ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THANH LONG TRANH CHẤP VÀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
HỢP ĐỒNG NHƢỢNG QUYỀN THƢƠNG MẠI
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Chuyên ngành : Luật kinh tế
Mã số : 60 38 01 07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS NGÔ HUY CƢƠNG
HÀ NỘI - 2014
2
MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 5
2.2.3. Tranh chấp do thay đổi hệ thống 57
2.2.4. Tranh chấp do vi phạm thoả thuận cạnh tranh 58
2.2.5. Tranh chấp về chuyển nhượng quyền cho bên thứ ba 63
2.3. Nguyên nhân của tranh chấp hợp đồng nhƣợng quyền
thƣơng mại 67
2.4. Chế tài áp dụng đối với vi phạm hợp đồng nhƣợng quyền
thƣơng mại 72
CHƢƠNG 3 74
3.1. Nội dung của hợp đồng nhƣợng quyền thƣơng mại liên quan
trực tiếp đến giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng
nhƣợng quyền thƣơng mại 74
3.1.1. Điều khoản về chọn luật áp dụng 74
3.1.2. Điều khoản về giải quyết tranh chấp 75
3.2. Các phƣơng thức giải quyết tranh chấp hợp đồng nhƣợng
quyền thƣơng mại. 76
3.2.1. Giải quyết tranh chấp hợp đồng nhượng quyền thương mại
bằng toà án 78
3.2.2. Giải quyết tranh chấp hợp đồng nhượng quyền thương mại
bằng thương lượng 79
4
3.2.3. Giải quyết tranh chấp hợp đồng nhượng quyền thương mại
bằng hoà giải 80
3.2.4. Giải quyết tranh chấp hợp đồng nhượng quyền thương mại
bằng trọng tài 84
3.3. Một số kiến nghị. 91
TÀI LIỆU THAM KHẢO 96 5
thương mại. Mối quan hệ giữa bên nhượng quyền và bên nhận quyền vốn
7
hàm chứa những mâu thuẫn, do đó khi mâu thuẫn nảy sinh cần có cơ chế
giải quyết cho phù hợp và đảm bảo sự vận động và phát triển của cả hệ
thống nhượng quyền.
Hiện nay pháp luật Việt Nam đã có những qui định tương đối phù
hợp với hoạt động nhượng quyền thương mại, song trong thực tiễn giải
quyết các tranh chấp về nhượng quyền thương mại đã xuất hiện nhiều vấn
đề nan giải. Các vấn đề đó có nguyên nhân từ thực tiễn là các dạng tranh
chấp về nhượng quyền rất phong phú, phức tạp và các cơ chế giải quyết
tranh chấp hiện tại khó đáp ứng.
Vì vậy “Tranh chấp và giải quyết tranh chấp hợp đồng nhƣợng
quyền thƣơng mại theo pháp luật Việt Nam” là đề tài nghiên cứu có tính
cấp thiết cao.
2. Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung vào các mục tiêu sau:
+ Nghiên cứu các vấn đề lý luận liên quan tới các dạng tranh chấp
về nhượng quyền thương mại và các cơ chế giải quyết chúng;
+ Tổng kết các dạng tranh chấp và việc giải quyết chúng trong thực
tiễn hiện nay ở Việt Nam;
+ Kiến nghị xóa bỏ các bất cập của pháp luật liên quan và kiến nghị
xây dựng mô hình giải quyết các tranh chấp về nhượng quyến thương mại.
Luận văn không đi sâu vào phân tích các nội dung cụ thể của hợp
đồng nhượng quyền thương mại và không phân tích thực trạng pháp luật
về các dạng hợp đồng này. 8
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRANH CHẤP VÀ
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
HỢP ĐỒNG NHƢỢNG QUYỀN THƢƠNG MẠI 1.1. Khái lƣợc về hợp đồng nhƣợng quyền thƣơng mại
1.1.1. Khái niệm hợp đồng nhƣợng quyền thƣơng mại
“Nhượng quyền thương mại” mà tiếng Anh gọi là “franchise” có
nguồn gốc từ tiếng Pháp là “franc”. Dạng kinh doanh này đã manh nha ở
châu Âu khoảng hàng trăm năm trước, sau đó rộ lên và lan rộng tại Hoa
Kỳ từ những năm 80 của thế kỷ trước. Ngày nay một số luật gia Hoa Kỳ
quan niệm: “Franchise là một hợp đồng mà theo đó chủ sở hữu (franchisor)
của một nhãn hiệu, tên thương mại, quyền tác giả, patent, bí mật kinh
doanh, hoặc một vài dạng hoạt động, qui trình hay hệ thống (system) kinh
doanh cho phép những người khác (franchisees) sử dụng tài sản, hoạt
động, qui trình hay hệ thống trong hoạt động cung cấp hàng hoá hoặc dịch
vụ” [1].
Xét dưới giác độ luật thương mại, nhượng quyền thương mại là một
hành vi thương mại do bản chất mà theo đó bên nhượng quyền cho phép và
yêu cầu bên nhận quyền tự mình tiến hành việc mua bán hàng hoá, cung
ứng dịch vụ hay sản xuất theo các điều kiện nhất định dưới sự chỉ dẫn và
kiểm soát của bên nhượng quyền. Việc xác định nhượng quyền thương mại
là hành vi thương mại do bản chất bởi người nhượng quyền và người được
nhượng quyền đều là thương nhân tiếp cận tới nhượng quyền hoàn toàn vì
10
mục tiêu lợi nhuận, và thực tế cho thấy không ai nhượng quyền và nhận
nhượng quyền vì mục đích tiêu dùng. Phản ánh bản chất này, Uỷ ban
Thương mại Liên Bang Hoa Kỳ (The United States Federal Trade
Commission) định nghĩa:
quyền trong việc điều hành công việc kinh doanh” (Điều 284, Luật
Thương mại 2005).
Các định nghĩa về hợp đồng nhượng quyền thương mại nêu trên của
mỗi nước đều có cách thức diễn đạt khác nhau, nhưng tựu chung chúng có
chung một điểm mấu chốt là: bên nhận quyền phân phối sản phẩm, dịch vụ
dưới nhãn hiệu hàng hoá, các đối tượng khác của quyền sở hữu trí tuệ và
hệ thống kinh doanh đồng bộ do bên nhượng quyền sở hữu và phát triển;
đổi lại, bên nhận quyền phải trả những chi phí và chấp nhận một số hạn
chế do bên nhượng quyền quy định. Các định nghĩa này không chú trọng
đến hình thức của hợp đồng nhượng quyền thương mại. Điều đó không có
nghĩa hình thức của hợp đồng không phải là điều kiện có hiệu lực của hợp
đồng. Nói cách khác hợp đồng không có sự tự do thể hiện dưới bất kỳ hình
thức nào. Điều đó cũng không có nghĩa không có tranh chấp nào về hình
thức của hợp đồng được giải quyết nếu có chứng cứ chứng minh các bên
có quan hệ hợp đồng nhượng quyền thương mại và chứng minh các bên có
sự thỏa thuận về các điều kiện cơ bản hay chủ yếu của loại hợp đồng này.
Luật Thương mại 2005 của Việt Nam qui định: “Hợp đồng nhượng quyền
thương mại phải được lập thành văn bản hoặc hình thức khác có giá trị
12
pháp lý tương đương” (Điều 285). Điều luật này của Việt Nam cho thấy
sự phân biệt giữa hình thức văn bản của hợp đồng và hình thức thông điệp
dự liệu có giá trị pháp lý tương đương với văn bản hợp đồng.
Nhượng quyền thương mại đã du nhập vào Việt Nam khoảng từ
những thập kỷ 90 của thế kỷ trước. Một trong những người nhượng quyền
của Việt Nam đầu tiên là: “Cà phê Trung Nguyên” bắt đầu vào năm 1996;
AQ Silk bắt đầu vào năm 2002 Thế nhưng phải sau một thời gian không
ngắn hình thức kinh doanh này được cho phép bằng cách “cấp phép đặc
quyền kinh doanh”, nhượng quyền thương mại mới chính thức được thừa
nhận trong Luật Thương mại 2005. Nghị định số 35/2006/NĐ-CP ngày
Mặc dù không có sự thống nhất trong sự diễn đạt khái niệm về hợp
đồng nhượng quyền thương mại, cũng như thiếu thốn trong việc mô tả
hành vi nhượng quyền thương mại như trên đã nêu, nhưng có thể rút ra các
đặc điểm cơ bản của hợp đồng nhượng quyền thương mại như sau:
+ Quan hệ hợp đồng nhượng quyền thương mại là quan hệ pháp luật
thương mại chặt chẽ, liên tục và hỗ trợ lẫn nhau nhau giữa bên nhượng
quyền và bên nhận quyền kể từ khí ký kết hợp đồng nhượng quyền, trong
suốt quá trình thực hiện hợp đồng cho tới khi chấm dứt hợp đồng.
+ Hợp đồng nhượng quyền thương mại phải thể hiện dưới hình thức
văn bản bởi quan hệ nhượng quyền phức tạp liên quan nhiều tới thương
hiệu, gắn với quy trình kinh doanh đã thành công được thừa nhận trên
phạm vi tương đối rộng và có khả năng mở rộng mô hình kinh doanh đó
14
trên thị trường. Bên nhận quyền tận dụng sự thành công và danh tiếng sẵn
có của thương hiệu đó để tiến hành kinh doanh dưới nhãn hiệu và tên
thương mại của bên nhượng quyền dưới nhiều dạng nhượng quyền khác
nhau.
+ Hợp đồng nhượng quyền thương mại là hợp đồng dài hạn, kéo dài
nhiều năm. Khi hợp đồng nhượng quyền thương mại hết hạn, bên nhượng
quyền có thể gia hạn hợp đồng và sự rằng buộc lại có thể kéo dài nhiều
năm nữa [1].
+ Giá trị của hợp đồng nhượng quyền thương mại luôn gắn liền với
phí nhượng quyền thương mại. Khoản phí này có thể là phí trọn gói một
lần (initial fee) hoặc khoản phí chi trả hàng tháng dựa trên doanh số
(royalty fee), và cũng có thể tổng hợp luôn cả hai khoản phí trên tuỳ thuộc
vào danh tiếng và uy tín của thương hiệu của bên nhượng quyền, ngoài ra
còn phụ thuộc vào sự thương lượng và chính sách của bên nhượng quyền
(Chẳng hạn: tại năm 2005, đối với một cửa hàng “fastfood” theo kiểu
“McDonald's”, bên nhận quyền phải trả phí nhượng quyền khởi đầu
doanh kém hiệu quả, gây ảnh hưởng không tốt đến thương hiệu. Bên nhận
quyền theo phương thức này không được quyền nhượng quyền lại cho
người khác (sub-franchise) cũng như không được tự ý mở thêm một cửa
hàng mang cùng thương hiệu nhượng quyền. Mỗi một cửa hàng mới đều
phải ký thêm hợp đồng nhượng quyền mới nhưng còn tuỳ thuộc vào hiệu
quả kinh doanh và khả năng hợp tác với chủ thương hiệu tại cửa hàng hiện
16
tại. Nhiều hệ thống nhượng quyền còn yêu cầu bên nhận quyền không
được kinh doanh các mặt hàng tương tự tuy khác thương hiệu.
(2) Hợp đồng nhượng quyền độc quyền (master franchise contract).
Theo loại hợp đồng này, thông thường chủ nhân của thương hiệu cấp phép
cho bên nhận quyền độc quyền kinh doanh thương hiệu của mình trong
phạm vi một khu vực, thành phố, lãnh thổ, hay quốc gia trong một khoảng
thời gian nhất định mà khonagt hời gian này thông thường dài hơn nhiều
so với khoảng thời gian của hợp đồng nhượng quyền riêng lẻ. Bên nhận
quyền độc quyền (master franchisee) có thể nhượng lại quyền thương mại
cho người thứ ba dưới hình thức nhượng quyền riêng lẻ hay nhượng quyền
phát triển khu vực. Bên nhận quyền thương mại độc quyền thường phải
cam kết mở bao nhiêu cửa hàng trong một thời gian nhất định do chủ nhân
của thương hiệu quy định. Nếu không đáp ứng đúng tiến độ như thoả thuận
trong hợp đồng thì bên nhận quyền có nguy cơ bị cắt quyền độc quyền
trong khu vực hay lãnh thổ đó. Ngoài số lượng các cửa hàng phải mở theo
đúng kế hoạch đã thống nhất trong hợp đồng, bên nhận quyền độc quyền
phải cam kết xây dựng các chương trình huấn luyện, đào tạo những người
nhận quyền sau này để đảm bào chất lượng và uy tín của thương hiệu. Do
đó nhiều chủ thương hiệu yêu cầu đối tác nhận quyền độc quyền tiềm năng
phải lên một kế hoạch phát triển kinh doanh và quản trị hệ thống nhượng
quyền trong giai đoạn từ 3 đến 5 năm để xét duyệt trước khi quyết định cấp
phép. Vì thế, bên nhận quyền độc quyền, ngoài kinh nghiệm trong lĩnh vực
quản lý điều hành cơ sở kinh doanh nhượng quyền của mình khá độc lập, ít
18
bị ràng buộc bởi những quy định của bên nhượng quyền. Bên nhận quyền
có thể chế biến cung cách phục vụ và kinh doanh theo ý mình. Loại hợp
đồng nhượng quyền này tương tự với kinh doanh cấp phép (licensing) mà
trong đó chủ thương hiệu quan tâm nhiều đến việc phân phối sản phẩm của
mình và không quan tâm mấy đến hoạt động hàng ngày hay tiêu chuẩn
hình thức của cơ sở kinh doanh nhượng quyền. Do đó, mối quan hệ giữa
bên nhượng quyền và bên nhận quyền là mối quan hệ nhà cung cấp và nhà
phân phối mà phổ biến nhất là các trạm xăng dầu, đại lý bán ô tô và các
công ty sản xuất nước giải khát.
Loại thứ hai, hợp đồng nhượng quyền mô hình kinh doanh mẫu
(business format franchise contract). Loại hợp đồng này bao gồm chuyển
giao qui trình kinh doanh và công thức điều hành, quản lý. Các chuẩn mực
của mô hình kinh doanh mẫu phải được giữ đúng. Quan hệ hợp tác giữa
bên nhượng quyền và bên nhận quyền theo loại hợp đồng này rất chặt chẽ
và liên tục. Đây cũng chính là hình thức nhượng quyền phổ biến nhất và
hiệu quả nhất hiện nay. Bên nhận quyền phải trả một khoản phí nhượng
quyền cho bên nhượng quyền.
Loại thứ ba, hợp đồng nhượng quyền sản xuất (manufacturing or
processing arrangement contract). Với loại hợp đồng này, bên nhượng
quyền cung cấp cho bên nhận quyền thành phần hoặc công thức để sản
xuất một sản phẩm và rồi bên nhận quyền phải tiếp thị nó phù hợp với tiêu
chuẩn của bên nhượng quyền (ví dụ hợp đồng nhượng quyền nước giải
khát đóng chai) [1]. Thông thường bên nhượng quyền trao cho bên nhận
quyền quyền sản xuất và bán sản phẩm với nhãn hiệu và thương hiệu của
bên nhượng quyền. Bên nhượng quyền cho phép bên nhận quyền được sử
dụng các nguyên liệu và/hoặc kỹ thuật đặc trưng, riêng biệt của bên
19
1.1.4. Vai trò và ý nghĩa của nhƣợng quyền thƣơng mại
Nhượng quyền thương mại đối với Việt Nam còn mới mẻ, tuy đã bắt
đầu được chú ý và phát triển. Sức hấp dẫn và những ưu điểm của hình thức
kinh doanh này trên thế giới đã được minh chứng qua thực tiễn ở nhiều
nước phát triển. Nhượng quyền thương mại được dự báo sẽ là hình thức
kinh doanh phát triển mạnh ở Việt Nam – một nền kinh tế chuyển đổi đang
cần sự du nhập của các ý tưởng kinh doanh, công nghệ và nghệ thuật quản
trị. Xét ở khía cạnh khác cho thấy Việt Nam hoàn toàn có thể có môi
trường thích hợp cho sự phát triển của hình thức kinh doanh này vì Việt
Nam có sự an toàn xã hội cao, không có xung đột về tôn giáo, chính trị, và
hệ thống pháp luật linh động
Các doanh nghiệp trong nước hiện nay đang tìm cách kinh doanh
trên cả nước thông qua hình thức nhượng quyền. Các nhà đầu tư nước
ngoài cũng mong muốn thâm nhập vào thị trường Việt Nam thông qua
hình thức kinh doanh này, nhất là trong lĩnh vực dịch vụ. Đặc biệt thương
nhân Việt Nam cũng đã trinh phục các thị trường khó tính như Mỹ, Nhật,
Hàn Quốc bằng hình thức kinh doanh này và đã có nhứng thành công nhất
định, chẳng như “Cà phê Trung Nguyên”. Doanh thu từ hoạt động nhượng
quyền thương mại tăng lên rất nhiều so với những năm 1990. Do đó dẫn
đến công ăn việc làm của người lao động cũng được giải quyết tốt hơn.
Albert Kong, Chủ tịch Công ty Asiawide Franchise Consultant, một trong
những công ty hàng đầu trong lĩnh vực tư vấn Franchising tại Châu Á, cho
rằng: Hoàn cảnh để franchise trở thành cơ hội kinh doanh khi khủng hoảng
kinh tế khiến tỷ lệ thất nghiệp gia tăng, nhiều nhà đầu tư tìm cơ hội kinh
21
doanh trong khi nhượng quyền sẽ giảm rủi ro cho doanh nghiệp; khi thị
trường chứng khoán gặp khó khăn, mức độ tiếp cận tín dụng bị hạn chế do
ngân hàng siết chặt cho vay. Do vậy nhượng quyền thương mại có ý nghĩa
rất lớn đối với nền kinh tế hậu khủng hoảng hiện nay ở Việt Nam [28].
sự đòi hỏi hay yêu cầu của một bên bị đáp lại bởi yêu cầu hay sự viện dẫn
trái ngược của bên kia” [11]. David Foskett cho rằng: “Một tranh chấp tất
nhiên không thể xuất hiện, trừ khi một trái quyền được khẳng định bởi một
bên mà lại bị một bên khác chống lại” [12, tr. 5].
Tranh chấp hợp đồng nhượng quyền thương mại trước hết là một
tranh chấp hợp đồng trong lĩnh vực kinh doanh – một bộ phận của tranh
chấp pháp lý. Vì thế trước tiên phải nghiên cứu tranh chấp hợp đồng trong
kinh doanh là gì.
Ở Việt Nam hiện nay các luật gia có những định nghĩa tương đối
khác nhau về tranh chấp kinh doanh, thương mại nói chung và tranh chấp
hợp đồng nói riêng.
Về tranh chấp kinh doanh thương mại, TS. Phan Chí Hiếu định
nghĩa: “Tranh chấp kinh tế được hiểu là những mâu thuẫn hay xung đột về
quyền và nghĩa vụ, lợi ích kinh tế giữa các chủ thể khi tham gia quan hệ
kinh tế” [4, tr. 98]. Định nghĩa này sử dụng thuật ngữ tranh chấp kinh tế,
tuy nhiên phải hiểu đó chính là tranh chấp kinh doanh bởi trước khi ban
hành Bộ luật Dân sự 2005 và Luật Thương mại 2005, ở Việt Nam vẫn tồn
tại một ngành luật được gọi là luật kinh tế với sự biểu hiện thông qua Pháp
lệnh Hợp đồng kinh tế 1989. Nay ngành luật này bị thay thế một phần bởi
ngành luật thương mại [2, tr. 17]. PGS. TS. Phạm Hữu Nghị có ý niệm
23
không khác với định nghĩa trên rằng: “Tranh chấp trong kinh doanh là mâu
thuẫn hay xung đột về quyền và nghĩa vụ giữa các nhà đầu tư, các doanh
nghiệp với tư cách là chủ thể kinh doanh” [7, tr. 73]. Trường Đại học Luật
Hà Nội cho rằng: “Tranh chấp thương mại là những mâu thuẫn (bất đồng
hay xung đột) về quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong quá trình thực hiện
các hoạt động thương mại” [9, tr. 432].
Về tranh chấp hợp đồng, Học viện Tư pháp định nghĩa: “Tranh chấp
hợp đồng là sự mâu thuẫn, bất đồng ý kiến giữa các bên tham gia quan hệ
luôn muốn chống lại những hạn chế của bên nhượng quyền và phát triển
các quyền thương mại được chuyển nhượng theo ý mình để tách khỏi sự lệ
thuộc. Ngoài ra bên nhận quyền có tâm lý không muốn trích lợi nhuận
kiếm được để chi trả cho bên nhượng quyền. Sự trái ngược bên trong của
hai bên dù xuất hiện tại thời điểm nào của mối quan hệ là những động cơ
thúc đẩy cho việc tranh chấp. Các tranh chấp này có thể xuất phát từ các
hoàn cảnh cụ thể sau:
Thứ nhất, vi phạm tiền hợp đồng. Tranh chấp phát sinh thường liên
quan tới việc công bố và trao đổi các tài liệu hay giấy tờ giao dịch cần thiết
trước khi giao kết hợp đồng.
Thứ hai, vi phạm về năng lực chủ thể của hợp đồng. Đây là nguyên
nhân để đưa đến tranh chấp. Tuy nhiên nó thường phát sinh khi mối quan
hệ nhượng quyền không suôn sẻ hoặc kinh doanh nhượng quyền lâm vào
tình trạng khó khăn, dù năng lực chủ thể có thể đã được xác định trước khi
giao kết hợp đồng.
25
Thứ ba, không thống nhất trong cách hiểu hợp đồng. Tranh chấp này
liên quan tới yêu cầu gải thích hợp đồng.
Thứ tư, không thực hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ các
điều kiện của hợp đồng. Tranh chấp này liên quan tới việc vi phạm nghĩa
vụ theo hợp đồng của một hoặc cả các bên.
Thứ năm, chấm dứt và vi phạm các qui định liên quan tới chấm dứt
hợp đồng nhượng quyền thương mại. Tranh chấp này có thể liên quan tới
chấm dứt do sự vi phạm hợp đồng hoặc chấm dứt do sự tự nguyện của các
bên.
Qua đây có thể hiểu: Tranh chấp hợp đồng nhượng quyền thương
mại là những tranh chấp pháp lý trong việc hiểu và thực hiện, cũng như
tiến hành giao kết và chấm dứt hợp đồng nhượng quyền thương mại giữa
các bên tham gia quan hệ nhượng quyền thương mại.