Điều khoản hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng nhượng quyền thương mại theo pháp luật Việt Nam hiện nay - Pdf 46

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
___________________

PHẠM THỊ CÚC HOA

ĐIỀU KHOẢN HẠN CHẾ CẠNH TRANH TRONG
HỢP ĐỒNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - NĂM 2017


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
___________________

PHẠM THỊ CÚC HOA

ĐIỀU KHOẢN HẠN CHẾ CẠNH TRANH TRONG
HỢP ĐỒNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60.38.01.07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC


Hạn chế cạnh tranh

HĐNQTM

Hoạt động nhượng quyền thương mại

KTTT

Kinh tế thị trường

LCT

Luật cạnh tranh

NQTM

Nhượng quyền thương mại

PLCT

Pháp luật cạnh tranh

SHTT

Sở hữu trí tuệ


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .............................................................................................................. 1
Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ ĐIỀU KHOẢN



MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Nhượng quyền thương mại cùng với các hình thức kinh doanh khác đã
tạo nên một bức tranh sống động của nền kinh tế thế giới. Hình thành từ thế kỷ
thứ XIX, hình thức này không ngừng được mở rộng, phát huy tính hiệu quả
trong kinh doanh. Tại Việt Nam, hình thức nhượng quyền thương mại hình
thành vào những năm 90 của thế kỷ XX và mang tính tự phát rất cao, dường
như không có nhiều cơ hội để tham gia hoặc thậm chí chứng kiến các sản phẩm
và dịch vụ của các thương hiệu nổi tiếng trên thế giới tại Việt Nam. Tuy nhiên,
sau hơn 30 năm đổi mới và hơn 10 năm kể từ ngày gia nhập Tổ chức Thương
mại Thế giới (WTO), Việt Nam đã nổi lên là một trong số các quốc gia thu hút
các nhà đầu tư và các nhà nhượng quyền thương mại nhất. Bạn có thể bắt đầu
một buổi sáng đẹp trời với bạn bè tại Starbucks hoặc thưởng thức bữa trưa cùng
với gia đình tại các cửa hàng của KFC hay Lotteria. Bạn cũng có thể mua
những sản phẩm mới nhất của Nike hoặc Adias cũng như các thương hiệu nổi
tiếng khác trên thế giới tại chính các cửa hàng ở Việt Nam. Thay đổi này là kết
quả của mô hình kinh doanh hiệu quả – nhượng quyền thương mại (NQTM).
Với vai trò tích cực của mình, NQTM đã và đang được xem là cách thức
hiệu quả để các bên mở rộng quy mô sản xuất, kinh doanh bằng cách khai thác
các thương hiệu thành công thông qua việc chuyển giao quyền sử dụng các
quyền thương mại của bên nhượng quyền đối với bên nhận quyền. Giống như
các hoạt động thương mại khác, nội dung của quan hệ NQTM cũng thể hiện
các quyền và nghĩa vụ tương ứng của các bên, tuy nhiên, HĐNQTM có những
đặc thù nhất định so với các hoạt động cụ thể khác, kể cả đối với đại lý thương
mại hoặc chuyển giao công nghệ. Trong HĐNQTM, bao giờ cũng có các điều
kiện về hạn chế cạnh tranh (HCCT) giữa bên nhượng quyền và bên nhận
quyền. Chính vì vậy mà trong các quan hệ nhượng quyền có thể chứa đựng
những hạn chế có khả năng tác động đến môi trường cạnh tranh. Những hạn

đến nay, nghiên cứu về pháp luật điều chỉnh các điều khoản HCCT và hợp
đồng NQTM dưới góc độ của PLCT có một số công trình đã đề cập đến như:
- Đào Đặng Thu Hường, “Hợp đồng nhượng quyền thương mại trong
pháp luật Việt Nam”, Luận văn Thạc sĩ luật học, Đại học Luật Hà Nội, 2007;
- Nguyễn Thanh Tú, “Nhượng quyền thương mại dưới góc độ của pháp
luật cạnh tranh”, Luận án Tiến sĩ luật học, Khoa luật, Đại học Lund, Thuỵ
Điển, 2007;
2


- Vũ Đặng Hải Yến, “Những vấn đề lý luận và thực tiễn về pháp luật
điều chỉnh nhượng quyền thương mại trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam”,
Luận án Tiến sĩ luật học, Đại học Luật Hà Nội, 2008;
- Nguyễn Thị Như Nguyên, “Pháp luật điều chỉnh hợp đồng nhượng
quyền thương mại – Thực trạng và giải pháp hoàn thiện”, Luận văn Thạc sĩ
luật học, Đại học Luật Hà Nội, 2012;
- Trần Thị Hồng Thúy, “Kiểm soát hợp đồng nhượng quyền thương mại
theo quy định của pháp luật cạnh tranh và pháp luật sở hữu trí tuệ”, Luận văn
Thạc sĩ luật học, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội, 2012;
- Nguyễn Thị Hồng Vân, “Các thoả thuận hạn chế cạnh tranh trong hợp
đồng nhượng quyền thương mại”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp điện tử, 2016.
Bên cạnh đó, còn có công trình đi sâu vào nghiên cứu lý luận, các quy
định hiện hành, phương thức kiểm soát và những vấn đề thực tiễn về các
TTHCCT trong hợp đồng NQTM như: “Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong
hợp đồng nhượng quyền thương mại” của ThS. Hằng Nga, Nxb. Tổng hợp TP.
Hồ Chí Minh, 2009. Tuy nhiên, tác phẩm này có phạm vi bao quát khá rộng các
vấn đề liên quan đến TTHCCT trong hợp đồng NQTM ở cả hệ thống pháp luật
thế giới và Việt Nam sau khi Luật Thương mại 2005 được vận dụng vào thực tế
nên việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn còn nhiều khó khăn. Do đó, dựa trên
cơ sở tình hình nghiên cứu này, Luận văn sẽ kế thừa một số luận điểm nghiên

4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các vấn đề lý luận, thực tiễn và hệ
thống các quy định pháp luật điều chỉnh điều khoản HCCT trong hợp đồng
NQTM được quy định trong Luật Cạnh tranh năm 2004, Luật Thương mại năm
2005 và các văn bản liên quan như: Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, các văn bản,
quy định pháp luật liên quan của các quốc gia khác trên thế giới.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là thực trạng pháp luật và thực tiễn áp
dụng pháp luật về điều khoản HCCT trong hợp đồng NQTM ở Việt Nam từ khi
Luật Cạnh tranh năm 2004, Luật Thương mại năm 2005 được ban hành đến nay.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết những nhiệm nghiên cứu được đặt ra, tác giả nghiên cứu đề
tài dựa trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa
duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin. Bên cạnh đó, tác giả còn sử dụng
các phương pháp phân tích, tổng hợp nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lý luận
4


cơ bản về điều khoản HCCT trong hợp đồng NQTM; phương pháp so sánh
giữa các quy định của pháp luật về điều khoản HCCT trong hợp đồng NQTM
giữa các văn bản pháp luật liên quan như Luật Thương mại, Luật Cạnh tranh,
giữa pháp luật Việt Nam với pháp luật của các quốc gia khác trên thế giới.
Ngoài ra, để nắm bắt được những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực
hiện các quy định về điều khoản HCCT trong hợp đồng NQTM, tác giả còn áp
dụng phương pháp hệ thống hoá, khảo sát thực tiễn và xã hội học kiểm chứng.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Luận văn là công trình nghiên cứu một cách tập trung và có hệ thống về
điều khoản HCCT hợp đồng NQTM theo pháp luật Việt Nam hiện nay.
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần xây dựng các giải pháp tổng thể
hoàn thiện pháp luật về điều khoản HCCT trong hoạt động NQTM, xây dựng cơ

tế ở những mức độ và khía cạnh khác nhau. Về khái niệm, bản thân Luật mẫu
về cạnh tranh của Liên Hợp quốc cũng như Luật Cạnh tranh năm 2004 của Việt
Nam đều không đưa ra định nghĩa pháp lý chính thức về hành vi HCCT. Các
quy định mới chỉ dừng lại ở việc xác định cụ thể những hành vi được coi là
hành vi HCCT theo kiểu liệt kê chứ chưa đưa ra những định nghĩa mang tính
định tính cho những hành vi này. Hành vi HCCT thông thường được chia ra
làm các nhóm như: Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh (TTHCCT); Lạm dụng vị trí
thống lĩnh, vị trí độc quyền; Tập trung kinh tế. Trong đó, hành vi thỏa thuận
của các chủ thể kinh doanh là hành vi có thể dẫn đến nguy cơ HCCT nhiều nhất
trên thị trường.
Thứ nhất, nhóm hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh: TTHCCT là
hành vi thống nhất ý chí của từ hai doanh nghiệp trở lên nhằm tác động tiêu cực
lên thị trường cạnh tranh làm giảm, sai lệch kết quả cạnh tranh trên thị trường
đó. Các hành vi này có thể bao gồm: Thoả thuận ấn định giá hàng hoá, dịch vụ

6


một cách trực tiếp hoặc gián tiếp; thoả thuận phân chia thị trường tiêu thụ,
nguồn cung cấp hàng hoá, cung ứng dịch vụ; thoả thuận hạn chế hoặc kiểm
soát số lượng, khối lượng sản xuất, mua, bán hàng hoá, dịch vụ; thoả thuận hạn
chế phát triển kỹ thuật, công nghệ, hạn chế đầu tư; thoả thuận áp đặt cho doanh
nghiệp khác điều kiện ký kết hợp đồng mua, bán hàng hoá, dịch vụ hoặc buộc
doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối
tượng của hợp đồng; thoả thuận ngăn cản, kìm hãm, không cho doanh nghiệp
khác tham gia thị trường; thoả thuận loại bỏ khỏi thị trường những doanh
nghiệp không phải là các bên của thoả thuận; thông đồng để một hoặc các bên
của thoả thuận thắng thầu trong việc cung cấp hàng hoá, cung ứng dịch
vụ…Điều khoản về TTHCCT được coi là điều khoản hạn chế cạnh tranh chủ
yếu và phổ biến nhất trong hợp đồng NQTM.

hành vi HCCT theo quyết định của công ty mẹ hay tập đoàn…
Trên thị trường các nhóm chủ thể có xu hướng liên kết với nhau nhằm
HCCT như: (i) Nhóm các chủ thể kinh doanh dẫn đầu sẽ có xu hướng thỏa
thuận với nhau về những vấn đề nhằm triệt tiêu cạnh tranh giữa họ và đảm bảo
vị thế của họ trên thị trường một cách lâu dài, hình thành này có khả năng dẫn
đến độc quyền nhóm; (ii) Nhóm các chủ thể kinh doanh có vị thế kém hơn so
với nhóm dẫn đầu sẽ luôn tìm và tạo ra các cơ hội để vươn lên. Một trong các
cách thức được sử dụng đó là liên kết lại với nhau nhằm tăng vị thế và sức
mạnh cạnh tranh trên thị trường, tạo ra những sức ép nhất định đối với những
chủ thể kinh doanh đang chiếm ưu thế nói trên.
Thứ hai, việc tiến hành hành vi có dấu hiệu lạm dụng, có mục đích làm sai
lệnh, cản trở, đặc biệt là mục đích loại bỏ đối thủ cạnh tranh ra khỏi thị trường,
thông qua sức mạnh thị trường, năng lực cạnh tranh, liên kết với nhau…
Thứ ba, những hành vi HCCT bị cấm mặc nhiên hoặc có thể bị cấm nếu
thoả mãn những điều kiện nhất định, ví dụ như hành vi lạm dụng vị trí thống
lĩnh hoặc độc quyền bị cấm chỉ khi doanh nghiệp có thị phần từ 30% trở lên
hoặc có khả năng gây HCCT đáng kể (khoản 1, Điều 11 Luật cạnh tranh).
Thêm nữa, theo pháp luật cạnh tranh của Việt Nam, chỉ các thỏa thuận sau đây
mới bị coi là TTHCCT, bao gồm: Thoả thuận ấn định giá hàng hoá, dịch vụ
một cách trực tiếp hoặc gián tiếp; thoả thuận phân chia thị trường tiêu thụ,
8


nguồn cung cấp hàng hoá, cung ứng dịch vụ; thoả thuận hạn chế hoặc kiểm
soát số lượng, khối lượng sản xuất, mua, bán hàng hoá, dịch vụ; thoả thuận hạn
chế phát triển kỹ thuật, công nghệ, hạn chế đầu tư; thoả thuận áp đặt cho doanh
nghiệp khác điều kiện ký kết hợp đồng mua, bán hàng hoá, dịch vụ hoặc buộc
doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối
tượng của hợp đồng; thoả thuận ngăn cản, kìm hãm, không cho doanh nghiệp
khác tham gia thị trường hoặc phát triển kinh doanh; thoả thuận loại bỏ khỏi thị

quyền; việc tiếp tục thực hiện của bên nhượng quyền đối với bên nhận quyền
trong việc trợ giúp, hỗ trợ thương mại cũng như kỹ thuật trong suốt thời gian
hợp đồng NQTM còn hiệu lực” [11, tr15]
Hợp đồng NQTM mang tính chất đặc thù, vì nó chứa đựng những yếu tố
của hợp đồng li-xăng, đó là việc hướng tới quyền sở hữu công nghiệp như sáng
chế, nhãn hiệu hàng hoá, kiểu dáng công nghiệp. Bên cạnh đó, hợp đồng này có
những đặc trưng của hợp đồng chuyển giao công nghệ khi mà nội dung của hợp
đồng luôn nhấn mạnh rõ vấn đề bên nhượng quyền phải chuyển giao về mặt
công nghệ, hỗ trợ về mặt kỹ thuật cho bên nhận quyền. Không những thế, việc
tìm thấy hình bóng của hợp đồng đại lý hay hợp đồng cung ứng trong hợp đồng
NQTM đã đưa đến một thực tế rằng, hợp đồng NQTM là hợp đồng mang tính
đặc thù và phức tạp.
Ở Đức, mặc dù Hiệp hội NQTM của nước Đức đã đưa ra một khái niệm
chính thức về hoạt động NQTM, nhưng pháp luật thương mại của nước này lại
không đề cập đến khái niệm hợp đồng NQTM với tư cách là một loại hợp đồng
đặc thù, mà chỉ là một loại hợp đồng hợp tác để phân phối sản phẩm. Đối với
nước Đức, hợp đồng NQTM chỉ được nhận biết thông qua sự so sánh chúng
với các hợp đồng phân phối hàng hoá, dịch vụ với các đặc tính: (i) Trong hợp
đồng nhượng quyền, quan hệ cung ứng hàng hoá, dịch vụ từ phía bên nhượng
quyền cho bên nhận quyền không nhất thiết phải tồn tại với lý do bên nhận
quyền có thể tự mình sản xuất ra sản phẩm; (ii) Bên nhượng quyền trao toàn bộ
“quyền thương mại” dưới một thể thống nhất cho bên nhận quyền; (iii) Bên
nhận quyền vẫn có tên thương mại đăng ký theo quy định của pháp luật, mặc
dù dịch vụ hoặc hàng hoá mà bên này cung cấp trên thị trường lại không mang
tên thương mại đã đăng ký với Nhà nước [32].
10


Cộng hoà Pháp cũng không ban hành một luật riêng cho hoạt động
NQTM. Ở đây, các án lệ, các quy định của Hiệp hội NQTM Pháp được coi là

là thoả thuận giữa bên nhượng quyền và bên nhận quyền về việc xác lập, thay
đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ trong quá trình thực hiện hoạt động thương
mại, mà ở đây là hoạt động nhượng quyền. Trên cơ sở đó, hợp đồng NQTM
cũng mang những đặc điểm của hợp đồng dân sự được quy định tại Bộ luật
Dân sự 2005, đồng thời thoả mãn các điều kiện của một hợp đồng thương mại.
Không đưa ra một khái niệm cụ thể về hợp đồng NQTM nhưng tại Nghị
định số 35/2006/NĐ-CP ngày 31/03/2006 của Chính phủ lại nêu định nghĩa về
các dạng đặc biệt của hợp đồng NQTM như hợp đồng phát triển nhượng quyền
thương mại hay hợp đồng thứ cấp, trong đó bên nhượng quyền có nghĩa vụ trao
quyền thương mại và cung cấp các hỗ trợ kỹ thuật đối với việc kinh doanh
quyền thương mại cho bên nhận quyền, và bên nhận quyền có nghĩa vụ thanh
toán cho bên nhượng quyền. Bên nhận quyền có thể tiếp tục chuyển nhượng
quyền thương mại cho người khác nếu hợp đồng nhượng quyền thương mại đã
có thỏa thuận hoặc người đã chuyển quyền thương mại đồng ý cho chuyển tiếp
[7]. Theo ý kiến đánh giá của nhiều nhà nghiên cứu, việc đưa ra định nghĩa về
các loại hợp đồng đặc biệt là điều cần thiết. Tuy nhiên, khi giải thích về nghĩa
của các hợp đồng đặc biệt, các nhà làm luật vẫn sử dụng thuật ngữ NQTM.
Như vậy, ở đây có sự thiếu chính xác khi pháp luật không đưa ra định nghĩa về
hợp đồng NQTM mà lại dùng chính thuật ngữ này để diễn đạt cho các hợp
đồng khác có liên quan, đối chiếu với pháp luật của một số nước trên thế giới
thì điều này là chưa phù hợp với thông lệ quốc tế.
1.1.2.2. Đặc điểm của hợp đồng nhượng quyền thương mại
Dù hoạt động NQTM có phát triển như thế nào thì về bản chất, pháp luật
của hầu hết các quốc gia trên thế giới đều công nhận NQTM không phải là
“việc kinh doanh” cụ thể nào đó mà là một phương thức kinh doanh. Đó chính
là phương thức hợp tác giữa ít nhất là hai bên chủ thể: Chủ sở hữu các quyền
SHTT (như nhãn hiệu, bí mật kinh doanh, tên thương mại, biển hiệu hay các
biểu tượng quảng cáo…) với một hoặc nhiều doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh
khác trong việc cùng khai thác giá trị thương mại của các đối tượng NQTM của
12

mại, kiểu dáng thiết kế của hàng hoá mà còn mở rộng không ngừng bao gồm
13


nhiều quyền năng khác trong hoạt động kinh doanh. Cũng như các quan hệ
khác, NQTM càng phát triển mở rộng, thì khả năng chứa đựng nhiều mâu
thuẫn, tranh chấp càng cao. Sở dĩ như vậy là do, bản thân “quyền thương mại”
đã liên quan đến lợi ích thiết thân của một nhà kinh doanh. Việc nhượng lại
quyền thiết thân này cho một chủ thể kinh doanh khác để cùng kinh doanh,
cùng chia sẻ những lợi thế mà quyền kinh doanh đem lại, vì thế, chắc chắn sẽ
gây ra không ít tranh chấp, vì đặc điểm này mà NQTM phải được pháp luật
điều chỉnh.
Bốn là, về tính gắn kết của các bên trong hợp đồng NQTM: NQTM luôn
tồn tại mối quan hệ mật thiết giữa bên nhượng quyền và bên nhận quyền, sự
gắn bó này là vô cùng chặt chẽ. Bởi NQTM về bản chất là sự nhân rộng một
mô hình kinh doanh đã thành công, bên nhận quyền được bên nhượng quyền
chia sẻ các công thức kinh doanh, các bí quyết kinh doanh, phương thức kinh
doanh của bên nhượng quyền nhằm tạo ra sự đồng bộ ở tất cả các cửa hàng
nhượng quyền so với cửa hàng chính của bên nhượng quyền. Vì thế, bên
nhượng quyền và bên nhận quyền phải tạo ra một mối quan hệ liên tục, thông
suốt trong toàn bộ thời gian của hợp đồng NQTM. Bên nhượng quyền phải
hướng dẫn, giúp đỡ kĩ thuật, đào tạo những nhân viên chủ lực cho bên nhạn
quyền, đồng thời bên nhận quyền không thể tự mình sáng tạo thêm các ý tưởng
mới trong kinh doanh, nhất là các ý tưởng có khả năng phá vỡ sự đồng nhất
trong hệ thống NQTM.
1.1.3. Điều khoản hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng nhượng quyền
thương mại
Các điều khoản HCCT trong hợp đồng NQTM chủ yếu phải kể đến các
điều khoản về TTHCCT. Giống như các loại hợp đồng thương mại khác, nội
dung của hợp đồng NQTM và ghi nhận trong các hợp đồng NQTM là các

quyền, để đảm bảo lợi ích của bên nhượng quyền và các bên nhận quyền khác.
Các bên nhận quyền phải tuân thủ trung thành mô hình NQTM, khai thác bí quyết
một cách nhất quán trong mạng lưới NQTM, phải trả phí khai thác lợi ích cho bên
nhượng quyền và phí sử dụng thương hiệu trong suốt thời gian nhận quyền (đối
với quan hệ đại lý, bên nhận đại lý không phải thực hiện nghĩa vụ này). Bên
15


nhượng quyền có quyền kiểm soát bên nhận quyền trong việc tuân thủ trung thành
mô hình NQTM (bên đại lý cũng không có quyền kiểm soát này đối với bên nhận
đại lý). Hoạt động của hệ thống NQTM thường dẫn tới hệ quả phân chia thị
trường và có thể gây HCCT trong thoả thuận về phân chia lãnh thổ, thể hiện ở
“điều khoản về địa điểm bán hàng” (location clause); cấm bên nhận quyền quảng
cáo ngoài phạm vi của mình; mua bán độc quyền liên quan đến nhãn hiệu
hàng hoá, thương hiệu sản phẩm; quy định bán kèm. Ngoài ra, trong hoạt động
NQTM, nhiều trường hợp còn quy định về ấn định giá bán cho các thành viên của
hệ thống NQTM và có thể có một số ràng buộc khác. Căn cứ vào tính chất của đối
tượng điều chỉnh, hoạt động NQTM có thể được chia thành các loại: (i) NQTM về
dịch vụ, theo đó bên nhận quyền chào bán một dịch vụ dưới tên thương mại hoặc
biểu tượng và đôi khi là nhãn hiệu thương mại của bên nhượng quyền, theo những
chỉ dẫn của bên nhượng quyền; (ii) NQTM về sản xuất, quy định bên nhận quyền
sản xuất các sản phẩm theo đúng những chỉ dẫn của bên nhượng quyền và bán
chúng dưới nhãn hiệu thương mại của bên nhượng quyền; (iii) NQTM về phân
phối, trong đó bên nhận quyền đơn thuần bán các sản phẩm nhất định trong một
cửa hàng mang tên thương mại hoặc biểu tượng của bên nhượng quyền. Do đó,
mỗi loại đối tượng của hoạt động NQTM sẽ có khả năng dẫn đến HCCT khác
nhau tuỳ thuộc vào ngữ cảnh kinh tế và nội dung nhượng quyền cụ thể.
Có thể nói, điều khoản HCCT trong hợp đồng NQTM là loại điều khoản
thỏa thuận được ra đời bởi sự cho phép và bảo vệ của Nhà nước. Căn cứ các quy
định về TTHCCT, các thỏa thuận giữa bên nhượng quyền và bên nhận quyền

toàn mạng lưới NQTM. Để đạt được mục đích này, bên nhượng quyền thường
đưa vào hợp đồng các điều khoản độc quyền về lãnh thổ, độc quyền cung cấp
sản phẩm, và trong một số trường hợp còn ấn định giá bán lại sản phẩm. Nếu
như các thỏa thuận có bản chất HCCT này là cần thiết để duy trì sự ổn định của
hệ thống, bảo vệ bí quyết kinh doanh, uy tín của thương hiệu, thì mặt khác chúng
có thể ảnh hưởng tới lợi ích của bên nhận quyền, người tiêu dùng và các doanh
nghiệp khác trên thị trường sản phẩm liên quan. Bởi vậy, pháp luật cần có sự
kiểm soát quá trình này nhằm đảm bảo tính lành mạnh trong các hoạt động
thương mại. Pháp luật kiểm soát HCCT trong hợp đồng NQTM được hiểu là
17


những quy định của pháp luật điều chỉnh, kiểm soát các hành vi HCCT nói
chung và các điều khoản có liên quan trong hợp đồng NQTM nói riêng.
Một số công trình nghiên cứu trên thế giới đã chứng minh rằng, các điều
khoản HCCT trong hợp đồng NQTM luôn cần thiết có sự điều chỉnh của pháp
luật bởi: (i) Hành vi HCCT trong quan hệ NQTM tồn tại một cách tất yếu,
khách quan và cần phải có sự điều chỉnh của pháp luật cạnh tranh; (ii) Hoạt
động NQTM là hoạt động thương mại tương đối đặc thù, cần phải có những ghi
nhận những ngoại lệ nhất định cho phép hành vi HCCT được tiến hành trong
một số trường hợp để đảm bảo tính đồng bộ, bảo vệ danh tiếng của hệ thống
nhượng quyền. (iii) Hành vi HCCT trong hoạt động NQTM được điều tiết khá
mềm dẻo, có tính đến bản chất đặc thù của hoạt động NQTM. Theo đó, cho
phép một số hành vi HCCT mặc dù đạt đủ điều kiện của một hành vi HCCT bị
cấm theo pháp luật cạnh tranh thông thường nhưng áp dụng trong quan hệ
NQTM lại được phép nếu hành vi đó là cần thiết để đảm bảo tính đồng bộ của
hệ thống nhượng quyền; (iv) Nhiều hệ thống pháp luật trên thế giới, đại diện là
Mỹ, mặc dù không có quy định riêng điều chỉnh hành vi HCCT trong hoạt
động nhượng quyền, nhưng lại sử dụng án lệ như một nguồn luật quan trọng để
giải quyết các tranh chấp liên quan đến hành vi HCCT trong hoạt động NQTM.

quá trình hội nhập khu vực và quốc tế của Việt Nam một cách sâu rộng, bởi hệ
thống pháp luật về thương mại đang còn nhiều bất cập, vốn hiểu biết về pháp
luật NQTM của các bên nhượng quyền và các bên dự kiến nhận quyền của Việt
Nam còn hạn chế mà không có văn bản pháp luật nào có khả năng hướng dẫn
các chủ thể kinh doanh về ranh giới giữa hai lĩnh vực pháp luật cạnh tranh và
pháp luật về NQTM.
Trong hợp đồng NQTM thường thấy xuất hiện quy định bên nhượng
quyền yêu cầu bên nhận quyền không được chuyển cửa hàng khỏi vị trí đã
được xác định trong hợp đồng; hay không được chuyển giao cửa hàng cho bên
thứ ba bất kỳ mà không có sự đồng ý của bên nhượng quyền; hoặc bên nhượng
quyền có quyền chuyển giao quyền thương mại cho nhiều bên nhận quyền khác
nhau; bên nhận quyền có quyền độc quyền sử dụng thương hiệu, sản phẩm kinh
doanh trong một khu vực địa lý xác định trong hợp đồng NQTM. Việc pháp
19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status