Cấu trúc bài luận
Trang
A. Đặt vấn đề……………………………………………………...1
B. Nội dung vấn đề………………………………………………..1
I. Một số vấn đề lý luận về nguyên tắc cân đối trong hoạt động
ngân sách nhà nước theo Luật Ngân sách………………………………………..1
1. Khái niệm Ngân sách Nhà nước….............................................................1
2. Cân đối trong hoạt động ngân sách nhà nước là gì?.................................2
3. Nguyên nhân của việc phải cân đối trong hoạt động
ngân sách nhà nước……………………………………………………………...…2
4. Nguyên tắc cân đối trong hoạt động ngân sách nhà nước
theo Luật Ngân sách Nhà nước (Nguyên tắc ngân sách thăng bằng)…………....4
4.1. Nội dung của nguyên tắc cân đối trong hoạt động ngân
sách nhà nước theo Luật Ngân sách Nhà nước…………………………………...4
4.2. Đặc điểm của nguyên tắc cân đối trong hoạt động ngân
sách nhà nước theo Luật Ngân sách Nhà nước…………………………………...6
4.3. Ý nghĩa của nguyên tắc cân đối (nguyên tắc ngân sách
thăng bằng)……………………………………………………………………….…7
4.4. Mối quan hệ giữa nguyên tắc cân đối với hoạt động
ngân sách nhà nước………………………………………………………………...8
4.5. Tác động của nguyên tắc cân đối đối với hoạt động
ngân sách nhà nước………………………………………………………………...9
II. Một số vấn đề thực tiễn………………………………………………...10
1. Thực tế áp dụng nguyên tắc cân đối trong hoạt động ngân
sách nhà nước ở Việt Nam……………………………………………………..…10
2. Những thành tựu và hạn chế khi áp dụng nguyên tắc
cân đối trong hoạt động ngân sách nhà nước ở Việt Nam……………………....11
2.1. Những thành tựu đạt được…………………………………….............11
2.2. Một số hạn chế khi áp dụng nguyên tắc này………………………….13
3. Những đánh giá, nhận xét về thực tế áp dụng nguyên tắc
diện pháp lý. Tuy nhiên chúng ta chỉ xem xét chủ yếu ngân sách nhà nước theo quy
định của pháp luật (phương diện pháp lý), bởi lẽ đây là công cụ được nhà nước thừa
nhận trong pháp luật và được ứng dụng trong thực tiễn.
Về phương diện kinh tế: ngân sách nhà nước là một khái niệm thuộc phạm trù
kinh tế học hay hẹp hơn là tài chính học. Theo đó, ngân sách nhà nước được hiểu là
bảng dự toán về các khoản thu và các khoản chi tiền tệ của một quốc gia, được cơ
quan nhà nước có thẩm quyền quyết định thực hiện trong một khoảng thời hạn nhất
định, thường là một năm. Khái niệm ngân sách nhà nước định nghĩa theo phương
diện này có hai yếu tố được đề cập:
Một là, ngân sách nhà nước là một bảng kế hoạch tài chính của một quốc
gia, thông qua hành vi kinh tế là xác lập nội dung thu - chi liên quan đến ngân quỹ
của nhà nước. Do đó phải được Quốc hội với tư cách là người đại diện cho toàn thể
nhân dân trong quốc gia đó quyết định trước khi chính phủ đem ra thi hành trên
thực tế để đảm bảo cho việc thu, chi ngân sách có hiệu quả và phù hợp với người
dân. Ngoài ra, Quốc hội còn là người giám sát chính phủ trong quá trình thi hành
ngân sách và có quyền phê chuẩn bảng quyết toán ngân sách hàng năm do chính
phủ đệ trình khi năm ngân sách kết thúc.
Hai là, ngân sách nhà nước có hiệu lực trong vòng một năm, tức là việc dự
toán thu, chi đã được đề ra phải hoàn thành trong năm ngân sách đó tính từ ngày
01/01 đến ngày 31/12 hàng năm. Đây là khoảng thời gian mà pháp luật quy định
nhằm giới hạn rõ việc thực hiện dự toán ngân sách nhà nước. Khoảng thời gian này
có thể trùng hoặc không trùng với năm dương lịch tùy theo tập quán của mỗi nước.
Việc quy định rõ thời gian này nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của ngân
2
sách nhà nước, tránh sự tùy tiện, độc đoán của nhà nước trong việc thu nộp và chi
tiêu ngân sách.
Về phương diện pháp lý: theo quy định tại Điều 1 Luật Ngân sách Nhà nước
thì: “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ
quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo
đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”. Với quy định này, chúng ta
hiện chức năng và nhiệm vụ được giao.
Tựu trung lại ta có thể hiểu: Cân đối trong hoạt động ngân sách nhà nước là
một bộ phận quan trọng của chính sách tài khóa, phản ánh sự điều chỉnh mối quan
hệ tương tác giữa hoạt động thu và hoạt động chi ngân sách nhà nước nhằm thực
hiện các mục tiêu kinh tế- xã hội mà Nhà nước đã đề ra trong từng lĩnh vực và địa
bàn cụ thể”
(1)
.
3. Nguyên nhân của việc phải cân đối trong hoạt động ngân sách nhà nước
Thứ nhất, hoạt động ngân sách nhà nước chính là hoạt động thu ngân sách từ
các nguồn thu khác nhau và hoạt động chi ngân sách do cơ quan nhà nước có thẩm
3
quyền thực hiện nhằm hoàn thành các nhiệm vụ, mục tiêu đặt ra trước nhà nước,
trước đất nước để làm ổn định và phát triển kinh tế- xã hội. Do vậy, để thực hiện tốt
và đến cùng các mục tiêu kinh tế- xã hội mà nhà nước đã đặt ra thì nguồn tài chính,
tiền tệ của đất nước phải ổn định, cân đối, trong đó các nhiệm vụ chi không được
vượt quá khả năng các nguồn thu mà phải ở trong trạng thái cân bằng hoặc thấp hơn
các nguồn thu để tránh tình trạng thâm hụt ngân sách, kiệt quệ tài chính. Như vậy,
nguyên nhân đầu tiên của việc cân đối trong hoạt động ngân sách nhà nước chính là
xuất phát từ việc đảm bảo cho các mục tiêu kinh tế- xã hội của đất nước được thực
hiện đến cùng. Nếu như các nhiệm vụ chi luôn cao hơn khả năng thu của đất nước
thì điều tất yếu là sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến việc thực hiện các mục tiêu khác nhau
của các lĩnh vực khác nhau của đất nước mà cần phải có nguồn tài chính để điều
chỉnh. Ngược lại, nếu chúng ta luôn đạt được bội thu ngân sách thì tất cả các mục
tiêu của đất nước sẽ luôn được hoàn thành mà không một mục tiêu nào không được
thực hiện đến cùng.
Thứ hai, việc cân đối trong hoạt động ngân sách nhà nước còn bắt nguồn từ
chủ trương ổn định hệ thống chính sách tài khóa tiến tới ổn định việc tiến hành
những công việc đã đề ra theo kế hoạch. Điều này có nghĩa là, khi đề ra những chủ
trương, kế hoạch cho công việc cụ thể phải tiến hành của đất nước nhằm phục vụ
cụ thể đó, “nhằm đảm bảo cho các nguồn thu đều được tập trung một cách đầy đủ
vào ngân sách nhà nước để cơ quan có thẩm quyền lên kế hoạch phân bổ những
nguồn vừa thu được từ các hoạt động do những cơ quan có thẩm quyền thu trực tiếp
tập trung về ngân sách nhà nước”
(ii)
. Như vậy, việc cân đối trong hoạt động ngân
sách nhà nước là xuất phát từ yêu cầu “đấu tranh phòng, chống tham nhũng, bởi lẽ
những nguồn thu và nhiệm vụ chi được lên kế hoạch cụ thể, có nghĩa là nguồn thu
này được phân bổ bao nhiêu cho nhiệm vụ chi cụ thể thì bắt buộc cơ quan có thẩm
quyền thu, người có nghĩa vụ nộp vào ngân sách nhà nước những khoản thuế theo
quy định của pháp luật và những cơ quan, đơn vị tiếp nhận việc phân bổ nguồn
ngân sách để trực tiếp thực hiện các công việc được giao phải làm đúng những định
hướng, kế hoạch mà cơ quan cấp trên đã đề ra để đảm bảo cho công việc được hoàn
thành mà ngân sách nhà nước lại vẫn ổn định, không bị xáo trộn”
(iii)
. Những nguồn
thu và nhiệm vụ chi có sự ăn khớp, cân bằng với nhau bởi những kế hoạch mà
không thể có sự gian dối, làm sai lệch những con số đó khi thực hiện thu và thực
hiện chi ngân sách.
4. Nguyên tắc cân đối trong hoạt động ngân sách nhà nước theo Luật Ngân
sách Nhà nước (Nguyên tắc ngân sách thăng bằng)
4.1. Nội dung của nguyên tắc cân đối trong hoạt động ngân sách nhà nước
theo Luật Ngân sách Nhà nước
Luật Ngân sách Nhà nước năm 2002 đã ghi nhận nguyên tắc cân đối trong
hoạt động ngân sách nhà nước tại Điều 8 như sau: “1. Ngân sách nhà nước được
cân đối theo nguyên tắc tổng số thu từ thuế, phí, lệ phí phải lớn hơn tổng số chi
thường xuyên và góp phần tích luỹ ngày càng cao vào chi đầu tư phát triển; trường
hợp còn bội chi, thì số bội chi phải nhỏ hơn số chi đầu tư phát triển, tiến tới cân
bằng thu, chi ngân sách; 2. Bội chi ngân sách nhà nước được bù đắp bằng nguồn
vay trong nước và ngoài nước. Vay bù đắp bội chi ngân sách nhà nước phải bảo đảm
Hai là, bội chi ngân sách nhà nước được bù đắp bằng nguồn vay trong nước
và nước ngoài. Vay bù đắp bội chi ngân sách nhà nước phải đảm bảo nguyên tắc
không sử dụng cho tiêu dùng, chỉ được sử dụng cho mục đích phát triển và bảo đảm
bố trí ngân sách để chủ động trả hết nợ khi đến hạn. Trong điều kiện kinh tế thị
trường như hiện nay thì vấn đề bội chi ngân sách là không thể tránh khỏi đối với
một quốc gia nhưng chưa hẳn bội chi ngân sách nhà nước là biểu hiện của sự yếu
kém của nền kinh tế mà nó còn là một trong các cách thức tạo ra sự cân đối của hoạt
động ngân sách nhà nước trong dài hạn, đảm bảo cho nền kinh tế- xã hội phát triển
và ổn định. Nguyên tắc vay bù đắp bội chi nên dành cho mục đích phát triển và đảm
bảo bố trí ngân sách để chủ động trả hết nợ khi đến hạn là rất cần thiết để đảm bảo
ngân sách nhà nước được cân đối, tận dụng được nguồn vốn vay một cách có hiệu
quả. Chi cho tiêu dùng là hoạt động chi không mang tính chất thu hồi vốn và không
tạo ra thặng dư, do đó nguồn vay bù đắp bội chi chỉ được để dành cho mục đích
phát triển. Về nguyên tắc, ngân sách địa phương được cân đối với tổng số chi không
vượt quá tổng số thu; trường hợp tỉnh thành phố trực thuộc trung ương có nhu cầu
đầu tư xây dựng công trình kết cấu hạ tầng thuộc phạm vi ngân sách cấp tỉnh bảo
đảm, thuộc danh mục đầu tư trong kế hoạch 5 năm đã được hội đồng nhân dân cấp
tỉnh quyết định nhưng vượt quá khả năng cân đối của ngân sách cấp tỉnh năm dự
toán thì được phép huy động vốn không vượt quá 30% vốn đầu tư xây dựng cơ bản
trong nước hàng năm của ngân sách cấp tỉnh.
Ba là, nguyên tắc cân đối này đã tạo cho chính quyền địa phương có được
nhiều ưu thế hơn trong việc quyết định ngân sách cấp mình. Vấn đề cho phép cấp
tỉnh vay nợ là cần thiết, giúp cho chính quyền địa phương có thể chủ động hơn
trong việc tạo ra những điều kiện về cơ sở vật chất hạ tầng để phát triển kinh tế và
đảm bảo các vấn đề xã hội của địa phương mình. Tuy nhiên, khoản vay nợ này lại
được tính vào thu trong cân đối ngân sách địa phương, do vậy nhìn một cách tổng
thể thì ngân sách địa phương tôn trọng nguyên tắc phải cân bằng thu, chi theo quy
định của Luật Ngân sách Nhà nước năm 2002 song thực chất ngân sách địa phương
có bội chi và khoản bội chi này lại không tính vào trong bội chi ngân sách nhà
nước. Điều này dẫn đến sự thiếu minh bạch trong cân đối ngân sách nhà nước ở
và dẫn đến việc không thực hiện được những chiến lược, chính sách mà Nhà nước
đã đề ra do ngân sách nhà nước không bảo đảm cân đối trong quá trình hoạt động
khi chưa đưa ra những kế hoạch cụ thể.
Về thông tin, minh bạch và trách nhiệm, đây là vấn đề rất cần thiết trong cân
đối trong hoạt động ngân sách nhà nước. Thông tin tốt sẽ làm tăng thêm tính trung
thực và giúp người quản lý sẽ đưa ra những quyết định hợp lý. Thông tin chính xác
và kịp thời về chi phí, đầu ra và kết quả đạt được sẽ giúp cho quá trình thực hiện
cân đối trong hoạt động ngân sách nhà nước đạt hiệu quả nhất định”
(2)
.
4.2. Đặc điểm của nguyên tắc cân đối trong hoạt động ngân sách nhà nước
theo Luật Ngân sách Nhà nước
Từ những nội dung trên của nguyên tắc cân đối, chúng ta có thể rút ra một số
đặc điểm của nó như sau:
Thứ nhất, nguyên tắc cân đối trong hoạt động ngân sách nhà nước theo Luật
Ngân sách phản ánh mối quan hệ tương tác giữa các khoản thu và nhiệm vụ chi
ngân sách nhà nước trong năm ngân sách nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra. Việc
cân đối trong hoạt động ngân sách không phải chỉ là thu, chi cân đối hoặc chỉ là cân
đối về mặt lượng mà còn nhằm thực hiện các mục tiêu chiến lược kinh tế- xã hội
của đất nước, đồng thời các chỉ tiêu kinh tế- xã hội này cũng quyết định sự hình
thành về thu, chi ngân sách nhà nước. Nguyên tắc cân đối trong hoạt động ngân
sách nhà nước với những đặc thù của nó được nhà nước xây dựng trong luật nhằm
7