Lí luận chung về nguyên tắc công khai trong hoạt động xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật - Pdf 33

Mục lục
Trang

Mở đầu……………………………………………………………..2
Nội dung
1/ Lí luận chung về nguyên tắc công khai trong hoạt động
xây dựng ban hành văn bản quy phạm pháp luật….........................................2
2/Biểu hiện của nguyên tắc công khai trong xây dựng
và ban hành văn bản quy phạm pháp luật……………………………………3
3/Ý nghĩa và thực tiễn của nguyên tắc công khai trong xây dựng
và ban hành văn bản quy phạm pháp luật………………………………….....7
4/Ví dụ thể hiện nguyên tắc công khai trong xây dựng
và ban hành văn bản quy phạm pháp luật………………………………….....8
Kết thúc………………………………………………………………………8


Mở đầu
Một trong bốn nguyên tắc cơ bản mà Việt Nam phải thực hiện khi gia nhập WTO là: tính
công khai minh bạch của các luật, qui định và các thủ tục hành chính. (Nguyên tắc còn lại: 1.
Thương mại tự do. 2. Không phân biệt đối xử kinh doanh. 3. Thị trường không nghiêng lệch undistorted).Trong bối cảnh thực hiện chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
và quá trình hội nhập kinh tế thế giới như vậy, thời gian vừa qua, việc đảm bảo tính minh bạch
trong hệ thống pháp luật ở nước ta được đề cập đến nhiều như là một trong những yêu cầu của việc
nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, đảm bảo tính dân chủ trong hoạt động của nhà nước. Đặc biệt
là trong quá trình xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) thì nguyên tắc
minh bạch, công khai càng đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo tính khả thi, hợp lí, hợp
pháp của loại văn bản này. Làm rõ được tính công khai, minh bạch trong hoạt động xây dựng, ban
hành VBQPPL giúp chúng ta hiểu rõ hơn được vai trò, ý nghĩa của nguyên tắc này trong hoạt động
ban hành VBQPPL.

Nội dung
1/ Lí luận chung về nguyên tắc công khai trong hoạt động xây dựng và ban hành văn bản quy

- Trong giai đoạn lập chương trình xây dựng VBQPPL: Đây là bước khởi đầu khá quan
trọng, mang tính kế hoạch để tiến hành xây dựng văn bản. Đảm bảo tính công khai, minh bạch
ngay từ giai đoạn đầu của việc xây dựng văn bản là cần thiết, từ đó sẽ tạo bước đệm để triển khai
những giai đoạn xây dựng tiếp theo. Cơ bản thì chương trình xây dựng, ban hành một VBQPPL sẽ
có các bước sau: Lập chương trình, thông qua chương trình, điều chỉnh chương trình và đảm bảo
chương trình. Nội dung của chương trình này bao gồm:
+ Danh mục các văn bản luật cần ban hành: được xác định trên cơ sở cân nhắc nhu cầu
điều chỉnh pháp luật và khả năng xây dựng pháp luật trong thời gian thực hiện chương trình.
+ Cơ quan soạn thảo: được xác định trên cơ sở thẩm quyền và năng lực thực tiễn cua
chủ thể có liên quan tới hoạt động xây dựng pháp luật.
+ Dự kiến thời gian trình dự thảo văn bản một cách hợp lí, nhanh và chất lượng.
+ Dự trù kinh phi phí cần thiết cho việc thực hiện chương trình một cách tiết kiệm, hiệu
quả.
Từ đó, trước khi chương trình xây dựng được công bố thì chúng ta sẽ đánh giá được liệu
rằng chương trình đó đã bám sát được với thực tiễn hay chưa, đáp ứng được nhu cầu ban hành
chưa… Từ đó, chúng ta có thể góp ý một cách trực tiếp hoặc gián tiếp tới các cơ quan có thẩm
quyền để điều chỉnh chương trình phù hợp hơn. Hơn nữa, không chỉ cho người dân tường tận về
thẩm quyền cơ quan ban hành, các văn bản được ban hành… mà còn vấn đề kinh phí để tiến hành
xây dựng văn bản cũng được làm rõ. Đây thực sự là vấn đề khá nhạy cảm nhưng cũng thật cần thiết
trong các việc có tính chất công như vậy.
Ngoài ra, trong Luật BHVBQPPL còn quy định các cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội
có quyền trình dự án luật quy định tại Điều 87 – Hiến pháp đều được gửi đề nghị xây dựng, luật,
pháp lệnh lên Ủy ban thường vụ Quốc hội và Chính phủ (Điều 23 – Luật BHVBQPPL). Tuy nhiên,
luật định như vậy không chỉ riêng những chủ thể nhất định được trao quyền trình những dự án,
sáng kiến về xây dựng văn bản pháp luật. Các tổ chức, cá nhân khác cũng đều có quyền thể hiện
những ý kiến chủ quan của mình một cách gián tiếp (qua các Đại biểu Quốc hội) hoặc trực tiếp
(đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng) nhằm thể hiện tiếng nói, ý chí, nguyện vọng
cũng như những đánh giá nhận xét của mình trong việc xây dựng và ban hành VBQPPL. Từ đây có
thể thấy tính công khai, minh bạch được thể hiện ở ngay khâu sáng kiến pháp luật của mọi cá nhân,
tổ chức.

+ Phân tích chính sách pháp lí, đánh giá dự báo tác động các VBQPPL có liên quan tới dự
án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết: hoạt động này đòi hỏi tìm hiểu mọi khía cạnh ở vấn đề đang
được xem xét, là hành động thăm dò phản ứng của các đối tượng sẽ chịu tác động, thực trạng nền
kinh tế - xã hội, nhu cầu quản lí từ phía Nhà nước… Do đó, sự kết hợp giữa các thành phần, lực
lượng trong cơ quan nhà nước lẫn quần chúng nhân dân sẽ giúp công việc soạn thảo văn bản trở
nên “nhẹ nhàng” hơn, nhanh chóng hơn, tiết kiệm chi phí. Và đặc biệt là các công việc có tính chất
công như thế này trở nên dân chủ, công khai, gần gũi với người dân hơn.
+ Khảo sát, đánh giá thực trạng quan hệ xã hội liên quan đến nội dung chính của dự thảo:
công việc khảo sát, đánh giá này giúp xác định đúng đối tượng điều chỉnh, đúng hướng, mục tiêu
tác động của VBQPPL. Tham gia hoạt động này càng cần nhiều nhóm đối tượng tham gia càng tốt,
bởi sự đa dạng các nhóm đối tượng tham gia tranh luận đánh giá, khảo sát thì càng đưa ra nhiều ý
kiến khác nhau mang tính khách quan nhiều hơn cho việc xây dựng văn bản. Qua đó mới dễ dàng
thấy được thực trạng, diễn biến phức tạp của các nhóm quan hệ trong xã hội như thế nào.
- Giai đoạn thẩm tra, thẩm định VBQPPL: là giai đoạn cơ quan có thẩm quyền của Nhà
nước xem xét toàn diện dự thảo trước khi trình cơ quan có thẩm quyền ban hành VBQPPL. Ở giai
đoạn này, sự tham gia có mặt của cơ quan chuyên môn là điều cực kì quan trọng. bằng những hoạt
động nghiệp vụ có tính chuyên môn, khoa học cao, các cơ quan này thẩm tra, thẩm định văn bản
đảm bảo tính hợp pháp, hợp lí, chuẩn mực với thực tiễn và với những quy định về hình thức, nội
dung, thẩm quyền, trình tự, thủ tục của pháp luật. Các đối tượng quần chúng nhân dân cũng có thể
tham gia nhưng với vai trò là tham vấn, phản biện những vấn đề cơ bản có thể qua hình thức tọa
đàm trực tiếp,…
4


Với hoạt động thẩm tra luật, pháp lệnh: Ủy ban pháp luật hoặc là sự kết hợp giữa Ủy
ban của Quốc hội và Hội đồng dân tộc với Ủy ban pháp luật tiến hành thẩm tra (Điều 25 – Luật
BHVBQPPL).
Còn đối với hoạt động thẩm tra các các dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết được
Luật BHVBQPPL dành hẳn Mục 3 khá chi tiết bao gồm: Điều 41 - Thẩm tra của Hội đồng dân tộc
và các Uỷ ban của Quốc hội, Điều 42 - Hồ sơ và thời hạn gửi hồ sơ dự án luật, pháp lệnh, dự thảo

quy định tại khoản 1 Điều 42 của Luật này đến Uỷ ban thường vụ Quốc hội để cho ý kiến.

5


Dự thảo văn bản, tờ trình và báo cáo thẩm tra về dự án, dự thảo được đăng tải trên Trang
thông tin điện tử của Quốc hội.
Bên cạnh đó, tại Mục 5 của Luật BHVBQPPL cũng quy định khá cụ thể mức thời hạn để cơ
quan có thẩm quyền xem xét dự thảo như: chậm nhất 20 ngày với trường hợp Quốc hội xem xét dự
án luật, dự thảo nghị quyết tại một kì họp trước ngày khai mạc kì họp Quốc hội, hồ sơ dự án, dự
thảo phải được gửi đến đại biểu Quốc hội, …. (khoản 1 - Điều 51 Luật BHVBQPPL), chậm nhất
20 ngày trước ngày bắt đầu phiên họp Ủy ban thường vụ Quốc hội, hồ sơ dự án, dự thảo phải được
gửi đến các thành viên Ủy ban thường vụ Quốc hội trong trường hợp UBTVQH xem xét (khoản 2
– Điều 51 Luật BHVBQPPL)
Về việc thông qua dự án, dự thảo: công việc này phải tuân theo trình tự, thủ tục nhất định
tùy từng trường hợp (cụ thể tại Mục 3 Luật BHVBQPPL với các Điều 52, Điều 53, Điều 54, Điều
77). Kèm theo đó là hồ sơ dự án, dự thảo trình lên Quốc hội và UBTVQH thông qua bao gồm: báo
cáo giải tình tiếp thu, chỉnh lý dự thảo và dự thảo đã được chỉnh lý.
Tóm lại, đảm nhận công việc xem xét, thông qua VBQPPL là trách nhiệm của Quốc hội và
Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Tính công khai, minh bạch được thấy rõ qua những quy định chính
xác mức thời hạn xét xét các dự thảo. Điều này làm tránh tình trạng bỏ bê, xao nhãng ảnh hưởng
đến tiến độ công việc ban hành văn bản.
- Giai đoạn công bố VBQPPL: văn bản sau khi được thông qua cần được ban hành bằng
cách công bố rộng rãi với những hình thức khác nhau (đăng công báo ở cấp trung ương và cấp tỉnh,
đăng toàn văn trên các báo hoặc đưa tin trên các phương tiện thông tin đại chúng, niêm yết tại trụ
sở cơ quan ban hành, gửi trực tiếp qua mạng internet,… ) để nhân dân và những đối tượng có liên
quan được biết và thực hiện. Việc công bố VBQPPL là cơ chế hữu hiệu để bảo đảm tính công khai,
minh bạch của pháp luật:
“Điều 84. Đăng tải và đưa tin văn bản quy phạm pháp luật
Văn bản quy phạm pháp luật phải được đăng tải toàn văn trên Trang thông tin điện tử của

của các VBQPPL.
3/ Ý nghĩa và thực tiễn của nguyên tắc công khai trong hoạt động xây dựng và ban hành vă
bản quy phạm pháp luật.
Chiếm vai trò là một trong những nguyên tắc truyền thống trong ngành khoa học pháp lí nói
chung cũng như trong lĩnh vực hành chính nói riêng – xây dựng văn bản pháp luật, nguyên tắc
công khai, minh bạch đã thể hiện được bản chất của nhà nước ta, hướng tới khẳng định quyền làm
chủ của nhân dân trên cả phương diện xây dựng, kiện toàn hệ thống pháp luật Việt Nam. Công
khai, minh bạch hóa trong xây dựng và ban hành VBQPPL cung cấp các thông tin cần thiết để
nhân dân nắm bắt, tiếp cận được các quy định của pháp luật, từ đó Nhà nước gián tiếp tuyên
truyền, giáo dục ý thức pháp luật cho người dân, góp phần làm cho pháp luật trở nên khả thi trong
thực tế. Nếu như việc xây dựng và ban hành VBQPPL thuộc hoàn toàn thẩm quyền về phía cơ
quan Nhà nước thì hệ thống pháp luật của chúng ta sẽ đi lệch hướng với mục đích, tôn chỉ của một
nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân. Tức là Nhà nước khi đó chỉ hoạt
động, điều chỉnh và quản lí xã hội bằng “ độc quyền” ý chí của Nhà nước, mất đi tính dân chủ, xã
hội và sự công bằng cho phía người dân – đối tượng chịu tác động trực tiếp từ hệ thống pháp luật.
Hiện nay, cơ bản nguyên tắc công khai, minh bạch đã được đảm bảo trong quá trình xây
dựng và ban hành VBQPPL. Nhiều dự án, dự thảo văn bản đã được tiến hành lấy ý kiến từ
phía quần chúng nhân dân (đại diện là các Đại biểu Quốc hội) và đã tiếp thu được nhiều ý
kiến tích cực như dự thảo hiến pháp 1992; nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của hiến pháp
1992; bộ luật hình sự; bộ luật hôn nhân gia đình…
Tuy nhiên việc thực hiện nguyên tắc này vẫn còn tồn tại một số hạn chế nhất định. Luật
định đảm bảo sự công khai, minh bạch trong quá trình xây dựng VBQPPL nhưng lại trừ những văn
bản chứa những nội dung bí mật Nhà nước. Vậy đây có phải là khoảng trống là luật đã bỏ qua?
Mặt khác, việc trưng cầu, lấy ý kiến của quần chúng nhân dân dường như chỉ là hình thức, được
thừa nhận trên giấy tờ, còn trên thực tế nhiều khi các VBQPPL được xây dựng, ban hành chưa chắc
người dân đã biết, thậm chí là được tiếp cận. Ngôn ngữ văn bản QPPL đôi khi còn diễn đạt khó
hiểu do đa nghĩa, tối nghĩa,…Ngoài ra có một thực trạng cũng cần phải lưu tâm là có một số lượng
lớn các văn bản do bộ, cơ quan ngang bộ chưa được đăng công báo mặc dù nó đã có hiệu lực pháp
luật. Theo số liệu của năm 2001 thì bộ xây dựng đã ban hành 44 văn bản nhưng lại chỉ có 5 văn
bản được đăng công báo; bộ tài chính đã ban hành 265 văn bản nhưng lại chỉ có 124 văn bản đăng

tập hợp và có văn bản gửi cơ quan soạn thảo nhằm góp phần giúp cơ quan soạn thảo sớm hoàn
thiện nội dung dự thảo thông tư để trình Thống đốc ban hành.

Kết thúc
Những phân tích trên đây đã phần nào thể hiện nguyên tắc đảm bảo công khai trong hoạt
động xây dựng và ban hành VBQPPL. Từ đó có thể thấy được vai trò của nguyên tắc này trong
việc xây dựng và ban hành VBQPPL để có những biện pháp thích hợp thực hiện nghiêm túc
nguyên tắc này.

8


Danh mục tài liệu tham khảo
1, Giáo trình xây dựng văn bản pháp luật, nhà xuất bản công an nhân dân, 2008.
2, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2008
3, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của hội đồng nhân dân và ủy ban nhân
dân, 2004.
4, Khóa luận tốt nghiệp: Bảo đảm tính công khai, minh bạch trong quá trình xây dựng và
ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Khương Thị Phương, Hà Nội, 2010.
5, Mai Thị Kim Huế, “ Một số điểm mới quan trọng của Luật BHVBQPPL năm 2008”,
Tạp chí nghiên cứu lập pháp số 1, 2009.
6, Lưu Tiến Dũng, “Tính công khai, minh bạch trong ban hành văn bản quy phạm pháp
luật”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp số 3, 2005.

9




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status