Giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng từ thực tiễn xét xử của tòa án nhân dân tại thành phố hải phòng - Pdf 49

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ LÂM VÂN

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG
NGÂN HÀNG TỪ THỰC TIỄN XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN

NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 8.38.01.07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. NGUYỄN NHƯ PHÁT

HÀ NỘI, 2018


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu,
trích dẫn nêu trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và có nguồn gốc rõ ràng.
Những kết luận khoa học hay những nhận xét của luận văn chưa được công bố trong
bất cứ công trình nào.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN

NGUYỄN THỊ LÂM VÂN



1.2. Khái

quát

pháp luật

về giải

quyết tranh

chấp

hợp đồng

tín

dụng tại Tòa án …...………………………………………………………………. 25
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT
CÁC TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG ................................................................................. . 28
2.1.

Thực

trạng

pháp

luật



đồng

tín

dụng

ngân

hàng tại Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng …..……………….…………….. .. .40
Chương 3: GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ VỀ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP HỢP
ĐỒNG TÍN DỤNG TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
….……………………...………………………………………………………….. . 60
3.1. Yêu cầu đối với định hướng hoàn thiện pháp luật giải quyết
tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tòa án …...…………………………………….. . 60
3.2. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp hợp
đồng tín dụng tại Tòa án …........................................................................................ 65
KẾT LUẬN…………… ............................................................................................ 75
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................... … 76


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BLDS :

Bộ luật Dân sự

BLTTDS:


42

phố Hải Phòng
2.2

Số liệu thống kê các vụ án xét xử phúc thẩm tại Tòa án nhân dân
thành phố Hải Phòng

42


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đại hội Đảng lần thứ VI và những văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam đã
mở đường cho công cuộc đổi mới đất nước theo hướng chuyển đổi nền kinh tế kế
hoạch hóa tập trung bao cấp sang kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ
nghĩa. Trong 20 năm qua, công cuộc đổi mới nền kinh tế đã đạt được nhiều thành
công, các chỉ số kinh tế cơ bản như GDP, xuất nhập khẩu, đầu tư, thu chi ngân sách
nhà nước đều đạt cao và bền vững, tệ nạn xã hội được đẩy lùi, đời sống nhân dân
được cải thiện rõ rệt. Căn cứ vào định hướng phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và
Chính phủ, nhiệm vụ của ngành ngân hàng, từng ngân hàng đã xây dựng và thực thi
chính sách tín dụng riêng phù hợp, góp phần đáng kể vào việc chuyển dịch cơ cấu
kinh tế. Cùng với nguồn vốn ngân sách, tín dụng ngân hàng đã góp phần vào việc
thực hiện thành công nhiều chương trình, dự án lớn của quốc gia và của các ngành
kinh tế mũi nhọn, nhất là khu vực công nghiệp - xây dựng và khu vực nông nghiệp.
Đây là hai nhóm ngành đóng góp lớn nhất cho tăng trưởng kinh tế của đất nước.
Khủng hoảng kinh tế toàn cầu nổ ra vào năm 2008, nền kinh tế của các
cường quốc trên thế giới đều trên đà đi xuống kéo theo nền kinh tế các nước đang
phát triển trên thế giới. Việt Nam chìm trong vòng xoáy tăng trưởng chậm khi các
thị trường xuất khẩu lớn bị ảnh hưởng, sức mua trong nước giảm. Ngành ngân hàng

cũng như góp phần ổn định phát triển nền kinh tế Việt Nam.
Để có một cái nhìn khách quan nhất đem lại kết quả tốt trong việc hoàn
thiện, cải thiện pháp luật về tranh chấp tín dụng của ngân hàng thương mại cần kết
hợp tổng thể cả cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của vấn đề này. Việc gắn nghiên
cứu với một địa bàn cụ thể giúp ta nhìn rõ ràng hơn những thuận lợi khó khăn trong
trình tự thủ tục giải quyết tranh chấp từ đó đánh giá được việc áp dụng pháp luật
vào thực tiễn nảy sinh những vẫn đề thực tế. Đó là lý do tôi chọn đề tài “Giải quyết
tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng từ thực tiễn xét xử của tòa án nhân dân tại
Thành phố Hải Phòng”. Mong muốn thông qua đề tài nghiên cứu giúp tôi có thể
học hỏi thêm kinh nghiệm thực tế nâng cao kiến thức pháp luật về lĩnh vực tín dụng
từ đó đưa ra được các giải pháp nâng cao giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng
tại Tòa án.

2


2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng được xây dựng bởi rất
nhiều Luật, Bộ luật, nghị định, quy định hướng dẫn,… tuy nhiên trong thực tế vẫn
tồn tại nhiều bất cập cần hoàn thiện. Nắm bắt được tính cấp thiết của vấn đề này các
nhà khoa học đã thực hiện rất nhiều công trình nghiên cứu, bài viết trên tạp chí khoa
học nghiên cứu ở các góc độ khác nhau, trong số đó có thể kể đến:
- “Một số vấn đề pháp lý về hợp đồng tín dụng và thời hiệu khởi
kiện vụ án kinh tế về tranh chấp hợp đồng tín dụng”, Th.s Nguyễn Quỳnh
Chi.
-“Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về pháp luật hợp đồng ở Việt Nam
hiện nay” PGS.TS Nguyễn Như Phát, TS. Lê Thị Thu Thủy.
- Sách chuyên khảo “Các biện pháp bảo đảm tiền vay bằng tài sản
của các tổ chức tín dụng” do TS. Lê Thị Thu Thủy làm chủ biên, Nhà Xuất
bản Tư pháp 2006,

- Tìm được phương hướng hạn chế khó khăn và nâng cao giải pháp giải
quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng Tòa án.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Là những vấn đề lý luận, thủ tục và thực tiễn xét xử
về giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tòa án nhân dân Thành phố Hải
Phòng.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn không nghiên cứu toàn bộ các quy định của pháp luật về hợp đồng
tín dụng, mà chỉ tập chung nghiên cứu thủ tục, nội dung về tranh chấp hợp đồng tín
dụng còn có sự bất cập, khó khăn trong thực tiễn.
Trên cơ sở đó, luận văn phân tích thực trạng giải quyết tranh chấp hợp đồng
tín dụng tại Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng trong những năm gần đây.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu.
Sử dụng phương pháp kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, tổng hợp các
phương pháp nghiên cứu khoa học: phương pháp so sánh, thống kê; phương pháp
phân tích tổng hợp; phương pháp mô hình hóa, hệ thống hóa, khảo sát thực tế hoạt

4


động xét xử tại Tòa án cũng như khảo cứu các tài liệu liên quan đến công tác giải
quyết tranh chấp về hợp đồng tín dụng.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Kết quả của luận văn sẽ góp phần bổ sung và phát triển lý luận về vai trò của
pháp luật và áp dụng luật trong giải quyết các tranh chấp về hợp đồng tín dụng của
Tòa án nhân dân.
Luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo có ích với những Thẩm
phán, cán bộ Tòa án đang trực tiếp xét xử và giải quyết các tranh chấp về hợp đồng
tín dụng.

có hoặc không kèm khoản lãi. Quan hệ tín dụng giữa ngân hàng, các tổ chức tín
dụng khác với các cá nhân và doanh doanh nghiệp là tín dụng ngân hàng. Trong quá
trình các tổ chức tín dụng chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong thời
gian thỏa thuận có hình thành hợp đồng tín dụng, cũng theo đó bên đi vay có trách
nhiệm hoàn trả cả vốn gốc và khoản lãi cho tổ chức tín dụng khi đến hạn theo thỏa
thuận.
Theo điều 463 Bộ luật Dân sự 2015 “Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận
giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên
vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng
và chỉ phải trả lãi nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định.” [17, tr.195] có
thể thấy hợp đồng tín dụng hoàn toàn là một dạng của hợp đồng vay tài sản theo
quy định của pháp luật. Hợp đồng được thực hiện dựa trên sự thỏa thuận giữa các
bên, ngân hàng là bên cho vay và bên vay là các tổ chức cá nhân. Trong đó các điều

6


khoản về tài sản cho vay, thời hạn cho vay và trách nhiệm hoàn trả cả gốc và lãi của
bên đi vay được thể hiện dưới dạng văn bản. Hợp đồng vay tài sản giữa các tổ chức
tín dụng và các tổ chức cá nhân thì được gọi là hợp đồng tín dụng. Theo điều 385,
Bộ luật Dân sự 2015 : “ Hợp đồng là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập,
thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự. ” [17, tr.163] Về định nghĩa của
hợp đồng tín dụng không được pháp luật chuyên ngành chỉ ra cụ thể mà chỉ được
quy định về nội dung hợp đồng cần có.
Vậy từ đó ta có được khái niệm về hợp đồng tín dụng:“ Hợp đồng tín dụng
là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa bên cho vay là tổ chức tín dụng và bên vay là
cá nhân, tổ chức có đủ những điều kiện luật định, theo đó tổ chức tín dụng chuyển
giao một số tiền cho bên vay sử dụng vào mục đích và trong một thời hạn nhất định,
khi đến hạn, bên vay phải trả gốc và lãi được xác định theo lãi suất và các bên đã
thỏa thuận.” Hợp đồng tín dụng giúp ngân hàng thực hiện hoạt động cho vay như là

mục đích nhu cầu vay vốn và tiến hành thỏa thuận với bên cho vay là tổ chức tín
dụng. Khi ngân hàng quyết định cho khách hàng vay vốn, các điều khoản thỏa thuận
về điều kiện vay, mục đích sử dụng, số lượng vay, loại hình vay, hình thức đảm
bảo, thời hạn cho vay, trách nhiệm bên cho vay phải thực hiện nếu hoàn thành
không đúng với thỏa thuận cho vay,… được ghi lại trên hợp đồng tín dụng giữa hai
bên.
Thông thường, chủ thể cho vay soạn thảo hợp đồng trên quy định của pháp
luật và quy chế riêng của ngân hàng tạo lập thành hợp đồng theo mẫu. Bên vay
thường phải chấp nhận các điều khoản do bên cho vay đề ra trong hợp đồng mẫu, và
chỉ có rất ít trường hợp bên vay có khả năng thay đổi hay bổ sung các điều khoản có
lợi cho mình. Tuy nhiên khách hàng vẫn có thể tự do lựa chọn không giao kết nếu
như thấy hợp đồng mẫu có nhiều điểm bất lợi cho mình. Pháp luật vẫn có quy định
bảo vệ bên đi vay như điều 405 BLDS“Trường hợp hợp đồng theo mẫu có điều
khoản không rõ ràng thì bên đưa ra hợp đồng theo mẫu phải chịu bất lợi khi giải
thích điều khoản đó” “Trường hợp hợp đồng theo mẫu có điều khoản miễn trách
nhiệm của bên đưa ra hợp đồng theo mẫu, tăng trách nhiệm hoặc loại bỏ quyền lợi
chính đáng của bên kia thì điều khoản này không có hiệu lực, trừ trường hợp có
thỏa thuận khác.”[17, tr. 170].

8


Theo quy định của pháp luật thì hợp đồng được xác lập bằng nhiều hình
thức. Điều 119BLDS “Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản
hoặc bằng hành vi cụ thể.Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình
thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử được coi là
giao dịch bằng văn bản.”[17, tr. 59]. Vì vậy, hợp đồng tín dụng được ký kết ở dưới
bất kì dạng nào đều mang giá trị pháp lý như nhau. Hợp đồng tín dụng là một căn
cứ pháp lý quan trọng của các giao dịch cho vay vì vậy hợp đồng tín dụng dưới
dạng văn bản thường rõ ràng, công khai thường được sử dụng hơn cả. Hợp đồng ký

- Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn cho vay, hợp đồng tín dụng chia thành:
Cho vay tiêu dùng được sử dụng khi bên vay có nhu cầu vay tiền để sử dụng
vào mục đích sinh hoạt, mua sắm tiêu dùng phương tiện đi lại, nhà cửa, hay đồ gia
dụng,…
Cho vay kinh doanh trong khi bên vay cam kết vay tiền để sử dụng các mục
đích dành cho kinh doanh, như mua sắm máy móc, mở rộng nhà xưởng, chi phí sản
xuất hàng hóa hay thanh toán các khoản nợ.
- Căn cứ vào mức độ đảm bảo của các khoản vay, hợp đồng tín dụng chia
thành: có đảm bảo và không có đảm bảo.
Đối với các cá nhân, tổ chức có quan hệ thân tín với ngân hàng hoặc có uy
tín rất lớn đáng tin cậy thì có thể sử dụng hợp đồng tín dụng không cần đảm bảo. Ở
loại hợp đồng này thì hai bên ký kết một hợp đông tín dụng duy nhất hoặc xác lập
văn bản cảm kết bảo lãnh bằng uy tín cùng hợp đồng
Còn lại hầu hết các khách hàng đều áp dụng hợp đồng tín dụng có đảm bảo
để đảm bảo chắc chắn cho việc hoàn trả gốc và lãi khi tới thời hạn. Bên vay sẽ sử
dụng tài sản của mình hay người thứ ba để đảm bảo cho vay tín dụng tại ngân hàng
cho nên có thể ký kết cả hợp đồng tín dụng và hợp đồng bảo đảm tiền vay hoặc một
hợp đồng hợp tín dụng có tài sản đảm bảo
- Nếu căn cứ vào bản chất pháp lý, hợp đồng tín dụng chia thành:
Hợp đồng tín dụng sẽ là hợp đồng kinh tế khi được ký kết giữa các tổ chức
tín dụng với các tổ chức kinh tế hay cá nhân thỏa mãn vốn để sản xuất kinh doanh
theo nhu cầu cần thiết.

10


Hợp đồng tín dụng là hợp đồng dân sự khi được ký kết giữa ngân hàng và
khách hàng không thỏa mãn các điều kiện mà hợp đồng kinh tế, thương mại được
pháp luật quy định.
-Nếu căn cứ vào thời hạn cho vay, hợp đồng tín dụng chia thành:

nhân được thành lập ở nước ngoài và hoạt động hợp pháp tại Việt Nam, thời hạn
cho vay không quá thời hạn hoạt động hợp pháp còn lại của khách hàng; đối với cá
nhân có quốc tịch nước ngoài cư trú tại Việt Nam, thời hạn cho vay không vượt quá
thời hạn được phép cư trú còn lại tại Việt Nam.”[14, tr. 14].
- Về lãi suất cho vay: từ ngày 01/01/2017 Bộ luật Dân sự 2015 điều 468 có
hiệu lực thì theo điều 468 lãi suất vay đã được quy định theo thỏa thuận không được
vượt quá 20%/ năm của khoản tiền vay [17, tr. 197].
Đối với trường hợp khách hàng không trả được nợ gốc đúng kỳ hạn đã thỏa
thuận trong hợp đồng có văn bản đề nghị thì xem xét cho điều chỉnh kỳ hạn trả nợ và
nếu có văn bản đề nghị gia hạn nợ thì ngân hàng xem xét gia hạn nợ theo luật định.
Trường hợp khoản nợ vay bị chuyển nợ quá hạn, thì khách hàng phải trả lãi trên dư nợ
gốc bị quá hạn tương ứng với thời gian chậm trả, lãi suất áp dụng không vượt quá
150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn. [14, tr. 5].
- Về mức cho vay: mỗi khách hàng vay vốn mong muốn có được khoản vay
đủ để sử dụng cho nhu cầu mục đích của mình tuy nhiên cần tuân thủ theo các quy
định của pháp luật căn cứ vào khả năng hoàn trả nợ của khách hàng. Tổng mức dư
nợ cấp tín dụng đối với một khách hàng không được vượt quá 15% vốn tự có của
ngân hàng thương mại. Các quy định về hạn chế cấp tín dụng cũng quy định tổng
mức dư nợ cấp tín dụng đối với các đối tượng không quá 5%, 10%, hay 20% vốn tự
có tùy thuộc vào từng đối tượng khác nhau. [21, tr. 66].
1.1.2. Khái niệm, đặc điểm của tranh chấp hợp đồng tín dụng
* Khái niệm tranh chấp hợp đồng tín dụng
Xét theo góc độ thuật ngữ pháp lý, tranh chấp là sự xung đột hay mâu thuẫn
về quyền lợi và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ tranh chấp đó. Hợp đồng tín
dụng tồn tại, phát triển và phát sinh những tranh chấp về hợp đồng tín dụng. Tranh
chấp hợp đồng là sự mâu thuẫn, bất đồng ý kiến giữa các bên tham gia quan hệ hợp
đồng liên quan đến việc thực hiện hoặc không thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo

12



13


lớn do nguồn vốn lớn bị đọng trong khoảng thời gian tranh chấp hay khởi kiện trên
tòa. Bên vay cũng bị mất lòng tin và uy tín đối với ngân hàng trở về sau. Tranh chấp
tín dụng thường có thiệt hại giá trị lớn và làm ảnh hưởng tới cả hai bên và có thể
ảnh hưởng đến các bên có liên quan khác.
- Thứ hai: Tranh chấp HĐTD được giải quyết dựa trên nguyên tắc tự do thỏa
thuận trong khuôn khổ pháp luật của các bên tham gia tranh chấp.
Hợp đồng tín dụng chính là hợp đồng dân sự nên trong hợp đồng này sự thỏa
thuận giữa các bên tự định đoạt. Các điều khoản trong hợp đồng như số lượng vay,
tài sản đảm bảo, thời hạn vay, lãi suất đều được hai bên thỏa thuận vậy nên khi
tranh chấp xảy ra để đạt được hiệu quả tốt nhất và phù hợp với mong muốn của hai
bên thì các bên cũng có quyền tự thỏa thuận. Tôn trọng quyền bình đẳng giữa hai
bên trong quan hệ dân sự có thể việc giải quyết tranh chấp sẽ thuận lợi nhanh chóng
giảm thiểu những rủi ro không đáng có khác. Đối với các tổ chức tín dụng là ngân
hàng nước ngoài sự tự do thỏa thuận giải quyết tranh chấp còn có ý nghĩa quan
trọng hơn nữa. Nguyên tắc tự do thỏa thuận này vẫn cần phù hợp với pháp luật Việt
Nam hiện hành. Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 thể hiện nguyên tắc này trong chế
định hòa giải, hòa giải là trách nhiệm của của cơ quan tài phán khi có tranh chấp
xảy ra và các bên có thể thỏa thuận về việc giải quyết vụ án. Hai bên vẫn có quyền
thỏa thuận giải quyết với nhau trước khi diễn ra hoặc tại phiên tòa sơ thẩm, phúc
thẩm sao cho phù hợp quy định của pháp luật.
- Thứ ba: Tranh chấp hợp đồng tín dụng luôn có sự tham gia của một bên là
TCTD và phần lớn các tranh chấp HĐTD thì nguyên đơn là tổ chức tín dụng.
Tổ chức tín dụng là một trong các bên của tranh chấp hợp đồng là đặc điểm
đặc trưng của tranh chấp hợp đồng tín dụng so với tranh chấp hợp đồng vay tài sản
khác. Ngân hàng nắm giữ nguồn vốn lớn mà các khách hàng đi vay rất mong muốn
có thể thực hiên cho vay tín dụng nên trong thực tế hai bên bên có sự chênh lệch về

bên sẽ kí kết hợp đồng đảm bảo cho khoản vay để làm phương pháp dự phòng của
các tổ chức tín dụng khi rủi ro xảy ra. Hợp đồng đảm bảo cho khoản vay có thể là
hợp đồng thế chấp, hợp đồng cầm cố, chứng thư bảo lãnh của bên thứ ba. Những
điều khoản về quyền và nghĩa vụ trong các hợp đồng bảo đảm cho nghĩa vụ vay vốn
để bảo đảm cho việc vay vốn, xuất phát từ hợp đồng tín dụng đã được kí kết và mục
đích cuối cùng là bảo đảm việc trả nợ của bên đi vay.

15


- Thứ sáu: tranh chấp HĐTD phát sinh từ xung đột về lợi ích giữa các bên
tham gia tranh chấp.
Hợp đồng tín dụng xảy ra tranh chấp khi có sự xung đột lợi ích của các bên
trong hợp đồng. Đối với các tranh chấp hợp đồng tín dụng phải là chính các bên hay
người đại diện hợp pháp của các bên mới có quyền khởi kiện để đảm bảo vệ quyền
lợi của mình. Đây là điểm khác biệt với các quan hệ dân sự khác, pháp luật cho
phép một số cơ quan đoàn thể có thể khởi kiện để đảm bảo quyền lợi cho tổ chức,
cá nhân khác mà không phải lợi ích của chính cơ quan, đoàn thể đó. Không có bất
kì cơ quan đoàn thể nào có thể khởi kiện bảo vệ quyền lợi thay cho cho các bên
trong tranh chấp hợp đồng tín dụng. Tranh chấp hợp đồng tín dụng này chỉ phát
sinh khi các bên trong hợp đồng yêu cầu khởi kiện bảo vệ quyền lợi hợp pháp của
mình.
1.1.3. Các dạng tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Tranh chấp do các bên vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng tín dụng. Quyền
và nghĩa vụ của các bên được quy định trong hợp đồng tín dụng. Trong nhiều
trường hợp các bên không thực hiện đúng như thỏa thuận trong hợp đồng dẫn đến
xảy ra tranh chấp và mất đi uy tín và mối quan hệ của hai bên. Đây cũng là dạng
tranh chấp nhiều nhất và phổ biến trong các dạng tranh chấp hợp đồng tín dụng
+ Tranh chấp có thể xảy ra do hành vi vi phạm nghĩa vụ của bên cho vay.
Sau khi hợp đồng tín dụng có hiệu lực, bên cho vay cần thực hiện nghĩa vụ giải

bảo để tránh tổn thất tài chính khi bên vay không thực hiện hoàn trả hay mất đi khả
năng thanh toán. Ngoại trừ một số ít trường hợp bên vay có hoạt động tốt và quan
hệ tín dụng thân thiết với ngân hàng. Khi bên vay không thực hiện đúng theo thỏa
thuận về nghĩa vụ hoàn trả thì ngân hàng được quyền ưu tiên thanh toán từ số tiền
bán tài sản đảm bảo. Tuy có các quy định chặt chẽ về bảo đảm tín dụng nhưng vẫn
xảy ra các trường hợp tranh chấp phát sinh từ đó do: nhân viên tín dụng thẩm định
không kỹ, kết quả thẩm định không chính xác dẫn đến chấp nhận những tài sản đảm
bảo không đúng quy định theo pháp luật hay thiếu hụt về số lượng giá trị theo thỏa
thuận ban đầu.
- Tranh chấp về định giá, xử lý tài sản đảm bảo đối với những hợp đồng tín
dụng có bảo đảm đối với những hợp đồng tín dụng có bảo đảm bằng tài sản. Xác

17


định được tài sản đảm bảo thuộc sở hữu của chung hay sở hữu riêng từng người rất
quan trọng trong việc xử lý tài sản tranh chấp hợp đồng cho vay về tiêu dùng. Kết
quả thẩm định thiếu chính xác nhầm lẫn của thẩm định viên có thể dẫn đến việc
chấp nhận tài sản đảm bảo không đúng với các quy định pháp luật. Trong các hợp
đồng cho vay kinh doanh thì có thể chấp nhận tài sản đảm bảo không thuộc quyền
sở hữu hợp pháp của khách hàng, tổ chức không đủ tư cách pháp lý tiến hành ký kết
hợp đồng. Khi hợp đồng tín dụng đã được ký kết thì ngân hàng mới nhận ra và dẫn
đến tranh chấp hợp đồng.
- Tranh chấp về pháp luật giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng. Trong các
trường hợp hợp đồng tín dụng giữa các bên có yếu tố nước ngoài mà thiếu đi sự
thỏa thuận về lựa chọn cơ quan giải quyết tranh chấp và luật áp dụng là nước nào
khi xảy ra tranh chấp sẽ rất khó khăn. Bởi lẽ các bên sẽ cố gắng lựa chọn pháp luật
nước mà họ có nhiều ưu thế hơn, xung đột lợi ích đối kháng lẫn nhau.
1.1.4. Nguyên nhân phát sinh tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tranh chấp dân sự kinh doanh thương mại bao gồm cả tranh chấp tín dụng

cho vay hiện nay tại các ngân hàng thiếu tính hợp lý chặt chẽ nên tranh chấp tín
dụng có thể xảy ra do nghiệp vụ của cán bộ tín dụng. Quá trình đào tạo nghiệp vụ
chưa sát sao hoặc do hạn chế nghiệp vụ nên cán bộ còn nhiều sai sót sót trong việc
đánh giá biện pháp bảo đảm. Đã xảy ra không ít trường hợp tài sản bảo đảm có thể
thuộc sở hữu của nhiều chủ thể khác hay tài sản đã không còn thuộc quyền sở hữu
của bên đi vay nhưng vẫn được thực hiện bảo đảm trong hợp đồng tín dụng. Một
phần bộ phận cán bộ thoái hóa biến chất về đạo đức phẩm chất cố ý làm sai lệch
theo quy định nhằm chuộc lợi cá nhân. Khi xảy ra tranh chấp hợp đồng tín dụng qua
hình thức thế chấp cầm cố phần lớn xảy ra do vi phạm khách quan hay chủ quan
làm trái quy định gây hậu quả. Thông thường các TCTD thường tập trung kiểm tra
thẩm định các điều kiện trước khi cho vay mà lại lơi lỏng kiểm soát vốn vay được
sử dụng như thế nào sau khi cho vay. Khách hàng cần sử dụng vốn vay được đúng
theo mục đích đã nêu trong hợp đồng tránh tình trạng sử dụng vào các mục đích
không cho phép, sử dụng kém hiệu quả gây nên khả năng rủi ro tín dụng với ngân
hàng. Ngân hàng có lượng lớn khách hàng tín dụng chênh lệch với lực lượng cán bộ
tín dụng nên thường chủ quan trong việc giám sát sử dụng vốn vay. Đây là một
trách nhiệm rất quan trọng đối với ngân hàng và cán bộ vì khả năng cao xảy ra rủi

19


ro trong giai đoạn này. Cũng có thể nói ngân hàng thường e ngại việc can thiệp
kiểm soát mất đi mối quan hệ với khách hàng. Ngân hàng vẫn còn tồn tại cách hoạt
động lạc hậu trong khâu quản lý thông tin khách hàng, không cập nhập các thông tin
thay đổi
+ Tranh chấp có thể xảy ra do các tổ chức tín dụng không thực hiện đúng
trách nhiệm của mình trong trường hợp thay đổi, bổ sung, chấm dứt hợp đồng vay
tiền. Khi bên vay đã thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ của mình với ngân hàng thì hợp
đồng vay tiền được xem như là thanh lý. Trong một vài trường hợp bên vay đã hoàn
thành trả nợ với bên cho vay nhưng hợp đồng chưa được thanh lý vì các tổ chức tín


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status