VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LƯU HOÀNG GIANG
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ LÃI SUẤT TRONG HỢP
ĐỒNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG TỪ THỰC TIỄN XÉT XỬ
CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI, 2018
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LƯU HOÀNG GIANG
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ LÃI SUẤT TRONG HỢP
ĐỒNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG TỪ THỰC TIỄN XÉT XỬ
CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Chuyên ngành : Luật Kinh Tế
Mã số
: 838.01.07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
LIÊN QUAN ĐẾN LÃI SUẤT TRONG HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG NGÂN
HÀNG .........................................................................................................................6
1.1. Khái quát tranh chấp về lãi suất trong hợp đồng tín dụng ngân hàng..................6
1.2. Khái quát giải quyết tranh chấp về lãi suất trong hợp đồng tín dụng ngân hàng
...................................................................................................................................20
Chương 2. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
LIÊN QUAN ĐẾN LÃI SUẤT TRONG HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG NGÂN
HÀNG TỪ THỰC TIỄN XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TẠI THÀNH
PHỐ ĐÀ NẴNG.......................................................................................................28
2.1. Thực trạng các qui định pháp luật về giải quyết tranh chấp về lãi suất trong hợp
đồng tín dụng ngân hàng ...........................................................................................28
2.2. Thực tiễn xét xử giải quyết tranh chấp về lãi suất trong hợp đồng tín dụng ngân
hàng tại tòa án nhân dân trên địa bàn thành phố Đà Nẵng........................................38
Chương 3. PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢI
QUYẾT TRANH CHẤP VỀ LÃI SUẤT TRONG HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG
NGÂN HÀNG TỪ THỰC TIỄN XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TRÊN
ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG .....................................................................59
3.1. Căn cứ cho việc kiến nghị hoàn thiện pháp luật ................................................59
3.2. Một số kiến nghị cụ thể ......................................................................................61
KẾT LUẬN ..............................................................................................................66
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BLDS :
NHTMCP:
Ngân hàng thương mại cổ phần
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh đất nước hội nhập kinh tế quốc tế, nền kinh tế nước ta trong
những năm qua đã có nhiều sự đổi mới, phát triển với tốc độ vượt bậc. Cùng với đó,
ngành ngân hàng cũng đã có nhiều sự thay đổi, hiện đại hóa để đáp ứng được các
chuẩn mực quốc tế. Với việc các sản phẩm, dịch vụ tài chính – ngân hàng ngày càng
hiện đại, phong phú thì quan hệ tín dụng giữa TCTD và khách hàng vay vốn cũng
ngày càng đa dạng, phức tạp hơn. Số lượng vụ việc tranh chấp giữa TCTD và khách
hàng thể hiện thông qua tranh chấp HĐTD đang có xu hướng gia tăng trong những
năm gần đây. Các dạng tranh chấp phổ biến trong HĐTD như là tranh chấp về lãi
suất, nợ gốc, nợ lãi, giải ngân, xử lý tài sản đảm bảo.
Trên thực tế, mặc dù đã có nhiều cải thiện trong hệ thống pháp luật để phù
hợp hơn với sự phát triển của kinh tế thị trường nhưng việc giải quyết tranh chấp
trong hợp đồng tín dụng ngân hàng vẫn còn gặp nhiều bất cập do sự không thống
nhất và đầy đủ qui định pháp luật cũng như việc áp dụng pháp luật trong xử lý tranh
chấp của cơ quan xét xử. Thời gian qua, các qui định pháp luật về lãi suất trong hợp
đồng tín dụng đã có nhiều sự thay đổi với việc ra đời, cập nhật các văn bản qui
phạm pháp luật mới. Việc giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng vừa
đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đồng thời vẫn phù hợp với các qui
định pháp luật ngày càng trở nên cần thiết hơn bao giờ hết. Đồng thời, qua quá trình
khảo sát nghiên cứu của bản thân, tranh chấp về lãi suất trong hợp đồng tín dụng
ngân hàng là dạng tranh chấp thường gặp, có nhiều khó khăn trong công tác xét xử.
Do đó, học viên xin lựa chọn đề tài: “Giải quyết tranh chấp về lãi suất trong hợp
đồng tín dụng ngân hàng từ thực tiễn xét xử của toà án nhân dân tại thành phố Đà
Thắng, Học viện Khoa Học Xã Hội, 2017.
Trong quá trình nghiên cứu khảo sát của bản thân tác giả, xét đến khía cạnh
nghiên cứu sâu về tranh chấp lãi suất trong hợp đồng tín dụng ngân hàng chỉ có
công trình nghiên cứu “Tranh chấp về lãi suất trong hợp đồng tín dụng - thực trạng
và giải pháp” của tác giả Phạm Lê Ninh, trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí
Minh, 2010 tuy nhiên diễn biến các tranh chấp cũng như thực trạng qui định pháp
luật đã có nhiều thay đổi, khác biệt so với thời điểm mà tác giả này nghiên cứu. Do
đó, việc phân tích, làm rõ những khó khăn, hạn chế còn tồn đọng trong quá trình
2
giải quyết tranh chấp về lãi suất trong hợp đồng tín dụng ngân hàng phù hợp với qui
định pháp luật hiện nay là hết sức quan trọng và cần thiết.
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần hoàn thiện lý luận về các qui định
của pháp luật đối với lãi suất trong hợp đồng tín dụng ngân hàng. Đồng thời là cơ sở
để hoàn thiện công tác lập pháp và thực tiễn áp dụng pháp luật nhằm giải quyết
tranh chấp về lãi suất trong hợp tín dụng ngân hàng tại tòa án nhân dân.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu các tranh chấp về lãi suất cho vay trong hợp
đồng tín dụng giữa ngân hàng và khách hàng vay vốn từ thực tiễn xét xử giải quyết
tranh chấp về lãi suất trong hợp đồng tín dụng ngân hàng tại tòa án nhân dân thành
phố Đà Nẵng. Từ đó đưa ra phân tích về nguyên nhân cùng những khó khăn, vướng
mắc còn đang gặp phải trong quá trình áp dụng pháp luật nhằm đề ra những giải
pháp góp phần hoàn thiện các qui định của pháp luật, nâng cao hiệu quả của giải
quyết tranh chấp về lãi suất trong hợp đồng tín dụng, đảm bảo lợi ích của các bên.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được những mục tiêu đã nêu, luận văn phải thực hiện một số nhiệm vụ:
- Hệ thống hóa và làm rõ các vấn đề lý luận cơ bản về giải quyết tranh chấp
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Để có được kết quả trình bày trong luận văn, tác giả đã sử dụng, phối hợp
nhiều phương pháp khoa học như:
- Phương pháp nghiên cứu, phân tích, tổng hợp, so sánh: được tác giả sử
dụng chủ yếu xuyên suốt nội dung luận văn nhằm tìm kiếm, nghiên cứu, phân tích,
so sánh các qui định pháp lý ở thời điểm xảy ra tranh chấp từ đó tổng hợp đưa ra
các kết luận về thực trạng cũng như các kiến nghị hoàn thiện pháp luật và thực tiễn
áp dụng pháp luật.
- Phương pháp khảo sát, thống kê thực tế: nhằm sưu tầm các trường hợp
tranh chấp về lãi suất hợp đồng tín dụng đươc giải quyết tại tòa án nhân dân trên địa
bàn thành phố Đà Nẵng.
6. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Những phân tích, đánh giá, kết quả nghiên cứu của luận văn là căn cứ hoàn
thiện lý luận về qui định về lãi suất trong hợp đồng tín dụng giữa TCTD và khách
hàng vay vốn.
4
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Những đánh giá, kiến nghị hoàn thiện pháp luật của luận văn là căn cứ để
hoàn thiện công tác lập pháp cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật trong giải quyết
tranh chấp lãi suất trong hợp đồng tín dụng.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tham khảo. Kết cấu của
luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về giải quyết tranh chấp liên quan đến lãi
suất trong hợp đồng tín dụng ngân hàng.
Chương 2: Thực trạng pháp luật về giải quyết tranh chấp liên quan đến lãi
bên thoả thuận hoặc do pháp luật quy định. Căn cứ vào lãi suất số tiền vay và thời
gian vay mà bên vay phải trả một số tiền nhất định. Số tiền này tỉ lệ thuận với lãi
suất, số tiền đã vay và thời gian vay.
1.1.1.2. Phân loại lãi suất
Dưới góc độ luật học và phạm vi nghiên cứu luận văn, chúng ta tập trung
nghiên cứu lãi suất trong quan hệ tín dụng ở các nội dung:
6
*Căn cứ theo tính chất khoản vay, có thể phân lãi suất thành:
- Lãi suất cơ bản
Lãi suất cơ bản là một công cụ để thực hiện chính sách tiền tệ của Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam trong ngắn hạn. Theo Luật Ngân hàng Nhà nước, lãi suất cơ
bản chỉ áp dụng cho Đồng Việt Nam, do Ngân hàng Nhà nước công bố, làm cơ sở
cho các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất kinh doanh. Lãi suất cơ bản được xác định
dựa trên cơ sở lãi suất thị trường liên ngân hàng, lãi suất nghiệp vụ thị trường mở
của Ngân hàng Nhà nước, lãi suất huy động đầu vào của tổ chức tín dụng và xu
hướng biến động cung-cầu vốn.
Lãi suất cơ bản chỉ được công bố lần đầu vào ngày 02 tháng 8 năm 2000 theo
Quyết định số 242/2000/QĐ-NHNN được áp dụng từ ngày 05/08/2000. Trong lần
đầu được công bố, lãi suất cơ bản ở mức 8%/năm. Hiện nay, lãi suất cơ bản là
9%/năm được qui định trong Quyết định 2868/QĐ-NHNN ngày 29/11/2010 về Mức
lãi suất cơ bản bằng Đồng Việt Nam của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành
ngày 29/11/2010. Trước khi Luật các Tổ chức tín dụng 2010 được ban hành thì
trong hợp đồng vay tài sản: “Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không được
vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại
cho vay tương ứng” - Khoản 1, điều 476 Bộ Luật Dân Sự 2005.
- Lãi suất huy động
Lãi suất huy động được hiểu là lãi suất áp dụng với các khoản tiền vốn mà tổ
bởi quan hệ cung – cầu tiền trung ương của các tổ chức tín dụng và chịu sự chi phối
bởi lãi suất tái cấp vốn của Ngân hàng Trung ương. Mức độ chi phối này phụ thuộc
vào sự phát triển của nghiệp vụ thị trường mở và tỷ trọng sử dụng vốn vay Ngân
hàng Trung ương của các tổ chức tín dụng. Giữa lãi suất tái chiết khấu, lãi suất liên
ngân hàng và lãi suất chiết khấu của ngân hàng trung gian có mối quan hệ chặt chẽ
với nhau. Với một thị trường tài chính phát triển, sự thay đổi lãi suất tái chiết khấu
tạo nên những phản ứng dây truyền giữa các mức lãi suất. Kết quả cuối cùng sẽ thay
đổi mặt bằng lãi suất phù hợp mục tiêu của Ngân hàng Trung ương.
- Lãi suất cho vay
Là lãi suất được áp dụng để tính lãi tiền vay mà khách hàng phải trả ngân
hàng. Về mặt nguyên tắc mức lãi suất cho vay bình quân phải cao hơn mức lãi suất
tiền gửi bình quân, và có sự phân biệt giữa các khoản vay với thời hạn khác nhau
8
cũng như mức rủi ro khác nhau. Sự thay đổi lãi suất cho vay có tác động tới quy mô
cho vay và khả năng cung ứng tiền của hệ thống ngân hàng trung gian. Vì cơ chế
này mà Ngân hàng Trung ương có thể thực hiện mục tiêu nới lỏng hoặc thắt chặt
cung ứng tiền bằng cách ảnh hưởng tới lãi suất tiền vay của các ngân hàng áp dụng
đối với nền kinh tế.
Điều 10, thông tư 39/2016/TT-NHNN về hoạt động cho vay của TCTD, chi
nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng qui định:
“Tổ chức tín dụng xem xét quyết định cho khách hàng vay theo các loại cho
vay như sau:
1. Cho vay ngắn hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay tối đa 01(một) năm.
2. Cho vay trung hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay trên 01(một) năm
và tối đa 05 (năm) năm.
3. Cho vay dài hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay trên 05(năm) năm.”
Cho vay ngắn hạn (ứng với lãi suất ngắn hạn) là cho vay để bù bắp sự thiếu
mặt lãi suất thì khi lãi suất thị trường tăng, khách hàng sẽ có lợi do số tiền phải trả
cho ngân hàng sẽ thấp hơn so với lãi suất hiện tại của thị trường. Ngược lại, nếu lãi
suất thị trường giảm, khách hàng sẽ chịu thiệt. Điều này cũng áp dụng cho cả ngân
hàng. Do đó, thông thường lãi suất cố định bao giờ cũng cao hơn lãi suất thả nổi và
chỉ áp dụng cho các khoản vay ngắn hạn
- Lãi suất thả nổi
Là lãi suất được ngân hàng tính toán lại căn cứ vào các chỉ số kinh tế vào
thời điểm đó và sẽ thông báo cho khách hàng theo từng thời kỳ. Việc điều chỉnh lãi
suất đều thể hiện cụ thể, rõ ràng trong hợp đồng tín dụng. Ví dụ như tại thời điểm
hiện tại, lãi suất cho vay được cố định trong thời hạn ba tháng kể từ ngày khách
hàng nhận tiền vay lần đầu và hết ba tháng đó, ngân hàng sẽ điều chỉnh lãi suất phù
hợp với mặt bằng chung của thị trường. Lãi suất thả nổi thường áp dụng cho các
khoản vay trung và dài hạn.
Theo điều 91- Lãi suất, phí trong hoạt động kinh doanh của Tổ chức tín
dụng, Luật tổ chức tín dụng 2010 thì “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền
thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín
dụng theo quy định của pháp luật” hay nói cách khác, lãi suất tín dụng được tự do
10
thoả thuận giữa TCTD và khách hàng chứ không chỉ giới hạn ở 20% so với lãi suất
của một hợp đồng vay tài sản thông thường (theo BLDS 2015)
*Ngoài các cách phân loại lãi suất như trên thì để dễ dàng cho việc tính lãi
đồng thời làm căn cứ xác định khi xảy ra tranh chấp trong hợp đồng tín dụng, căn
cứ vào thời hạn vay thì lãi suất còn được chia làm “lãi suất trong hạn” và “lãi suất
quá hạn”
- Lãi suất trong hạn
Là mức lãi suất được quy định trong hợp đồng mà bên vay phải trả cho bên
cho vay trên số tiền đã vay tương ứng với thời hạn cho vay mà các bên đã thoả thuận.
ngân hàng, được sử dụng trong cho vay trung và dài hạn. Mặc dù có sự khác biệt
khá lớn về kỳ vọng lãi suất với 2 loại tiền gửi này, tuy nhiên một chính sách lãi suất
hợp lý trong từng thời kỳ sẽ tạo ra nguồn vốn dồi dào phục vụ cho mục đích hoạt
động kinh doanh của ngân hàng. Lãi suất ưu đãi, hấp dẫn sẽ thu hút được nguồn tiền
nhàn rỗi của các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp; người gửi sẽ gửi tiền nhiều hơn;
việc có thêm một khoản sinh lời khi gửi tiền sẽ thu hút mọi đối tượng dù mục đích
người gửi chỉ là giao dịch, thanh toán hay là tiết kiệm, đầu tư.
Huy động vốn từ thị trường liên ngân hàng bao gồm các hoạt động vay, bán
giấy tờ có giá giữa các TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Huy động vốn
thông qua thị trường liên ngân hàng là một kênh huy động hiệu quả của ngân hàng
trong trường hợp NHNN siết chặt chính sách về lãi suất - áp trần lãi suất tiền gửi
hoặc thị trường kinh tế đang có nhiều biến động, khó khăn. Trong bối cảnh thị
trường tài chính – ngân hàng đang có sự cạnh tranh quyết liệt giữa nhóm ngân hàng
thương mại cổ phần tư nhân và nhóm ngân hàng nhà nước thì lãi suất cho vay trên
thị trường liên ngân hàng cũng có sự cạnh tranh mạnh mẽ. Với chính sách lãi suất
cho vay liên ngân hàng ưu đãi, ngân hàng có thể huy động được nguồn vốn lớn từ
chính các ngân hàng cạnh tranh khác để bù đắp cho lượng vốn thiếu hụt của mình.
- Thứ hai, chính sách lãi suất hợp lý tạo ra lợi nhuận chủ yếu cho ngân hàng
Các ngân hàng thương mại hiện nay đều cung ứng các sản phẩm dịch vụ rất
đa dạng, phong phú, từ dịch vụ tiền gửi, cho vay cho đến các dịch vụ bảo hiểm, môi
giới chứng khoán. Mặc dù các ngân hàng hiện đại đang chuyển dịch kinh doanh
theo hướng tăng thu các loại phí tuy nhiên chiếm tỉ trọng lớn trong lợi nhuận của
các ngân hàng thương mại hiện nay là từ hoạt động tín dụng mà lãi suất đóng vai trò
12
đặc biệt quan trọng trong việc tạo ra nguồn sinh lời này. Theo số liệu đến năm 2017,
lợi nhuận từ hoạt động tín dụng của các ngân hàng chiếm từ 70-90% hoạt động kinh
doanh của mình [31]. Thông qua mức lãi suất mà ngân hàng ấn định từ việc cho
tới quyền, nghĩa vụ của các bên trong HĐTD”.
1.1.2.2. Đặc điểm
Tranh chấp về lãi suất trong HĐTD là một trường hợp cụ thể của tranh chấp
HĐTD, do đó nó mang những đặc điểm chung của một tranh chấp HĐTD, đó là:
- Thứ nhất, tranh chấp HĐTD ngân hàng thường xuất phát từ sự bất cân xứng
thông tin giữa bên cho vay và bên đi vay
Sự bất cân xứng thông tin là việc một bên có nhiều thông tin hơn bên khác khi
thực hiện một giao dịch nào đó. Trong hoạt động tín dụng ngân hàng, tổ chức tín
dụng với vai trò là bên cho vay nhưng lại đứng ở vị trí là bên yếu thế hơn khách
hàng vay vốn – bên đi vay về thông tin, được thể hiện ở các mặt: mục đích khoản
vay, quy mô tổ chức, năng lực tài chính, uy tín, tài sản đảm bảo…
Trước khi quyết định về khoản vay cũng như lãi suất trong hợp đồng, việc đầu
tiên tổ chức tín dụng phải làm là đánh giá mức độ rủi ro của khách hàng. Việc đảm
bảo khách hàng sử dụng tiền vay vào đúng dự án, mục tiêu đã được ngân hàng đánh
giá là có hiệu quả lúc đầu là cơ sở vững chắc để ngân hàng thu hồi được đúng số
tiền vay kèm theo lợi nhuận như đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Tuy nhiên
trên thực tế, khách hàng thường có xu hướng che dấu các thông tin bất lợi về dự án
hay mục đích sử dụng khoản vay của mình. Kể cả sau khi ký kết hợp đồng tín dụng
khách hàng vay vốn vẫn thường xuyên sử dụng khoản vay vào các mục đích không
giống như cam kết ban đầu như: đầu tư vào các dự án mạo hiểm hơn, trả khoản nợ
vay khác hay đơn giản là chính khách hàng không có ý định trả nợ khi đi vay...
Chính điều này đã ảnh hưởng đến khả năng thanh toán khoản vay của khách hàng
sau này và là căn nguyên phát sinh các tranh chấp trong hợp đồng tín dụng.
Ngoài việc đánh giá mục đích sử dụng khoản vay, khi duyệt hồ sơ vay vốn, tổ
chức tín dụng còn phải cân nhắc đến các yếu tố uy tín, năng lực tài chính, quy mô
hoạt động. Hiện nay, ngân hàng nói chung đa phần đánh giá uy tín khách hàng dựa
vào các quan hệ tín dụng mà khách hàng đã tham gia từ trước đến nay hay còn gọi
là “tra cứu CIC- tra cứu thông tin tín dụng của khách hàng”. Khách hàng được đánh
14
vay lớn, dự án thực hiện có quy mô, khách hàng là các doanh nghiệp uy tín... còn với
15
các doanh nghiệp vừa và nhỏ, hộ kinh doanh gia đình hay cá nhân dùng tài sản đảm
bảo để vay với khối lượng nhỏ thì việc xác định giá trị tài sản vẫn phụ thuộc nhiều
vào cảm nhận của cán bộ tín dụng. Chính điều này đã làm tăng rủi ro khi cho vay, tạo
cơ sở cho những tranh chấp phát sinh khi thực hiện hợp đồng tín dụng.
- Thứ hai, tranh chấp HĐTD luôn có sự tham gia của một bên là TCTD và
phần lớn các tranh chấp HĐTD thì nguyên đơn là tổ chức tín dụng cho vay, bị đơn
là bên đi vay.
Với đặc thù của hoạt động tín dụng là sự cung ứng nguồn vốn đến những tổ
chức, cá nhân có nhu cầu về vốn trên cơ sở huy động của các tổ chức, cá nhân có
thừa nguồn vốn trong xã hội nên TCTD luôn đóng vai trò trung gian trong mối quan
hệ này. Sự tham gia của TCTD là một dấu hiệu đặc trưng nhằm phân biệt giữa tranh
chấp HĐTD và tranh chấp hợp đồng vay tài sản thông thường giữa các tổ chức, cá
nhân khác mà không phải là TCTD.
Về lý thuyết, khi tham gia ký kết HĐTD, các TCTD và khách hàng có địa vị
ngang bằng nhau tham gia thỏa thuận. Nhưng với tư cách là chủ thể có nguồn vốn
dồi dào, việc áp đặt các điều kiện cho vay đối với khách hàng là điều không hiếm
xảy ra. Hơn nữa, khi tham gia kí kết hợp đồng thì hợp đồng thường do bên cho vay
là các TCTD soạn thảo với đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn về mặt pháp lý
nhất định. Trong khi đó, chủ thể đi vay là khách hàng thường là các tổ chức, cá
nhân, trình độ chuyên môn về mặt pháp lý của họ còn thấp và nhiều khi không được
chú trọng đúng mức. Và như vậy là hợp đồng được kí kết với các điều khoản chặt
chẽ nhằm bảo đảm cho quyền lợi của TCTD khi bên vay không trả nợ hay trả không
đúng nghĩa vụ. Do đó, khi tranh chấp xảy ra thì TCTD luôn nắm đằng chuôi với các
điều khoản được ghi nhận một cách chặt chẽ, rõ ràng trong hợp đồng được sự đồng
thuận của cả hai bên. Vì vậy, nếu có tranh chấp xảy ra thì là do bên đi vay vi phạm,
gian xác định, bên đi vay có nghĩa vụ hoàn trả đầy đủ cả gốc lẫn lãi cho tổ chức tín
dụng theo thoả thuận giữa hai bên. Hợp đồng tín dụng phần lớn là hợp đồng theo
mẫu do ngân hàng soạn thảo sẵn, hợp đồng tín dụng được ký kết khi khách hàng
đồng ý với những điều khoản, thoả thuận trong hợp đồng bao gồm lãi suất. Do đó,
tranh chấp về lãi chấp trong hợp đồng tín dụng thông thường chỉ xảy ra khi có một
bên vi phạm nghĩa vụ hợp đồng đã được ký kết.
Một vài trường hợp xảy ra tranh chấp trong quá trình thực hiện hợp đồng do
17
một trong hai bên muốn điều chỉnh lãi suất đã thoả thuận nhưng không được bên
còn lại chấp thuận.
1.2.3. Các tranh chấp phổ biến về lãi suất trong hợp đồng tín dụng
Tranh chấp về lãi suất trong hợp đồng tín dụng là một dạng của tranh chấp
trong quan hệ dân sự do đó nó rất đa dạng. Qua quá trình tìm hiểu từ thực tiễn xét
xử tại toà án, tác giả nhận thấy có một số dạng tranh chấp phổ biến như sau:
- Dạng thứ nhất, tranh chấp từ cách xác định tiền lãi và mức lãi suất trong
hợp đồng tín dụng.
Hợp đồng tín dụng chỉ phát sinh khi có nhu cầu thực sự của các bên cấp tín
dụng và khách hàng. Để được nhận khoản tín dụng từ tổ chức tín dụng, khác hàng
thường mong nhận được khoản vốn mình cần trong thời gian gần nhất mà không
phải lúc nào cũng quan tâm đến các điều khoản hợp đồng, đặc biệt là điều khoản về
lãi suất. Thêm nữa, các tổ chức tín dụng thường xây dựng những trường hợp cấp tín
dụng cho khách hàng trong những tình huống được giả định trước, cho cả khách
hàng là tổ chức (khách hàng doanh nghiệp) và cá nhân. Hình thức thể hiện thường
được thể hiện dưới dạng sản phẩm hoặc nhóm sản phẩm tín dụng. Theo các sản
phẩm, điều khoản lãi suất được xây dựng mang tính chuyên nghiệp và có lợi cho tổ
chức tín dụng cho vay mà không phải cá nhân hay tổ chức đi vay nào cũng quan
cho này điều này là lãi chồng lãi, tăng gánh nặng cho bên đi vay.
- Dạng thứ tư, thỏa thuận thay đổi lãi suất khi thời hạn hợp đồng còn hiệu lực
*TCTD yêu cầu nâng lãi suất trong thời hạn hợp đồng còn hiệu lực
Hiện nay, với sự biến động khôn lường của thị trường tài chính, để đảm bảo
lợi nhuận của mình thì với các hợp đồng tín dụng trung và dài hạn, ngân hàng
thường áp dụng lãi suất thả nổi. Đây là loại lãi suất không cố định, thay đổi liên tục,
biến động theo tình hình thị trường. Theo đó, trong suốt quá trình vay vốn, khách
hàng sẽ chịu mức lãi suất liên tục biến động. Lãi suất chung trên thị trường tăng, lãi
suất vay vốn của khách hàng sẽ điều chỉnh tăng và ngược lại. Chính bởi sự thay đổi
theo thị trường nên nhiều khi việc tăng lãi suất của ngân hàng gây bất bình đối với
khách hàng vay vốn. Khi có tranh chấp xảy ra, các bên tranh chấp sẽ yêu cầu toà án
sẽ xem xét lại lãi suất thoả thuận.
*Với những khách hàng vi phạm nghĩa vụ trả nợ do gặp khó khăn bất thường
về tài chính thì ngân hàng đều cân nhắc cơ cấu lại thời hạn trả nợ cho khách hàng
khi có yêu cầu đồng thời xem xét miễn/giảm lãi cho khách hàng nếu khách hàng trả
nợ đúng hạn trong thời gian kế tiếp. Tuy nhiên nhiều trường hợp khách hàng vẫn
19