
cơ bản nhằm duy trì tính ưu việt của cơ chế thỏa thuận lãi suất giữa các bên nhưng nâng
tỷ lệ giới hạn thỏa thuận cao hơn.
Theo quy định của tín dụng ngân hàng:
• Về lãi suất huy động: Điều 7 Luật TCTD 2010 quy định: “các tổ chức tín dụng có
quyền tự chủ kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh của mình”.
Theo đó, các TCTD có quyền tự chủ trong hoạt động tín dụng nói chung và trong vấn
đề về lãi suất nói riêng. Lãi suất huy động sẽ được ấn định trên cơ sở tham khảo lãi
suất cơ bản của NHNN. Tuy nhiên theo Khoản 1 Điều 1 Quyết định 16/2008 quy
định:”Các TCTD ấn định lãi suất kinh doanh bằng đồng VN đối với khách hàng
không vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do NHNNVN công bố để áp dụng trong
từng thời kì. Theo quy định vào năm 2008, lãi suất huy động bị khống chế làm cho
nguồn vốn huy động của các TCTD cũng hạn chế, ngân hàng không còn khả năng
cho vay hoặc việc giải ngân cũng được cân nhắc. Do vậy, lãi suất huy động cần được
điều chỉnh theo hướng tự do lãi suất, cụ thể tại Khoản 1Điều 91 Luật
TCTD2010:”TCTD được quyền ấn định và phải niêm yết công khai mức phí cung
ứng dịch vụ, lãi suất huy động vốn trong HĐ kinh doanh của TCTD “. Quy định này
12
đã phát huy tính tự chủ của TCTD, lãi suất huy động vốn kinh doanh sẽ có diễn biến
theo cung cầu thị trường, phù hợp với chiến lược kinh doanh.
• Về lãi suất trong cấp tín dụng: Quy chế cho vay của TCTD đối với khách hàng quy
định tại Khoản 1 Điều 11 (Ban hành theo QĐ 1627/2001): “Mức lãi suất cho vay do
TCTD và khách hàng thỏa thuận phù hợp với quy định của NHNNVN”. Quy định
này tạo điều kiện thỏa mãn được nhu cầu cần thiết mà vẫn tôn trọng sự tự do của các
bên trong HĐTD.
cuộc cạnh tranh lãi suất không lành mành trong hệ thống ngân hàng nhằm lôi kéo khách
hàng của nhau, làm biến dạng lãi suất huy động trên thị trường.
1.3 TRANH CHẤP VỀ LÃI SUẤT TRONG HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG
1.3.1 Khái niệm
Tranh chấp hợp đồng tín dụng là biểu hiện sự mâu thuẫn về quyền và nghĩa vụ hoặc lợi
ích phát sinh từ hợp đồng tín dụng của bên cho vay là các TCTD và khách hàng vay
trong qua trình thực hiện hợp đồng tín dụng. Một HĐTD chỉ được coi là có tranh chấp
khi sự xung đột về quyền lợi giữa các bên đã được thể hiện ra bên ngoài thông qua
những bằng chứng cụ thể và xác định được. Vì thế không phải cứ khi nào vi phạm hợp
đồng thì có tranh chấp mà đôi khi vi phạm hợp đồng diễn ra trước và tranh chấp hợp
đồng sẽ diễn ra sau đó hay có khi có sự vi phạm HĐTD nhưng không có tranh chấp xảy
ra bởi các bên không bày tỏ ra bên ngoài sự xung đột lợi ích giữa họ bằng các hành vi
phản kháng cụ thể có giá trị chứng cứ.
1.3.2 Đặc điểm của tranh chấp về lãi suất cho vay
Tranh chấp về lãi suất có những đặc điểm chung của tranh chấp phát sinh trong hoạt
động tín dụng:
Thứ nhất, tranh chấp phát sinh từ HĐTD thường có giá trị lớn
Thứ hai, tranh chấp thường được giải quyết theo phương thức thương lượng, hòa giải
giữa các bên tranh chấp hơn là giải quyết bằng con đường tòa án. Hai bên phải trực tiếp
hoặc cử đại diện tham gia trong khi hoạt động sản xuất, kinh doanh thì không thể dừng
lại và khả năng thắng kiện cũng không phải là tuyệt đối. Do đó, phương thức thương
lượng, hòa giải vẫn được lựa chọn nhiều hơn vì các bên có thể chủ động trong việc giải
quyết và tiết kiệm chi phí.
Thứ ba, phần lớn các tranh chấp thường có nguyên đơn là chủ thể cho vay và bị đơn là
bên đi vay. Trong quan hệ tín dụng, trách nhiệm về vốn của bên cho vay đến khi giải
ngân xong là rất ít, ngược lại, trách nhiệm của bên đi vay thực sự phát sinh sau khi nhận
tiền giải ngân. Tình trạng bên vay không trả nợ gốc và lãi đúng hạn là điều rất dễ xảy ra,
trong trường hợp này tranh chấp phát sinh với TCTD là chủ thể bị xâm phạm lợi ích
cần phải giải quyết là xác định mức lãi suất cho vay.
Thứ tư, tranh chấp lãi suất nợ quá hạn và cách tính lãi đối với khoản nợ quá hạn. Pháp
luật hiện hành có hai quy định cùng điều chỉnh về cách tính lãi suất nợ quá hạn trong
HĐTD. Hai cách tính này không thống nhất với nhau khiến các bên dễ nảy sinh xung
đột về quyền lợi, đồng thời cũng khiến tòa án gặp khó khăn khi giải quyết.
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ TRANH CHẤP LÃI SUẤT TRONG HĐTDGIẢI PHÁP KHĂC PHỤC
2.1 NHỮNG VẤN ĐỀ THỰC TIỄN VỀ TRANH CHẤP LÃI SUẤT TRONG
HĐTD
Số lượng các vụ việc tranh chấp lãi suất được Tòa án thụ lý chiếm con số lớn trong các
tranh chấp liên quan đến HĐTD của TCTD. Nhìn chung, các dạng tranh chấp về lãi suất
chủ yếu xảy ra trong quá trình thực hiện hợp đồng là: phía khách hàng vay vi phạm
nghĩa vụ trả nợ, khách hàng không thực hiện thanh toán và các TCTD khởi kiện ra Tòa
án yêu cầu khách hàng phải thực hiện nghĩa vụ; TCTD hoặc người đi vay yêu cầu điều
chỉnh lãi suất khi HĐTD quy định lãi suất cố định và thời hạn vay vẫn còn; tranh chấp
15
về mức lãi suất trong hợp đồng và cách tính lãi trong hạn, tranh chấp về nợ quá hạn và
cách tính lãi đối với khoản nợ quá hạn, tranh chấp về mức lãi suất cho vay tối đa.
2.1.1 Khách hàng yêu cầu giảm lãi suất hoặc miễn lãi
Trong quá trình thực hiện HĐTD, có nhiều trường hợp do một số lý do khách quan như
tai nạn hoặc thị trường biến động dẫn đến hoạt động kinh doanh bị ảnh hưởng nên KH
vay vốn không có khả năng trả nợ cho TCTD. Trong trường hợp này, thông thường KH
làm đơn xin giảm hoặc miễn một phần lãi suất, TCTD có thể sẽ chấp nhận kèm theo yêu
cầu. Cũng có trường hợp phía đi vay không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đúng hạn, khi
TCTD yêu cầu nhiều lần vẫn không thanh toán, TCTD khởi kiện ra tòa và trong quá
trình hòa giải hai bên có thỏa thuận nếu khách hàng thanh toán ngay khoản nợ gốc thì
TCTD sẽ giảm lãi suất đồng nghĩa với việc giảm một phần tiền lãi mà khách hàng phải
trả hoặc miễn một phần lãi.
ngày hợp đồng có hiệu lực.
Ngân hàng đã làm thủ tục xuất tiền cho ông Kham (còn gọi là giải ngân) làm hai đợt với
tổng số tiền hơn 150 triệu đồng. Đến 12-6, khi ông Kham đề nghị giải ngân hơn 200 triệu
đồng còn lại thì ngân hàng lại cho biết mức lãi suất mới là 1,75%. Ông Kham thắc mắc
thì được trả lời: “Mặt bằng lãi suất huy động tăng cao, lãi suất cho vay bình quân đang áp
dụng là 1,75%/tháng. Nếu cần giải ngân gấp thì khách hàng phải chịu mức này”.
Ngày 18-6, để kịp đóng học phí cho con, ông Kham đành chấp nhận điều kiện trên của
ngân hàng. Tính ra, ngoài việc phải chịu mức lãi suất cao hơn so với hợp đồng, ông
Kham còn bị thiệt hơn 15 triệu đồng do tỷ giá VND/USD tăng so với ngày 12-6. Luật sư
Nguyễn Văn Hậu (Đoàn luật sư TP.HCM) nhận xét: Việc ngân hàng đơn phương nâng
mức lãi suất có thể được xem là vi phạm hợp đồng. Lý do “chưa thu xếp được nguồn vốn
giá thấp” chỉ là cái cớ thoái thác. Khoản tiền hơn 200 triệu đồng trong lần giải ngân cuối
cùng là một phần giá trị của hợp đồng tín dụng đã ký, không thể tách rời nên lẽ ra ngân
hàng cần áp dụng mức lãi suất như đã cam kết”. Tuy nhiên, do ông Kham đã ký vào khế
ước nhận nợ, thể hiện sự đồng ý về lãi suất mới nên bây giờ không có cơ sở để khởi kiện.
2.1.3
Lãi suất trong hạn và cách tính lãi trong hạn
Mỗi lần NHNN thay đổi chính sách lãi suất cho vay, những HĐTD đang có hiệu lực
cũng chịu ảnh hưởng không nhỏ, nhất là khi có tranh chấp xảy ra. Bản án sơ thẩm số
06/2009/KDTM-ST ngày 28/9/2009 xử lý vụ kiện giữa NHTMCP Việt Nam Thương
Tín và bà Phan Ngọc H với số tiền vay là 250 triệu đồng, thời hạn cho vay là 12 tháng
từ ngày 27/11/2007 đến 27/11/2008. Lãi suất vay được tính từ ngày 27/11/2007 đến
04/7/2008 là 1,05%/tháng, từ ngày 04/7/2008 trở đi là 1,75%/tháng. Lãi suất quá hạn
bằng 150% lãi suất cho vay.
Từ tháng 6/2002 đến ngày 19/5/2008 NHNN áp dụng cơ chế lãi suất thỏa thuận, từ ngày
19/5/2008 trở về sau mới áp dụng mức trần lãi suất bằng 150% lãi suất cơ bản; vụ việc
ở trên HĐTD kí ngày 26/11/2007 là trước ngày 19/5/2008, thỏa thuận lãi suất
1,05%/tháng kéo dài đến ngày 04/7/2008. Như vậy, trong khoảng thời gian từ ngày
19/5/2008 đến 04/7/2008 lãi suất cho vay mới cao hơn 150% lãi suất cơ bản là
1,03%/tháng, nhưng tòa sơ thẩm lại xử tính lãi suất cho vay trong hạn là 1,03%/tháng
hàng chậm trả cả gốc và lãi, TCTD sẽ thực hiện tính lãi chậm trả cho cả hai khoản nợ
gốc và lãi. Số tiền lãi chậm trả bao gồm tiền lãi chậm trả gốc cộng với tiền lãi chậm trả
nợ lãi. Khi giải quyết tranh chấp trong HĐTD, Tòa án sẽ buộc bên vay phải hoàn trả cho
TCTD nợ gốc và lãi trong hạn cộng với nợ lãi quá hạn kể từ ngày khoản nợ đó bị
chuyển sang nợ quá hạn cho đến khi bản án được thi hành xong.
Điều 4 Quyết định số 127/2005/QĐ-NHNN về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy
chế cho vay ban hành kèm theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN. Theo đó, thời
điểm chuyển nợ quá hạn được xác định như sau: “Đối với khoản nợ vay không trả đúng
hạn, được TCTD đánh giá là không có khả năng trả nợ đúng hạn và không chấp thuận
cho cơ cấu lại thời hạn trả nợ thì số dư nợ gốc của HĐTD đó là nợ quá hạn và TCTD
thực hiện các biện pháp để thu hồi nợ, việc phạt chậm trả đối với nợ quá hạn và nợ lãi
vốn vay do hai bên thoả thuận trên cơ sở quy định của pháp luật.” Với quy định như vậy
về nợ quá hạn, hiện nay có hai căn cứ pháp lí để tính lãi suất nợ quá hạn. Cách thứ nhất
18
sẽ áp dụng theo quy định tại Khoản 5 Điều 474 BLDS 2005 thì lãi suất nợ quá hạn được
tính không vượt quá 150% lãi suất cơ bản. Còn cách thứ hai là căn cứ vào Khoản 2 Điều
11 QĐ1627/2001 lãi suất quá hạn không vượt quá 150% lãi suất trong hạn. Khi áp dụng
quy định về lãi suất nợ quá hạn của BLDS, người bị thiệt hại sẽ là TCTD vì lãi suất cho
vay trong hạn luôn cao hơn so với lãi suất cư bản của NHNN quy định.
Bên cạnh đó, tranh chấp còn có thể phát sinh từ sự bất đồng quan điểm giữa hai bên
đương sự về thời điểm bắt đầu tính lãi quá hạn. Điển hình cho vấn đề này là vụ án giữa
VietinBank và công ty TNHH thương mại Đại Hỷ. Công ty này kháng rằng trong số tiền
lãi 633.268.927 đồng mà công ty đã trả đến tháng 6/2007 ngân hàng có tính lãi suất quá
hạn không đúng. Theo HĐTD kí ngày 02/4/2004 thời hạn vay là 60 tháng (04/02/2004
đến 04/02/2009) do đó phải tính lãi trong hạn đối với số dư nợ từ tháng 02/2004 đến
02/2009, nhưng từ tháng 02/2004 đến tháng 6/2007, ngân hàng đã tính nhiều khoản lãi
theo lãi suất quá hạn. Tòa phúc thẩm TANDTC tại TPHCM xét xử phúc thẩm.
VietinBank cho rằng tất cả các khoản tính lãi nguyên đơn đã tính theo chính xác cam kết
11 QĐ1627/2001 lãi suất quá hạn không vượt quá 150% lãi suất trong hạn.
Hiện nay các TCTD và người đi vay được phép thỏa thuận lãi suất cho vay, tình trạng lãi
suất trong hạn cao hơn 150% lãi suất cơ bản rất dễ xảy ra. Nếu sử dụng mức trần 150%
lãi suất cơ bản theo BLDS 2005 để xác định lãi suất quá hạn thì sẽ xảy ra trường hợp lãi
suất quá hạn thấp hơn lãi suất trong hạn. Đây là một điều hoàn toàn bất hợp lí vì xuất
phát từ ý nghĩa là một cách chế tài đối với việc chậm thực hiện nghĩa vụ trả nợ của khách
hàng vay vốn nên lãi suất đối với khoản nợ quá hạn phải luôn cao hơn lãi suất trong hạn.
Đối với các HĐTD kí kết và thực hiện trước khi NHNN áp dụng cơ chế lãi suất cho vay
thỏa thuận, cơ sở pháp lí mà đa số các tòa án áp dụng để xác định lãi suất nợ quá hạn là
Khoản 1 Điều 476 BLDS 2005 trên thực tế các TCTD là người bị thiệt thòi. Với những
HĐTD kí kết và thực hiện sau khi NHNN áp dụng cơ chế lãi suất thỏa thuận lại có thể
xảy ra tình huống lãi suất trong hạn vượt quá 150% lãi suất cơ bản như đã phân tích ở
trên thì việc áp dụng BLDS 2005 lại trở nên không phù hợp. Do đó nên quy định rõ lãi
suất đối với khoản nợ quá hạn không vượt quá 150% lãi suất trong hạn trong HĐTD.
2.2.3 Quy định thống nhất về chế tài phạt chậm trả
BLDS 2005 và Luật thương mại 2005 đưa ra hai cơ sở để làm căn cứ tính tiền phạt chậm
trả khác nhau. Tại Khoản 2 Điều 305 BLDS quy định: “Trong trường hợp bên có nghĩa
vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất cơ bản do
Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán,
trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.”
Trong khi đó Điều 306 Luật thương mại 2005 lại quy định: “Trường hợp bên vi phạm
hợp đồng chậm thanh toán tiền hàng hay chậm thanh toán thù lao dịch vụ và các chi phí
hợp lí khác thì bên bị vi phạm hợp đồng có quyền yêu cầu trả tiền lãi trên số tiền chậm
trả đó theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương
ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định
khác.”
Chỉ nên quy định một cách phạt chậm trả dựa trên cơ sở lãi suất cơ bản của NHNN công
bố, bởi lẽ nếu căn cứ vào lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường như quy định của
Luật thương mại 2005 thì các bên lại phải trải qua giai đoạn xác định lãi suất nợ quá hạn
trung bình, sẽ tốn thời gian, cơ quan tài phán cũng gặp khó khăn hơn khi giải quyết vụ
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
A.
1.
2.
3.
4.
Văn bản quy phạm pháp luật
Bộ luật Dân sự 2005
Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ngày 16/6/2010
Luật Các tổ chức tín dụng ngày 16/6/2010
Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc NHNN về
việc ban hành Quy chế cho vay của TCTD đối với khách hàng
5. Quyết định số 546/2002/QĐ-NHNN ngày 30/5/2002 của Thống đốc NHNN về
việc thực hiện cơ chế lãi suất thoả thuận trong hoạt động tín dụng thương mại
bằng Đồng Việt Nam của TCTD đối với khách hàng
6. Quyết định số 16/2008/QĐ-NHNN ngày 16/5/2008 của Thống đốc NHNN về cơ
chế điều hành lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam
7. Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 của NHNN hướng dẫn TCTD
cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận
B. Sách tham khảo, công trình khoa học, các trang web tham khảo
1. PGS.TS. Nguyễn Đăng Dờn (2010), Quản trị ngân hàng thương mại hiện đại,
NXB Phương Đông.
2. PGS.TS. Nguyễn Đăng Dờn (2010), Tiền tệ Ngân hàng, NXB Đại học Quốc gia
TP.Hồ Chí Minh.
3. />4. Khi ngân hàng ép buộc người vay điều chỉnh lãi suất (2008), Báo điện tử Đài
Tiếng nói Việt Nam, xem thêm tại />5. />6. />7. />
thanh-toan.html