LÍ LUẬN CHUNG VỀ TRANH CHẤP LÃI SUẤT TRONG HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG - Pdf 75

LÍ LUẬN CHUNG VỀ TRANH CHẤP LÃI SUẤT TRONG HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG
Trước khi tìm hiểu về thực trạng các tranh chấp lãi suất phát sinh từ HĐTD,
chương này sẽ trình bày lí luận chung về tranh chấp lãi suất trong HĐTD. Theo đó,
HĐTD giữa các TCTD và người đi vay sẽ được trình bày trong phần 1.1 một cách rất
khái quát. Phần 1.2 là những nội dung cơ bản của lãi suất. Phần 1.3 trình bày sơ lược về
cơ chế điều hành lãi suất của NHNN. Tranh chấp về lãi suất cho vay trong HĐTD được
trình bày ở phần 1.4. Những lí luận cơ bản này sẽ là nền tảng để tìm hiểu về thực trạng
tranh chấp lãi suất trong HĐTD và đề xuất những giải pháp khắc phục ở chương 2.
1.1 Khái quát về hợp đồng tín dụng
1.1.1 Khái niệm
HĐTD theo Điều 51 Luật Các tổ chức tín dụng 1997 (sửa đổi, bổ sung năm 2004)
được quy định như sau: Việc cho vay phải được lập thành HĐTD. HĐTD phải có nội
dung về điều kiện vay, mục đích sử dụng tiền vay, hình thức vay, số tiền vay, lãi suất,
thời hạn vay, hình thức bảo đảm, giá trị tài sản bảo đảm, phương thức trả nợ và những
cam kết khác được các bên thỏa thuận.
Như vậy pháp luật chuyên ngành chỉ đưa ra quy định về những nội dung cơ bản
HĐTD phải có mà không đưa ra định nghĩa cụ thể về HĐTD. Quan hệ tín dụng bản
chất là một quan hệ dân sự nên HĐTD cũng là một dạng cụ thể của hợp đồng dân sự.
Từ khái niệm hợp đồng dân sự được quy định theo Điều 388 BLDS 2005, hợp đồng
dân sự là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền,
nghĩa vụ dân sự, có thể hiểu“HĐTD là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa TCTD (bên
cho vay) với tổ chức, cá nhân có đủ những điều kiện luật định (bên vay), theo đó TCTD
chuyển giao một số tiền tệ cho bên vay sử dụng trong một thời hạn nhất định, với điều
kiện có hoàn trả cả gốc và lãi.”
1
Theo cách hiểu hiện nay, khi nói đến HĐTD nghĩa là nói đến HĐTD ngân hàng,
do đó trong khóa luận này để có sự thống nhất, khóa luận chỉ sử dụng thuật ngữ HĐTD.
Trong phạm vi nghiên cứu của công trình này, HĐTD được đề cập từ đây về sau là
HĐTD giữa TCTD và khách hàng vay vốn.
1.1.2 Đặc điểm
HĐTD mang những đặc điểm chung của hợp đồng dân sự song vụ nhưng vẫn có

TCTD và chủ để đi vay mà đối tượng là tài sản thì đây là quan hệ cho thuê tài chính
2
,
thông qua hợp đồng thuê mua tài chính chứ không phải là hoạt động cho vay. Về
nguyên tắc đối tượng của HĐTD bao giờ cũng là một số tiền xác định, được các bên
thỏa thuận và ghi rõ trong hợp đồng.
2 Xem Khoản 2 Điều 61 Luật Các tổ chức tín dụng 1997 (sửa đổi, bổ sung năm 2004) và Điều 1, Khoản
1 Điều 17 Nghị định số 16/2001/NĐ-CP ngày 02/5/2001 về tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính.
* Thứ ba, bên cho vay trong HĐTD luôn là TCTD. Theo quy định của pháp luật
hiện hành, TCTD bao gồm ngân hàng và TCTD phi ngân hàng. Bên cho vay có thể là
một hoặc nhiều TCTD (trường hợp cho vay hợp vốn) thỏa mãn điều kiện luật định
(được thành lập và hoạt động theo Luật Các tổ chức tín dụng và các văn bản liên quang;
có chức năng hoạt động, kinh doanh tín dụng)
* Thứ tư, HĐTD phải được tuân thủ chặt chẽ về các nội dung bắt buộc, năng lực
chủ thể của các bên tham gia quan hệ tín dụng, mục đích sử dụng vốn vay, giới hạn vốn
vay. TCTD không được cho vay vốn nhằm đáp ứng các nhu cầu bị cấm theo quy định
của pháp luật, không được cho vay đối với các trường hợp bị cấm, bị hạn chế
3
.
Với vai trò đảm bảo quyền và nghĩa vụ cho các bên tham gia vào quan hệ tín
dụng, HĐTD trở nên rất quan trọng. Đặc biệt các bên phải chú ý đến nội dung của hợp
đồng, hợp đồng với những điều khoản chặt chẽ sẽ ràng buộc các bên thực hiện đúng
trách nhiệm của mình, từ đó cũng góp phần giảm bớt các tranh chấp phát sinh và thúc
đẩy sự phát triển trong hoạt động kinh doanh của cả TCTD và chủ thể đi vay. Một trong
những điều khoản không thể thiếu của HĐTD là lãi suất cho vay. Khi các bên có sự
đồng thuận ý chí và nghiêm túc thực hiện nghĩa vụ về lãi và lãi suất thì HĐTD mới có
đầy đủ ý nghĩa.
1.2 Lãi suất
1.2.1 Khái niệm
Được đề cập trong nhiều tài liệu với những khía cạnh khác nhau, nhưng nhìn

O
x
(i) x (n). Trong đó SI là lãi đơn, P
O
là số tiền gốc, i là lãi suất kì hạn và n là số kì hạn
tính lãi.
Bênh cạnh lãi đơn còn có cách tính lãi kép (là số tiền lãi không chỉ tính trên số
tiền gốc mà còn tính trên số tiền lãi do số tiền gốc sinh ra) nhưng cách tính này không
được pháp luật cho phép áp dụng trong hoạt động ngân hàng.
Từ đó cho thấy “lãi” và “lãi suất” là hai khái niệm khác nhau. Việc phân biệt và sử
dụng đúng đắn hai thuật ngữ này có ý nghĩa quan trọng trong quá trình nghiên cứu và
áp dụng quy định pháp luật.
1.2.2 Phân loại lãi suất
Lãi suất được chia thành nhiều loại dựa trên những tiêu chí khác nhau:
• Căn cứ vào giá trị thực của lãi suất: lãi suất danh nghĩa, lãi suất thực.
• Căn cứ vào phương thức đo lường: lãi suất đơn, lãi suất kép, lãi suất hiệu quả
và lãi suất hoàn vốn.
Dưới góc độ luật học, lãi suất ngân hàng được tập trung nghiên cứu ở các nội
dung sau:
• Căn cứ vào loại hình tín dụng, lãi suất bao gồm lãi suất huy động và lãi suất
cho vay.
• Căn cứ vào thời hạn áp dụng, lãi suất bao gồm lãi suất trong hạn và lãi suất quá
hạn.
6 Bộ Tư pháp, Viện Khoa học pháp lí (2006), Từ điển Luật học, NXB Từ điển Bách Khoa và NXB Tư
pháp, Hà Nội, tr.452-453
• Căn cứ vào độ ổn định của lãi suất, lãi suất bao gồm lãi suất cố định và lãi suất
thả nổi.
1.2.2.1 Căn cứ vào loại hình tín dụng
Lãi suất huy động là lãi suất mà các TCTD đưa ra khi huy động tiền gửi và quy
định tỉ lệ phải trả cho các hình thức nhận tiền gửi của khách hàng.

8 Kì hạn vay càng dài thì rủi ro càng cao và thanh khoản khó khăn hơn, do vậy các ngân hàng luôn có xu
hướng nâng lãi suất lên để bù đắp những khó khăn có thể xảy ra, trong đó có cả việc bảo hiểm tín dụng.
Thứ hai, lãi suất cho vay không được phát sinh một cách độc lập, nó chỉ hình
thành do thoả thuận của các bên sau khi đã thoả thuận được số tiền vay. Bản chất của lãi
suất là tỉ lệ phần trăm giữa tổng số lợi tức thu được trong một thời gian với tổng số vốn
bỏ ra cho vay trong cùng thời gian đó, như vậy chỉ tồn tại tỉ lệ phần trăm này khi tồn tại
số tiền gốc mà các bên thỏa thuận.
Thứ ba, lãi suất không chỉ được xác định dựa trên số vay gốc và thời hạn vay mà
còn dựa trên khả năng tài chính và uy tín của khách hàng. Khách hàng vay được áp
dụng lãi suất thực tế tại thời điểm đó, tương ứng với số nợ gốc nhiều hay ít, thời hạn
vay dài hay ngắn mà các bên có thể thoả thuận mức lãi suất cho phù hợp. Thông thường
thời gian vay càng dài lãi suất càng cao, nếu khách hàng có khả năng tài chính mạnh, uy
tín cao hoặc thuộc diện cho vay ưu đãi thì sẽ được ưu đãi lãi suất thấp hơn lãi suất cho
vay hiện tại.
1.2.2.2 Căn cứ vào thời hạn áp dụng
Dù cho vay ở hình thức nào thì TCTD cũng đều đưa ra mức lãi suất trong hạn và
lãi suất quá hạn. Hai mức lãi suất này không chỉ có ý nghĩa đối với việc xác định nghĩa
vụ trả lãi của khách hàng vay mà còn đóng vai trò quan trọng khi cơ quan chức năng
giải quyết khi có tranh chấp xảy ra.
Lãi suất trong hạn không được quy định cụ thể về khái niệm trong văn bản pháp
luật, nhưng có thể hiểu là lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng dùng làm căn cứ để tính
giá trị lãi mà khách hàng vay phải trả cho TCTD tính trên số tiền đã vay tương ứng với
thời hạn mà các bên đã thoả thuận.
Lãi suất quá hạn chỉ phát sinh khi tồn tại khoản nợ quá hạn. Do đó, trước khi tìm
hiểu về lãi suất quá hạn, có hai vấn đề cần quan tâm là nợ quá hạn và thời điểm chuyển
khoản nợ từ trong hạn sang quá hạn.
Theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Thống đốc NHNN
về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lí rủi ro trong hoạt động ngân
hàng của TCTD
9

Khoản 2 Điều 11 Quy chế cho vay ban hành kèm theo Quyết định số
1627/2001/QĐ-NHNN: “Mức lãi suất áp dụng đối với khoản nợ gốc quá hạn do TCTD
ấn định và thoả thuận với khách hàng trong HĐTD nhưng không vượt quá 150% lãi
suất cho vay áp dụng trong thời hạn cho vay đã được kí kết hoặc điều chỉnh trong
HĐTD.”
Nhìn chung, lãi suất quá hạn thường cao hơn lãi suất trong hạn do được áp dụng
đối với người vay vi phạm nghĩa vụ về thời hạn trả nợ. Sau thời hạn mà bên vay không
trả hoặc trả không hết số tiền vay thì bên cho vay có quyền tính lãi dựa trên lãi suất quá
hạn theo như thoả thuận hoặc theo quy định của pháp luật. Thêm vào đó, việc trả lãi
trước hoặc sau thời hạn vẫn có thể coi là đúng hạn và phải tính bằng lãi suất trong hạn.
Đó là các trường hợp do sự kiện bất ngờ hay sự kiện bất khả kháng mà bên vay không
11 Xem Công văn số 950/NHNN-CSTT ngày 03/9/2002 hướng dẫn việc chuyển nợ quá hạn đối với
trường hợp chậm trả nợ gốc, lãi vốn vay (hết hiệu lực ngày 07/3/2005).
thể thực hiện nghĩa vụ trả nợ của mình đúng hạn hoặc được bên cho vay chấp nhận
không phải trả lãi quá hạn khi quá thời hạn vay.
Như vậy có thể thấy rằng hiện nay cùng tồn tại hai quy định khác nhau về lãi suất
đối với khoản nợ quá hạn, và việc áp dụng quy định nào còn phải được xem xét về giá
trị pháp lí của văn bản. Thực tế các bên tham gia quan hệ tín dụng và cơ quan có thẩm
quyền áp dụng văn bản nào sẽ được phân tích cụ thể tại phần 2.1.3.
1.2.2.3 Căn cứ vào sự ổn định của lãi suất
Khi thỏa thuận lãi suất trong hạn, các bên có thể thỏa thuận lãi suất cố định hoặc
lãi suất thả nổi.
Lãi suất cố định là lãi suất được ấn định một mức cụ thể trên HĐTD, không chịu
tác động của những biến động lãi suất thị trường. Lãi suất này không thay đổi trong
suốt thời gian vay vốn tại TCTD, thông thường áp dụng trong cho vay ngắn hạn.
Lãi suất thả nổi là lãi suất được điều chỉnh theo từng thời kì, biến đổi theo thời
gian. Mức điều chỉnh và kì điều chỉnh lãi suất sẽ theo thỏa thuận giữa khách hàng và
TCTD và được quy định rõ trong HĐTD. Thông thường lãi suất thả nổi được áp dụng
trong cho vay trung và dài hạn.
1.2.3 Vai trò của lãi suất


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status