VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ NGUYỄN ĐÔNG QUÂN
LÃI SUẤT TRONG HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG THEO
PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN HOẠT
ĐỘNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP QUÂN ĐỘI
CHI NHÁNH ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI, năm 2018
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ NGUYỄN ĐÔNG QUÂN
LÃI SUẤT TRONG HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG THEO
PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN HOẠT
ĐỘNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP QUÂN ĐỘI
CHI NHÁNH ĐÀ NẴNG
Chuyên ngành : Luật kinh tế
Mã số
: 838.01.07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
2.2. Tổng quan về tình hình hoạt động của Ngân hàng TMCP Quân đội- CN
Đà Nẵng........................................................................................................... 24
2.3. Thực trạng áp dụng pháp luật Việt Nam hiện hành về lãi suất trong hợp
đồng tín dụng tại Ngân hàng TMCP Quân đội- Chi nhánh Đà Nẵng. ............ 34
2.4. Đánh giá thực tiễn thi hành pháp luật về lãi suất trong hợp đồng tín dụng
theo Pháp luật Việt Nam từ hoạt động cho vay tại Ngân hàng TMCP Quân đội
– Chi nhánh Đà Nẵng ...................................................................................... 55
CHƯƠNG 3 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN PHÁP LUẬT VỀ LÃI SUẤT
TRONG HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP
LUẬT TẠI NGÂN HÀNG TMCP QUÂN ĐỘI- CN ĐÀ NẴNG ................ 60
3.1. Định hướng phát triển pháp luật về lãi suất tại Ngân hàng thương mại cổ
phần Quân đội - chi nhánh TP Đà Nẵng. ........................................................ 60
3.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về lãi suất Ngân hàng thương mại cổ phần
Quân đội - chi nhánh TP Đà Nẵng .................................................................. 62
3.3. Phương pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Ngân hàng thương mại cổ
phần Quân đội - chi nhánh TP Đà Nẵng. ........................................................ 71
KẾT LUẬN .................................................................................................... 75
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
Tên bảng
bảng
Trang
Sơ đồ cơ cấu tổ chức
25
2.2
Biểu đồ dư nợ cho vay theo ngành kinh tế năm 2017
31
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong vòng quay của sự phát triển nền kinh tế nói chung, nền kinh tế nước nhà
nói riêng, việc hội nhập kinh tế quốc tế đã trở thành một trong những động lực quan
trọng và là định hướng hàng đầu để phát triển kinh tế - xã hội, làm tăng sức mạnh
tổng hợp quốc gia, thúc đẩy hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng Xã hội
Chủ nghĩa. Việt Nam với tư cách là một chủ thể độc lập trong sự phát triển chung
của nền kinh tế quốc tế đã và đang từng bước đi lên và đạt được những thành tựu to
lớn trên nhiều phương diện từ kinh tế, xã hội, trong đó đáng chú ý và nổi bật hơn cả
là sự trở mình trong lĩnh vực kinh tế, điều lột xác rõ rệt nhất trong sự trở mình của
sự thay đổi đó nằm ở nền kinh tế ngân hàng.
Trong suốt giai đoạn vừa qua, nền kinh tế ngân hàng đã từng bước đạt được
những kết quả quan trọng, trong đó phải kể đến sự tập trung quản lý có hệ thống các
công cụ lãi suất – một điểm được coi là một góc cạnh nhạy cảm, phức tạp, nóng
bỏng nhất, thu hút nhiều sự quan tâm của xã hội.
Lãi suất với tư cách là công cụ của chính sách tiền tệ, là công cụ để đo lường,
đánh giá hiện trạng "sức khỏe" của một nền kinh tế. Đặc biệt trong cơ chế thị
trường, lãi suất trở thành công cụ đắc lực để Ngân hàng nhà nước thực thi chính
sách tiền tệ nhằm điều tiết các mối quan hệ giữa tiết kiệm và đầu tư, lạm phát và
mô cung ứng các kênh lãi suất cũng như nâng cao chất lượng của hoạt động liên
quan, song ở mảng này vẫn còn một số điểm đang tiếp tục hoàn thiện nên những
thành tựu mang lại từ các dịch vụ phát sinh từ kênh lãi suất chưa thật sự đạt được
thành quả tốt nhất, chưa tương xứng với vị trí của một trong những ngân hàng có rất
nhiều thế mạnh về vốn, thương hiệu, thị trường, khách hàng, chất lượng cũng như
dịch vụ.
Vì vậy, với đề tài về: “Lãi suất trong hợp đồng tín dụng ngân hàng theo pháp
luật Việt Nam từ thực tiễn ngân hàng TMCP Quân Đội – Chi nhánh Đà Nẵng” bản
thân tôi nhận thấy vai trò cũng như tầm quan trọng to lớn của vấn đề này trong giai
đoạn hiện nay. Bởi lẽ, việc lựa chọn đề tài này xuất phát từ mong muốn giúp các cơ
quan Nhà nước có một kênh tham khảo, một góc nhìn cận cảnh, về khía cạnh hoạt
động của các tổ chức tín dụng, qua đó nhận thấy được sự khó khăn, những điểm cần
2
hoàn thiện trong thực tiễn hoạt động của các tổ chức tín dụng trong đó có Ngân
hàng TMCP Quân đội từ đó đưa ra các quan điểm, các đánh giá cũng như các giải
pháp hiệu quả nhất tạo hiệu quả tối đa trong bản thân hoạt động của Ngân hàng
TMCP Quân đội góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật quản lý.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Sau khi Bộ luật dân sự (BLDS) năm 2015 và Luật các TCTD năm 2010 được
ban hành đã có một số công trình nghiên cứu khoa học pháp lý về lãi suất trong hợp
đồng tín dụng tại các ngân hàng nhưng các công trình này chỉ nghiên cứu về các chế
độ pháp lý và thực tiễn về việc ký kết, thực hiện tuân thủ về lãi suất trong hợp đồng
tín dụng tại một TCTD như:
Luận văn thạc sĩ luật học "Chế độ pháp lý và thực tiễn về việc ký kết, thực
hiện hợp đồng tín dụng tại chi nhánh ngân hàng Nông nghiệp & phát triển nông
thôn Láng Hạ" của tác giả Bùi Thị Nga, (Trường Đại học Luật Hà Nội, 2007);
Ngoài ra còn có một số bài viết trên các tạp chí chuyên ngành về một nội dung
Do vậy, việc nghiên cứu đề tài: “Lãi suất trong hợp đồng tín dụng ngân hàng
theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn ngân hàng TMCP Quân Đội – Chi nhánh Đà
Nẵng” vẫn mang tính cấp thiết cần phải nghiên cứu và làm sáng rõ một số vấn đề lý
luận và thực tiễn trong giai đoạn hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài này là nghiên cứu những vấn đề lý luận và
thực tiễn về pháp luật về lãi suất trong hợp đồng tín dụng tại các NHTM ở Việt
Nam mà thực tiễn là Ngân hàng TMCP Quân đội - Chi nhánh Đà Nẵng, trên cơ sở
đó đề ra các giải pháp, đặc biệt là các giải pháp pháp lý nhằm đảm bảo cho các hoạt
động trên.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Hệ thống hóa và làm rõ một số vấn đề lý luận về Lãi suất trong hợp đồng cho
vay tại các NHTM và pháp luật về lãi suất như khái niệm, đặc điểm, bản chất pháp
lý của lãi suất; Pháp luật về lãi suất, nội dung của pháp luật về lãi suất trong hợp
đồng tín dụng.
Đánh giá tổng quan và phân tích thực trạng pháp luật về lãi suất trong hợp
4
đồng tín dụng tại các NHTM ở Việt Nam hiện nay, từ đó phát hiện những bất cập,
tồn tại về mặt pháp lý trong thực tiễn áp dụng lãi suất trong hợp đồng tín dụng.
Trên cơ sở những bất cập, tác giả đưa ra một số giải pháp, kiến nghị nhằm
hoàn thiện pháp luật và phát triển hệ thống pháp luật về lãi suất trong hợp đồng tín
dụng tại các NHTM ở Việt Nam trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu đề tài là thực trạng pháp luật về lãi suất và đề ra các
biện pháp nhằm nâng cao hoạt động tại Ngân hàng TMCP Quân đội – Chi nhánh Đà
Ngoài ý nghĩa là một công trình nghiên cứu riêng của bản thân về một số vấn
đề lý luận và thực tiễn của lãi suất trong hợp đồng tín dụng tại các NHTM để hoàn
thành chương trình học tập và báo cáo tốt nghiệp lớp Cao học Luật kinh tế khóa
VII ( đợt 1) năm 2016 của Học viện Khoa học Xã hội, việc nghiên cứu đề tài còn có
ý nghĩa đi sâu phân tích khái niệm, đặc điểm, hình thức pháp lý, thời điểm có hiệu
lực của lãi suất trong hợp đồng tín dụng, bản chất pháp lý của lãi suất trong hợp
đồng tín dụng. Từ đó tiếp tục đi sâu nghiên cứu pháp luật về lãi suất trong hợp đồng
tín dụng cũng như các đặc điểm và nội dung về lãi suất trong hợp đồng tín dụng
theo pháp luật hiện hành, từ đó tác giả kết hợp với việc nghiên cứu, so sánh pháp
luật lãi suất trong hợp đồng tín dụng hiện nay giữa các văn bản pháp luật có liên
quan cùng điều chỉnh để từ đó đưa ra những đề xuất, kiến nghị nhằm mục đích xây
dựng và hoàn thiện pháp luật.
6.2. Ý nghĩa thưc tiễn
Kết quả nghiên cứu góp phần hoàn thiện hệ thống lý luận về lãi suất trong hợp
đồng tín dụng hiện hành. Bên cạnh đó, luận văn còn đi sâu phân tích những hạn chế,
bất cập của pháp luật lãi suất trong hợp đồng tín dụng điều chỉnh các quan hệ phát
sinh trong quá trình giao kết và thực hiện lãi suất trong hợp đồng tín dụng, đồng
thời đề xuất hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật về lãi suất trong hợp đồng tín
dụng trong thời gian tới.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
6
Chương 1: Lý luận chung về lãi suất trong hợp đồng tín dụng.
Chương 2: Những vấn đề thực tiễn về lãi suất trong hợp đồng tín dụng của
Ngân hàng TMCP Quân đội - Chi nhánh Đà Nẵng.
Chương 3: Giải pháp phát triển và đề xuất giải pháp hoàn thiện hệ thống lãi
hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác.”
Như vậy pháp luật chuyên ngành chỉ đưa ra quy định về những nội dung cơ
bản HĐTD phải có mà không đưa ra một định nghĩa cụ thể về HĐTD. Trong hợp
đồng tín dụng mà cụ thể đối tượng chính là quan hệ tín dụng bản chất là một quan
8
hệ dân sự nên HĐTD cũng là một dạng cụ thể của hợp đồng dân sự. Từ khái niệm
hợp đồng được quy định theo Điều 385 BLDS năm 2015 quy định: “Hợp đồng là sự
thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ
dân sự”, từ cách giải thích từ BLDS trên ta có thể nhân rộng ra thành “HĐTD là sự
thỏa thuận bằng văn bản giữa TCTD (bên cho vay) với tổ chức, cá nhân có đủ những
điều kiện luật định (bên vay), theo đó TCTD chuyển giao một số tiền tệ cho bên vay sử
dụng trong một thời hạn nhất định, với điều kiện có hoàn trả cả gốc và lãi”.
Theo cách hiểu hiện nay, khi nói đến HĐTD nghĩa là nói đến HĐTD ngân
hàng, do đó trong luận văn nghiên cứu thạc sỹ lần này để có sự thống nhất chỉ sử
dụng thuật ngữ HĐTD. Trong phạm vi nghiên cứu của công trình này, HĐTD được
đề cập từ đây về sau là HĐTD giữa TCTD và khách hàng vay vốn.
1.1.2. Đặc điểm
HĐTD mang những đặc điểm chung của hợp đồng dân sự song vụ nhưng vẫn
có những nét khác biệt cụ thể như sau:
Thứ nhất, về hình thức, HĐTD bắt buộc phải được lập thành văn bản, hầu hết
là hợp đồng theo mẫu. Việc tồn tại HĐTD bằng lời nói là không khả thi bởi tầm
quan trọng của việc giao kết, thực hiện và giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD.
Với HĐTD bằng văn bản, các bên có thể thực hiện hợp đồng trong sự đảm bảo
an toàn trong khuôn khổ pháp lí và tất nhiên, khi có tranh chấp xảy ra, HĐTD sẽ là
căn cứ xác thực nhất để các cơ quan tài phán giải quyết tranh chấp. Đa phần các
HĐTD là hợp đồng theo mẫu, chủ thể cho vay là TCTD soạn thảo dựa trên các quy
định của pháp luật và phù hợp với quy chế cho vay của TCTD. Bên vay thường phải
là quan hệ cho thuê tài chính, thông qua hợp đồng thuê mua tài chính chứ không
phải là hoạt động cho vay.
Về nguyên tắc đối tượng của HĐTD bao giờ cũng là một số tiền xác định,
được các bên thỏa thuận và ghi rõ trong hợp đồng. Đây chính là điểm khác biệt rõ
rệt nhất của hợp đồng tín dụng so với các hợp đồng dân sự khác. Theo đó, xét thấy
đối với các hợp đồng khác, đối tượng của hợp đồng rất đa dạng có thể là hàng hoá,
dịch vụ nói chung còn trong HĐTD đối tượng của hợp đồng tín dụng ngân hàng
luôn luôn là tiền.
Thứ ba, về chủ thể trong mối quan hệ này thì bên cho vay trong HĐTD luôn là
TCTD. Theo quy định của pháp luật hiện hành quy định cụ thể tại điều 20 , khoản 1
10
luật các tổ chức tín dụng 2010 thì “Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp được thành
lập theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật để hoạt động
kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng
tiền gửi để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán”. TCTD bao gồm ngân
hàng và TCTD phi ngân hàng. Bên cho vay có thể là một hoặc nhiều TCTD (trường
hợp cho vay hợp vốn) thỏa mãn điều kiện luật định (được thành lập và hoạt động
theo Luật Các tổ chức tín dụng và các văn bản liên quan; có chức năng hoạt động,
kinh doanh tín dụng)
Thứ tư, HĐTD phải được tuân thủ chặt chẽ về các nội dung bắt buộc: Năng
lực chủ thể của các bên tham gia quan hệ tín dụng, mục đích sử dụng vốn vay, giới
hạn vốn vay. TCTD không được cho vay vốn nhằm đáp ứng các nhu cầu bị cấm
theo quy định của pháp luật, không được cho vay đối với các trường hợp bị cấm, bị
hạn chế .
Thứ năm, hợp đồng tín dụng có độ rủi ro cao. Theo đó bên cho vay chỉ có thể
nhận lại được số tiền đã cho vay cùng lãi suất sau một khoảng thời gian nhất định.
Thời gian càng dài thì rủi ro càng lớn. Tính rủi ro của hợp đồng tín dụng còn được
như: trả lãi tiền gửi, trả lương nhân viên…mà còn nhằm bù đắp những rủi ro có thể
xảy ra cho tổ chức tín dụng và cũng có thể là rủi ro của người gửi tiền. Vì vậy, việc
thu hồi lợi nhuận không chỉ xuất phát từ lợi ích của tổ chức tín dụng mà còn xuất
phát từ lợi ích của người gửi tiền và lợi ích của toàn xã hội.
Như vậy, hợp đồng tín dụng là hình thức pháp lý của quan hệ cho vay giữa tổ
chức tín dụng và khách hàng vay. Xuất phát từ tính chất và tầm quan trọng của nó
đối với nền kinh tế nên hợp đồng tín dụng ngân hàng có những nét đặc thù riêng. Vì
vậy, trong quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng các bên phải thoả mãn tất cả các
điều kiện đặt ra với hợp đồng tín dụng ngân hàng nhằm đảm bảo tính hiệu lực của
hợp đồng cũng như hạn chế các rủi ro có thể xảy ra cho các bên trong quan hệ hợp
đồng.
1.2 Lãi suất
Với vai trò đảm bảo quyền và nghĩa vụ cho các bên tham gia vào quan hệ tín
dụng, HĐTD trở nên rất quan trọng. Đặc biệt các bên phải chú ý đến nội dung của
hợp đồng, hợp đồng với những điều khoản chặt chẽ sẽ ràng buộc các bên thực hiện
đúng trách nhiệm của mình, từ đó cũng góp phần giảm bớt các tranh chấp phát sinh
12
và thúc đẩy sự phát triển trong hoạt động kinh doanh của cả TCTD và chủ thể đi
vay. Một trong những điều khoản không thể thiếu của HĐTD là lãi suất cho vay.
Khi các bên có sự đồng thuận ý chí và nghiêm túc thực hiện nghĩa vụ về lãi và lãi
suất thì HĐTD mới có đầy đủ ý nghĩa.
1.2.1. Khái niệm
Được đề cập trong nhiều tài liệu lịch sử với những khía cạnh góc nhìn khác
nhau, nhưng nhìn chung khái niệm lãi suất tương đối thống nhất và không có quá
nhiều khác biệt.
Dưới góc độ kinh tế, có thể hiểu: Lãi suất tín dụng còn gọi là tỉ suất lợi tức, là
tỉ lệ phần trăm giữa tổng số lợi tức thu được trong một thời gian (ngày, tuần, tháng,
Lãi suất cho vay ngân hàng (lãi suất tín dụng): người vay tiền phải trả cho
ngân hàng khi vay. Được chia thành nhiều mức lãi dựa theo hình thức vay là vay
kinh doanh, trả góp, vay qua thẻ tín dụng, vay ngắn hạn…
Lãi suất chiết khấu ngân hàng: áp dụng khi một cá nhân xin vay dưới dạng
chiết khấu thương phiếu hoặc các giấy tờ cá giá trị. Được tính với tỷ lệ phần trăm
theo mệnh giá thương phiếu, khấu trừ ngay từ ban đầu khi nhận tiền vay.
Lãi suất tái chiết khấu: được ngân hàng Trung Ương áp dụng đối với các ngân
hàng thương mại khi cho vay tái chiết khấu dưới dạng thương phiếu và giấy tờ có
giá trị ngắn hạn chưa đến hạn thanh toán.
Lãi suất liên ngân hàng: áp dụng khi cho vay trên thị trường liên ngân hàng,
giữa các ngân hàng với nhau qua quan hệ cung cầu vốn. Lãi suất liên ngân hàng
được quy định bởi Ngân hàng Trung Ương, phụ thuộc vào sự phát triển của thị
trường và tỷ trọng sử dụng vốn.
- Căn cứ giá trị thực
Dựa theo giá trị của khoản vay, người ta cũng chia lãi suất thành 2 loại.
Lãi suất danh nghĩa: được tính theo giá trị danh nghĩa, chưa bao gồm chỉ số
tác động của lạm phát và công bố trên hợp đồng tín dụng.
Lãi suất thực tế: được điều chỉnh từ lãi suất danh nghĩa, và những tác động của
lạm phát thời điểm đó.
Theo đó: Lãi suất danh nghĩa = Lãi suất thực + Tỷ lệ lạm phát.
- Căn cứ tính linh hoạt của lãi suất
Lãi suất cố định: Cố định trước và trong thời gian vay, có thể biết trước để
14
người vay tiền có thể quyết định vay hay không. Tuy vậy lãi suất cố định lại hạn
chế khi không được thay đổi trong thời gian mặc cho những biến động của lãi suất
thị trường.
Lãi suất thả nỗi: Ngược lại với lãi suất cố định, khi có thể thay đổi tùy theo lãi
Lãi suất cho vay ở Việt Nam chủ yếu có ba loại là lãi suất cho vay của NHNN
đối với các TCTD, lãi suất của các TCTD với nhau và lãi suất của TCTD với khách
hàng. Trong phạm vi nghiên cứu của khóa luận này, khi nói đến lãi suất cho vay
trong HĐTD nghĩa là nói đến lãi suất của TCTD với khách hàng đi vay.
Hoạt động cho vay của TCTD được thể hiện dưới nhiều hình thức như cho vay
ngắn hạn, trung hạn và dài hạn căn cứ vào thời hạn tín dụng tương ứng với từng loại
lãi suất cụ thể. Cho vay ngắn hạn (ứng với lãi suất ngắn hạn) là cho vay với thời hạn
dưới 12 tháng thường để bù bắp sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và
các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân. Cho vay trung hạn (ứng với lãi suất
trung hạn) là cho vay với thời hạn từ 12 tháng đến 60 tháng (một số nước là 84
tháng), phục vụ cho nhu cầu mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới máy
móc thiết bị, xây dựng các dự án mới có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn
nhanh. Cho vay dài hạn (ứng với lãi suất dài hạn) là cho vay với thời hạn trên 60
tháng cho mục đích xây dựng nhà ở, phương tiện vận tải quy mô lớn, xây dựng các
công trình, nhà máy…
Lãi suất cho vay có những đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, lãi suất cho vay được phát sinh trong các hợp đồng vay tài sản.
Trong hợp đồng vay tài sản, đặc biệt là HĐTD, thỏa thuận về lãi suất là một điều
khoản tất yếu, đó là cơ sở để tính phần giá trị tăng thêm mà TCTD được nhận từ
khoản cho vay, cũng chính là một phần thu nhập của TCTD.
Thứ hai, lãi suất cho vay không được phát sinh một cách độc lập, nó chỉ hình
thành do thoả thuận của các bên sau khi đã thoả thuận được số tiền vay. Bản chất
của lãi suất là tỉ lệ phần trăm giữa tổng số lợi tức thu được trong một thời gian với
tổng số vốn bỏ ra cho vay trong cùng thời gian đó, như vậy chỉ tồn tại tỉ lệ phần
trăm này khi tồn tại số tiền gốc mà các bên thỏa thuận.
Thứ ba, lãi suất không chỉ được xác định dựa trên số vay gốc và thời hạn vay
mà còn dựa trên khả năng tài chính và uy tín của khách hàng. Khách hàng vay được
áp dụng lãi suất thực tế tại thời điểm đó, tương ứng với số nợ gốc nhiều hay ít, thời
hạn vay dài hay ngắn mà các bên có thể thoả thuận mức lãi suất cho phù hợp.
03/02/2005 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế cho vay ban hành
kèm theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN. Theo đó, thời điểm chuyển nợ quá
17
hạn được xác định như sau: “Đối với khoản nợ vay không trả đúng hạn, được
TCTD đánh giá là không có khả năng trả nợ đúng hạn và không chấp thuận cho cơ
cấu lại thời hạn trả nợ thì số dư nợ gốc của HĐTD đó là nợ quá hạn và TCTD thực
hiện các biện pháp để thu hồi nợ, việc phạt chậm trả đối với nợ quá hạn và nợ lãi
vốn vay do hai bên thoả thuận trên cơ sở quy định của pháp luật.”
Với quy định như vậy về nợ quá hạn. Theo quy định tại khoản 2 Điều 468
BLDS năm 2015, trường hợp không rõ hoặc có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất
được xác định bằng 50% mức lãi suất theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật
này. Theo quy định này mức lãi suất trong trường hợp không rõ hoặc có tranh chấp
sẽ là 10%/01 năm (tức 0,83%/tháng).
So với quy định tại khoản 2 Điều 476 BLDS năm 2005 thì trường hợp không
rõ về lãi suất hoặc các bên đương sự có tranh chấp về lãi suất thì áp dụng lãi suất cơ
bản do ngân hàng nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả
nợ. Theo quy định này thì mức lãi suất có tranh chấp là 0,75%/01 tháng. Như vậy,
mức lãi suất trong trường hợp không rõ hoặc có tranh chấp về lãi suất theo quy định
của BLDS năm 2015 không phụ thuộc vào lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước
và mức lãi lớn hơn so với quy định của BLDS năm 2005.
Việc thay đổi này đã giải quyết được mâu thuẫn giữa quy định tại khoản 1
Điều 476 BLDS năm 2005 với Điều 1 của Thông tư số 07/2010/TT-NHNN ngày
26/02/2010 của Ngân hàng Nhà nước quy định về cho vay bằng đồng Việt Nam
theo lãi suất thỏa thuận của tổ chức tín dụng đối với khách hàng.
Theo quy định tại Điều 12 Luật Ngân hàng Nhà nước năm 2010 và khoản 2
khoản 3 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, trong điều kiện bình thường,
lãi suất trong hoạt động ngân hàng sẽ thực hiện theo cơ chế tự thỏa thuận, không có
vào đó, việc trả lãi trước hoặc sau thời hạn vẫn có thể coi là đúng hạn và phải tính
bằng lãi suất trong hạn. Đó là các trường hợp do sự kiện bất ngờ hay sự kiện bất khả
kháng mà bên vay không thể thực hiện nghĩa vụ trả nợ của mình đúng hạn hoặc
được bên cho vay chấp nhận không phải trả lãi quá hạn khi quá thời hạn vay.
Như vậy có thể thấy rằng hiện nay cùng tồn tại hai quy định khác nhau về lãi
suất đối với khoản nợ quá hạn, và việc áp dụng quy định nào còn phải được xem xét
về giá trị pháp lí của văn bản. Thực tế các bên tham gia quan hệ tín dụng và cơ quan
có thẩm quyền áp dụng văn bản nào sẽ được phân tích cụ thể tại phần 2.1.3.
19
1.2.2.3. Căn cứ vào sự ổn định của lãi suất
Khi thỏa thuận lãi suất trong hạn, các bên có thể thỏa thuận lãi suất cố định
hoặc lãi suất thả nổi.
Lãi suất cố định là lãi suất được ấn định một mức cụ thể trên HĐTD,
không chịu tác động của những biến động lãi suất thị trường. Lãi suất này
không thay đổi trong suốt thời gian vay vốn tại TCTD, thông thường áp dụng
trong cho vay ngắn hạn.
Lãi suất thả nổi là lãi suất được điều chỉnh theo từng thời kì, biến đổi theo thời
gian. Mức điều chỉnh và kì điều chỉnh lãi suất sẽ theo thỏa thuận giữa khách hàng
và TCTD và được quy định rõ trong HĐTD. Thông thường lãi suất thả nổi được áp
dụng trong cho vay trung và dài hạn.
1.2.3. Vai trò của lãi suất
Một trong những vai trò của lãi suất giúp ngân hàng thương mại có lợi nhuận,
tăng trưởng, và cạnh tranh với các ngân hàng thương mại khác. Bên cạnh đó lãi suất
còn thực hiện điều chỉnh lượng cung ứng tiền, từ đó tác động đến sự tăng giảm sản
lượng để thực hiện điều tiết nền kinh tế (ổn định lạm phát, công ăn việc làm và phát
triển sản xuất). Lãi suất tín dụng tác động tới tổng cung và tổng cầu thông qua tác
động tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, đến tiêu dùng và tiết kiệm của