Hợp đồng nhượng quyền thương mại theo pháp
luật Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế
Nguyễn Thị Vân
Khoa Luật
Luận văn ThS ngành: Luật Quốc tế; Mã số: 60 38 60
Người hướng dẫn: TS. Nông Quốc Bình
Năm bảo vệ: 2011
Abstract: Khái quát chung về nhượng quyền thương mại và hợp đồng nhượng
thương mại. Nghiên cứu các vấn đề pháp lý cơ bản về hợp đồng nhượng quyền
thương mại (HĐNQTM) bao gồm quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia hợp
đồng, việc gia hạn, chấm dứt và thời hạn của hợp đồng từ đó giúp các bên khi
tham gia quan hệ hợp đồng hiểu được bản chất của loại hợp đồng này cũng như
đưa ra nhận định về quy định của pháp luật Việt Nam trong trường hợp liên quan.
Phân tích thực trạng nhượng quyền thương mại ở Việt Nam. Đưa ra những giải
pháp nhằm hoàn thiện pháp luật điều chỉnh HĐNQTM.
Keywords: Pháp luật Việt Nam; Luật Quốc tế; Hợp đồng thương mại; Hội nhập
quốc tế; Luật thương mại
Content
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Franchise (nhượng quyền thương mại) có nguồn gốc từ tiếng Pháp, có nghĩa là đặc
quyền, ưu đãi là một hình thức nhân rộng thương hiệu, nhân rộng mô hình kinh doanh đã
được du nhập và đang phát triển mạnh mẽ ở Việt Nam, đặc biệt sau khi Việt Nam trở
thành thành viên chính thức Tổ Chức Thương Mại Thế Giới (WTO).
Quan hệ nhượng quyền thương mại liên quan đến nhiều lĩnh vực như: quyền sở hữu
trí tuệ, cạnh tranh, bản thân quyền thương mại lại được hình thành từ một gói các quyền
liên quan đến nhiều đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ, vì vậy việc kiểm soát sở hữu đối
với loại tài sản này không dễ dàng. Do bên nhận quyền cũng độc lập về hoạt động kinh
doanh, thường không phải là công ty con hoặc công ty bị chi phối bởi bên nhượng quyền
Luận văn này tiếp cận và đi sâu nghiên cứu một cách cơ bản, toàn diện và có hệ
thống các vấn đề lý luận và thực tiễn về hợp đồng về nhượng quyền thương mại và pháp
luật về HĐNQTM trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
3. MỤC TIÊU VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đề tài này tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận và các quy định cụ thể về HĐNQTM
theo pháp luật Việt Nam, cụ thể ở đây là HĐNQTM theo Luật Thương mại 2005 và các
văn bản hướng dẫn thi hành.
Trong phần nội dung, tác giả sẽ phân tích các vấn đề pháp lý cơ bản về
HĐNQTM bao gồm quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng, việc gia hạn,
chấm dứt và thời hạn của hợp đồng v.v từ đó giúp các bên khi tham gia quan hệ hợp đồng
hiểu được bản chất của loại hợp đồng này cũng như đưa ra nhận định về quy định của
pháp luật Việt Nam trong từng trường hợp liên quan. Qua đó, tác giả sẽ nêu lên những
kiến nghị có thể được áp dụng trong việc hoàn thiện pháp luật về HĐNQTM một cách
hợp lý, khoa học và phù hợp với thông lệ quốc tế.
4. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Luận văn sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học khác nhau, như
phương pháp tổng hợp và phân tích để phân tích các quy định của pháp luật Việt Nam
trong HĐNQTM để từ đó đánh giá mức độ hiệu quả khi áp dụng các quy định đó trên
thực tiễn áp dụng của các bên trong hợp đồng; phương pháp thống kê, phương pháp so
sánh và đối chiếu các quy đinh của các quy định của pháp luật Việt Nam với các quy
định của pháp luật các nước, từ đó rút ra những điểm đã đạt được và những điểm cần phải
sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về HĐNQTM; phương pháp kết hợp nghiên
cứu lý luận với thực tiễn Các phương pháp nghiên cứu trong Luận văn được thực hiện
trên nền tảng của phương pháp duy vật lịch sử, duy vật biện chứng; trên cơ sở các quan
điểm, đường lối về chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam
5. BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN
Luận văn này được bố cục như sau:
Phần mở đầu
Chương 1. Khái quát chung về nhượng quyền thương mại và hợp đồng nhượng
quyền thương mại
không cần thiết vì trên thực tế việc kinh doanh có thể chỉ gắn liền với một trong hoặc một
vài các đối tượng trên và ngược lại cũng có thể gắn với các đối tượng khác ngoài các đối
tượng trên. Theo quan điểm của tác giả thì nhượng quyền thương mại ở Việt Nam nên
được định nghĩa như sau:
“Nhượng quyền thương mại là một hoạt động thương mại theo đó thông qua một
hợp đồng bên nhượng quyền cho phép bên nhận quyền độc lập tiến hành việc mua bán
hàng hóa, cung ứng dịch vụ theo một phương thức kinh doanh và gắn liền với các đối
tượng sở hữu trí tuệ do bên nhượng quyền sở hữu hoặc kiểm soát, bên nhượng quyền sẽ
tiến hành việc hỗ trợ và kiểm soát thường xuyên đối với việc kinh doanh của bên nhận
quyền, đổi lại, bên nhận quyền sẽ trả cho bên nhượng quyền một khoản phí”.
1.1.2 Các đặc điểm của nhượng quyền thương mại
Nhượng quyền thương mại là hoạt động thương mại mang những đặc điểm, tính
chất tổng hợp của một số loại hoạt động thương mại khác, đặc biệt là quan hệ chuyển
giao công nghệ, li-xăng và hoạt động phân phối thương mại. Tuy nhiên, nhượng quyền
thương mại cũng mang những đặc điểm riêng biệt giúp chúng ta có thể phân biệt rõ ràng
hoạt động này với các hoạt động thương mại khác:
1.1.2.1 Đối tượng của nhượng quyền thương mại là “quyền thương mại”
Việc xác định đây là một hoạt động thương mại có ý nghĩa trong việc xác định pháp
luật áp dụng và xác định cơ quan tài phán trong trường hợp có tranh chấp. Theo NĐ số
35/2006/ND-CP thì “quyền thương mại” được hiểu bao gồm một, một số hoặc toàn bộ
các quyền sau đây:
Quyền được Bên nhượng quyền cho phép và yêu cầu Bên nhận quyền tự mình tiến
hành công việc kinh doanh cung cấp hàng hoá hoặc dịch vụ theo một hệ thống do
Bên nhượng quyền quy định và được gắn với nhãn hiệu hàng hoá, tên thương mại,
khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, quảng cáo của Bên nhượng quyền;
Quyền được Bên nhượng quyền cấp cho Bên nhận quyền sơ cấp quyền thương mại
chung. Bên nhận quyền sơ cấp là thương nhân nhận quyền thương mại từ Bên
nhượng quyền ban đầu;
Quyền được Bên nhượng quyền thứ cấp (là thương nhân có quyền cấp lại quyền
thương mại mà mình đã nhận từ Bên nhượng quyền ban đầu cho Bên nhận quyền
của nhân viên khi cung ứng các sản phẩm trên thị trường tạo nên tính hệ thống của quan
hệ nhượng quyền thương mại. Bằng cách này hay cách khác, những đặc trưng cơ bản
nhất của hàng hoá, dịch vụ và cách thức cung ứng của bên nhượng quyền phải được bên
nhận quyền lặp lại. Mọi sự phát triển và sáng tạo không xuất phát từ ý chí của bên
nhượng quyền hoặc không có sự cho phép hoặc thỏa thuận trước với bên nhượng quyền
sẽ phá hỏng tính hệ thống của mạng lưới cung cấp dịch vụ, hàng hóa sản phẩm được tạo
ra từ quan hệ nhượng quyền thương mại.
1.1.3 Phân loại nhượng quyền thương mại
Nhượng quyền thương mại tồn tại trong nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội và
hoạt động này cũng được phân loại theo từng tiêu chí khác nhau:
1.1.3.1 Căn cứ vào mục đích của việc kinh doanh nhượng quyền ta có thể phân nhượng
quyền thương mại thành ba dạng cơ bản sau đây:
Nhượng quyền bán sản phẩm (product franchise)
Nhượng quyền gia công (process franchise)
Nhượng quyền phương thức kinh doanh (business format franchise)
1.1.3.2 Căn cứ vào đối tượng được cơ sở kinh doanh nhượng quyền cung cấp:
Nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực dịch vụ (Service Franchise)
Nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực tiêu thụ hàng hóa (Distribution
Franchise).
1.1.3.3 Căn cứ vai trò của các chủ thể trong mối quan hệ nhượng quyền thương mại, có
thể chia nhượng quyền thương mại thành các loại:
Nhượng quyền thương mại chung (Master Franchise)
Nhượng quyền thương mại thứ cấp (gián tiếp) (Sub-Franchising).
1.2 Vai trò của nhƣợng quyền thƣơng mại
Việt Nam trong những năm gần đây có những điều kiện rất thuận lợi cho hoạt
động kinh doanh thương mại nói chung và nhượng quyền thương mại nói riêng. Với tốc
độ tăng trưởng GDP bình quân trên 8%, một quốc gia có dân số trên 82 triệu người, tình
hình kinh tế ổn định, nhà nước khuyến khích đầu tư, sức mua của thị trường được đánh
giá là rất cao trên thế giới. Hơn nữa, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên thứ 150
của WTO, mở ra nhiều cơ hội cho các nhà kinh doanh cả trong và ngoài nước. Trong bối
thống vì vậy các chi phí về tiếp thị, quảng cáo sẽ được giảm thiểu do có sự chia sẻ từ các
chủ thể khác nhau; đồng thời, nếu có rủi ro xảy ra thì nó cũng được san sẻ cho cả hệ
thống cho nên thiệt hại phát sinh cho từng chủ thể kinh doanh là nhỏ nhất.
Tuy nhiên, việc đồng ý ràng buộc bởi HĐNQTM, nắm chắc trong tay những
khoản lợi nhuận không nhỏ và rất ổn định, ít rủi ro nói trên, cũng đồng nghĩa với việc bên
nhượng quyền phải trao toàn bộ những bí quyết, công thức, bí mật kinh doanh của mình
cho một bên độc lập khác. Tính chất độc lập của bên nhận quyền sẽ có khả năng thúc đẩy
bên này vi phạm hợp đồng nhượng quyền bất cứ khi nào bên nhận quyền nhận thấy phần
lợi nhuận mà mình thu được từ việc thực hiện trung thành các điều khoản HĐNQTM ít
hơn rất nhiều so với việc vi phạm hợp đồng đó. Nguy cơ mất bí quyết kinh doanh, lộ bí
mật kinh doanh là nguy cơ thường trực mà bên nhượng quyền phải đối mặt. Giải pháp
cho tình thế này là bên nhượng quyền phải ràng buộc chặt chẽ bên nhận quyền bằng các
điều khoản cấm trong hợp đồng.
1.2.2 Vai trò của nhượng quyền thương mại đối với bên nhận quyền
Đối với bên nhận quyền, không phải tốn kém nhiều chi phí và thời gian vào việc
xây dựng một mô hình kinh doanh, đào tạo một đội ngũ quản lý hoặc xây dựng một
thương hiệu trên thị trường, bên nhận quyền có thể tiến hành kinh doanh ngay sau khi
được nhượng “quyền thương mại”. Nói cách khác, xác suất thành công của bên nhận
quyền với các thương hiệu nổi tiếng sẽ cao hơn rất nhiều so với các doanh nghiệp mới bắt
đầu kinh doanh với các nhãn hiệu chưa được biết đến, bởi vì ngày nay thương hiệu được
xem là yếu tố quyết định lựa chọn sản phẩm đối với người tiêu dùng.
Bên cạnh đó, khi nhận nhượng quyền thương mại, bên nhận quyền sẽ nhận được
sự hỗ trợ kỹ thuật, đào tạo, tiếp thụ và quảng cáo từ bên nhượng quyền vì vậy sẽ giảm tối
đa các chi phí thực và chi phí cơ hội khi bắt đầu kinh doanh. Hơn nữa, kinh doanh theo
một mô hình quản lý có sẵn, cung cấp một loại hàng hoá, dịch vụ đã có sức cạnh tranh
trên thị trường, phần trăm rủi ro trong kinh doanh được giảm xuống mức đáng kể. Khi đã
tham gia vào hệ thống nhượng quyền thương mại, bên nhận quyền thương mại thụ hưởng
được những lợi ích mà hiệu ứng đám đông mang lại. Sự nổi tiếng của tên thương mại tỉ lệ
thuận với sự mở rộng của hệ thống nhượng quyền thương mại, vì vậy, công việc kinh
doanh của bên nhượng quyền cũng như các bên nhận quyền trở nên dễ dàng hơn. Có thể
tín và sự bền vững trong hoạt động. Chính vì vậy vấn đề huấn luyện, chuyển giao kinh
nghiệm phải diễn ra thường xuyên, thực hiện điều này ngay ở trong nước còn gặp rất
nhiều khó khăn thì những chi nhánh nhượng quyền ở nước ngoài còn khó khăn gấp nhiều
lần. Những quy định của pháp luật nước sở tại là rất kỹ, doanh nghiệp Việt Nam còn
chưa hiểu về vấn đề này nên gặp nhiều khó khăn. Hơn nữa đó là khung pháp lý về
nhượng quyền thương mại của Việt Nam chưa thật vững chắc nên dễ phát sinh các tranh
chấp về ăn chia, về ý tưởng Chính vì vậy, xây dựng một cơ sở pháp lý vững chắc cho
nhượng quyền thương là một yêu cầu cấp bách hiện nay.
1.3 Khái quát chung về hợp đồng nhƣợng quyền thƣơng mại
1.3.1 Định nghĩa về hợp đồng nhượng quyền thương mại
HĐNQTM cũng giống như các loại hợp đồng thông thường khác, là sự thỏa thuận
của các bên trong quan hệ nhượng quyền thương mại làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt
các quyền và nghĩa vụ của các bên trong hoạt động nhượng quyền và cũng chính là căn
cứ, cơ sở để giải quyết tranh chấp có thể sẽ phát sinh giữa các bên trong quá trình thực
hiện hợp đồng.
Đối với Việt Nam, pháp luật không đưa ra một định nghĩa nào về HĐNQTM. Điều
285 Luật Thương mại 2005 với tiêu đề “hợp đồng nhượng quyền thương mại” chỉ quy
định về hình thức của loại hợp đồng này. Như vậy, có thể hiểu, trên phương diện pháp
luật, HĐNQTM là loại hợp đồng được các thương nhân ký kết trong quá trình thực hiện
hoạt động thương mại, cụ thể là thực hiện hoạt động nhượng quyền thương mại. Vì vậy,
hợp đồng này phải có những đặc điểm chung của hợp đồng được quy định ở chương VI
của Bộ luật Dân sự năm 2005. HĐNQTM, do vậy, phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện
pháp luật dân sự đặt ra đối với một giao dịch dân sự. Tuy nhiên, nhìn nhận một cách tổng
quát, HĐNQTM chính là thoả thuận giữa các bên nhượng quyền và bên nhận quyền về
việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ liên quan đến hoạt động nhượng quyền thương mại.
Về cơ bản, HĐNQTM thể hiện bản chất của giao dịch nhượng quyền thương mại như
được quy định tại Điều 284 Luật Thương mại 2005.
1.3.2. Chủ thể của hợp đồng nhượng quyền thương mại
Trong quan hệ nhượng quyền thương mại, tồn tại hai chủ thể, đó là bên nhượng
quyền và bên nhận quyền. Về cơ bản, HĐNQTM chính là những thoả thuận của hai chủ
luật trước một nghĩa vụ là bảo vệ tối đa quyền lợi hợp pháp của các thương nhân. Quy định
rõ ràng về hình thức của HĐNQTM, bắt buộc các bên chủ thể phải thể hiện loại hợp đồng
này dưới dạng văn bản cũng chính là một trong những cách thức bảo vệ các thương nhân
khỏi những rủi ro có thể xảy ra khi mà những thương nhân này chưa có nhiều kinh nghiệm
trong lĩnh vực nhượng quyền thương mại.
1.3.4 Đối tượng của hợp đồng nhượng quyền thương mại
Nói tới nội dung của HĐNQTM, không thể không nói tới đối tượng của hợp đồng
loại này. Đây là lợi ích mà các bên trong quan hệ nhượng quyền đều hướng tới, đó chính
là “quyền thương mại” (bao gồm: tên thương mại, công nghệ, bí quyết kinh doanh, quy
trình kinh doanh, nhãn hiệu hàng hoá, tài liệu hướng dẫn ) mà các bên thoả thuận trong
HĐNQTM. Ở các nước khác nhau, với cái nhìn không đồng nhất về hoạt động nhượng
quyền thương mại, “quyền thương mại” mà một thương nhân có thể đem nhượng cho một
thương nhân khác có nội dung rộng, hẹp khác nhau. Một số nước cho rằng, đối tượng của
nhượng quyền thương mại chỉ là việc sử dụng tên thương mại, kiểu dáng thiết kế của
hàng hoá, trong khi đó một số nước khác lại mở rộng đối tượng của nhượng quyền
thương mại là tất cả những quyền hợp pháp liên quan thiết thân tới hoạt động thương mại
của một thương nhân. Tuy nhiên, xu hướng phát triển của thương mại quốc tế chỉ ra rằng,
khái niệm về đối tượng của hoạt động nhượng quyền thương mại sẽ ngày càng được mở
rộng trong bối cảnh hội nhập quốc tế đang diễn ra ngày một sôi động. Lúc đó “quyền
thương mại” không chỉ là một phép cộng đơn giản của các đối tượng của quyền sở hữu trí
tuệ mà cao hơn, đó là sự kết hợp toàn diện tất cả các yếu tố ấy trong một thể thống nhất
không phân tách. Có thể nói, chỉ có cách hiểu như trên về đối tượng của HĐNQTM mới
nói lên được bản chất của quan hệ thương mại đặc biệt này. Xuất phát từ bản chất của
“quyền thương mại”, khi giao kết HĐNQTM, các bên cần thiết phải cân nhắc những yếu
tố sẽ được nhắc đến và kết hợp trong “quyền thương mại”. Đối với những quốc gia mà
pháp luật thương mại chưa đưa ra được một định nghĩa cụ thể về “quyền thương mại”,
các bên chủ thể trong quan hệ sẽ là những người xác định nội hàm của “quyền thương
mại” cho từng hợp đồng cụ thể. Đó chính là việc liệt kê những đối tượng được đưa vào
gói quyền thương mại. Bên cạnh đó, dưới góc độ pháp lý, pháp luật sẽ hỗ trợ các bên
trong việc làm cho định nghĩa của các bên sáng tỏ hơn thông qua việc quy định về tính
cũng ràng buộc bên nhận quyền với những cam kết nhất định. Do đó, khi bên nhận quyền
chuyển nhượng lại việc kinh doanh của mình thì bên nhượng quyền cũng muốn bên nhận
chuyển nhượng đó cũng phải thoả mãn các điều kiện như bên nhận quyền đồng thời cũng
sẽ chịu ràng buộc bởi những cam kết như bên nhận quyền.
1.3.8 Chấm dứt hợp đồng nhượng quyền thương mại
Hợp đồng nhượng quyền chấm dứt khi hết hạn hợp đồng mà không được gia hạn
hoặc khi chấm dứt trước thời hạn theo các điều khoản của hợp đồng. Khi hết thời hạn của
hợp đồng, nếu cả hai bên đều mong muốn tiếp tục thực hiện hợp đồng với bên kia thì hai
bên có thể gia hạn hợp đồng. Trong trường hợp ngược lại thì hợp đồng đương nhiên
chấm dứt. Bên cạnh đó, do hợp đồng thường có thời hạn dài như được trình bày trên đây,
hợp đồng luôn chứa đựng các quy định về quyền chấm dứt hợp đồng của một trong hai
bên.
Việc chấm dứt hay tiếp tục thực hiện HĐNQTM có ảnh hưởng rất lớn đến lợi ích
của các bên trong quan hệ – đây là mốc quan trọng để đánh dấu sự chấm dứt quyền khai
thác “quyền thương mại” của bên nhận quyền, đồng thời chấm dứt quyền giám sát cũng
như đòi phí nhượng quyền của bên nhượng quyền. Về cơ bản, HĐNQTM sẽ chấm dứt
trong các trường hợp sau: (i) chấm dứt thông thường là việc chấm dứt hợp đồng khi hợp
đồng đã hết thời hạn mà không có thoả thuận gia hạn thêm giữa các bên; (ii) chấm dứt
trong trường hợp chưa hết thời hạn đã thoả thuận trong hợp đồng hay còn gọi là đơn
phương chấm dứt hợp đồng.
CHƢƠNG 2
NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CƠ BẢN CỦA HỢP ĐỒNG
NHƢỢNG QUYỀN THƢƠNG MẠI
Những vấn đề pháp lý cơ bản của một HĐNQTM thực chất là các điều khoản quy
định về quyền và nghĩa vụ của các bên trong HĐNQTM dựa trên ý chí của của bên đã được
thống nhất và thoả thuận theo quy định của pháp luật.
2.1.1 Quyền của bên nhượng quyền
Một là, nhận tiền nhượng quyền. Để đáp lại việc bên nhượng quyền cấp quyền cho
bên nhận quyền hoạt động theo hệ thống, cho phép sử dụng các đối tượng sở hữu trí tuệ
và cung cấp các hỗ trợ thường xuyên trong suốt quá trình kinh doanh, bên nhận quyền sẽ
hiệu quả phải được cung cấp cho mỗi bên nhận quyền ngay khi bắt đầu mối quan hệ cũng
như trên cơ sở thường xuyên. Tài liệu này chính là sách hướng dẫn hoạt động (Operation
Manual). Sách hướng dẫn hoạt động sẽ giúp cho bên nhận quyền nhận thức đúng và tuân
thủ được một cách chặt chẽ các quy định của hệ thống tránh tình trạng bên nhận quyền do
không biết mà vi phạm các quy định của hệ thống. Sách hướng dẫn hoạt động là một tài
liệu không thể thiếu trong bất kỳ hệ thống nhượng quyền nào. Nó là tài liệu ghi lại tất cả
các phương pháp, quy trình, kỹ thuật, hệ thống, kế hoạch và tất cả các vấn đề liên quan
đến hoạt động của hệ thống nhượng quyền do bên nhượng quyền thiết kế và tập hợp lại
được giao cho bên nhận quyền trước khi bên nhận quyền bắt đầu tiến hành hoạt động
kinh doanh. Bên nhận quyền có nghĩa vụ phải tuân thủ và thực hiện theo sách hướng dẫn
hoạt động trong suốt quá trình điều hành việc kinh doanh của mình.
Hai là, đào tạo ban đầu và cung cấp trợ giúp kỹ thuật thường xuyên cho thương
nhân nhận quyền để điều hành hoạt động theo đúng hệ thống nhượng quyền thương mại.
Đào tạo vừa là quyền vừa là nghĩa vụ của cả hai bên trong hợp đồng nhượng quyền. Đối
với bên nhượng quyền có nghĩa vụ trợ giúp, đào tạo để bên nhận quyền có đủ kiến thức
mà tiến hành việc kinh doanh, nhưng đó cũng là quyền của bên nhượng quyền buộc bên
nhận quyền phải tham gia đào tạo để có thể thực hiện việc kinh doanh theo đúng phương
thức kinh doanh của mình, theo đúng những chuẩn chung do mình đề ra, đảm bảo tính
đồng bộ, thống nhất của hệ thống. Đối với bên nhận quyền có quyền được bên nhượng
quyền trợ giúp, đào tạo để đảm bảo việc kinh doanh thành công, nhưng bên nhượng
quyền cũng có nghĩa vụ đảm bảo mình và các nhân viên của mình tham gia đầy đủ các
chương trình đào tạo do bên nhượng quyền đề ra
Chi phí liên quan đến việc đào tạo thường sẽ do hai bên thỏa thuận và ghi trong
hợp đồng nhượng quyền. Chi phí đào tạo thông thường được bao gồm trong khoản phí
ban đầu. Tuy nhiên vẫn có một vài bên nhượng quyền tính phí đào tạo riêng. Khoản phí
đào tạo được dùng để trả cho nhân công và các nguồn cung cấp bên ngoài.
Ba là, thiết kế và sắp xếp địa điểm bán hàng, cung ứng dịch vụ bằng chi phí của
thương nhân nhận quyền. Để đảm bảo tính thống nhất của các cơ sở kinh doanh nhượng
quyền trong cùng một hệ thống, bên nhượng quyền luôn quản lý rất chặt chẽ việc thiết kế,
sắp xếp cũng như trang trí cơ sở kinh doanh. Bên nhượng quyền sẽ cung cấp cho bên
buộc về mặt nghĩa vụ đó, bên nhận quyền cũng có một số quyền đối với bên nhượng
quyền, những quyền này cũng chính là mối ràng buộc trở lại của bên nhận quyền đối với
bên nhượng quyền. Cụ thể, bên nhận quyền có thể:
Một là, yêu cầu thương nhân nhượng quyền cung cấp đầy đủ trợ giúp kỹ thuật có
liên quan đến hệ thống nhượng quyền thương mại.
Hai là, yêu cầu thương nhân nhượng quyền đối xử bình đẳng với các thương nhân
nhận quyền khác trong hệ thống nhượng quyền thương mại.
Hai quyền cơ bản nói trên của thương nhân nhận quyền có thể được triển khai
khác nhau, phù hợp với quy định cụ thể của từng quốc gia hay tổ chức quốc tế về nhượng
quyền thương mại. Ở Việt Nam, hai quyền trên được quy định cụ thể trong Điều 288 Luật
Thương mại, các quy định này chỉ dừng lại ở những quy định mang tính chất định hướng,
không có những quy định vạch ra những giới hạn cụ thể hay những điều kiện cụ thể để
thực hiện những quyền này.
2.1.2 Nghĩa vụ của bên nhận quyền
Nghĩa vụ của bên nhận quyền đối với bên nhượng quyền và các bên thứ ba chính
là những điều kiện mà bên nhận quyền phải đáp ứng khi chấp nhận tham gia quan hệ
HĐNQTM. Mối quan hệ này có thể bị chấm dứt bất cứ thời điểm nào nằm ngoài sự chủ
động của bên nhận quyền với lý do bên nhận quyền không đáp ứng đủ điều kiện của quan
hệ nhượng quyền, nói cách khác, là bên nhận quyền không thực hiện đủ nghĩa vụ của
mình. Điều 289, Luật Thương mại 2005 đã quy định, nếu không có thỏa thuận nào khác
thì bên nhượng quyền có các nghĩa vụ sau đây:
Một là, trả tiền nhượng quyền và các khoản thanh toán khác theo HĐNQTM.
Hai là, đầu tư đủ cơ sở vật chất, nguồn tài chính và nhân lực để tiếp nhận các
quyền và bí quyết kinh doanh mà bên nhượng quyền chuyển giao.
Ba là, chấp nhận sự kiểm soát, giám sát và hướng dẫn của bên nhượng quyền;
tuân thủ các yêu cầu về thiết kế, sắp xếp địa điểm bán hàng, cung ứng dịch vụ của thương
nhân nhượng quyền. Theo hợp đồng nhượng quyền, bên nhận quyền chấp nhận sự kiểm
soát thường xuyên và liên tục từ bên nhượng quyền. Việc này vừa giúp đảm bảo được
tính hệ thống của hoạt động nhượng quyền vừa đảm bảo được việc hướng cho việc kinh
doanh của bên nhận quyền đi đúng hướng và thành công. Hơn nữa, do tính chất độc lập
thương mại, tranh chấp có thể nảy sinh tại bất cứ giai đoạn nào của việc thực hiện hợp
đồng và chủ yếu xuất phát từ hai nguyên nhân chính: (i) cách tính phí nhượng quyền và
(ii) cách hiểu về việc thực hiện đúng nghĩa vụ của mỗi bên. Chính vì vậy, việc miêu tả
chi tiết nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ nhượng quyền và định ra cho những nghĩa vụ
ấy những ranh giới phân biệt nhất định giữa việc hoàn thành và vi phạm chúng là một
trong những cách thức giúp cho các bên tránh được những tranh chấp không đáng có trong khi
thực hiện kinh doanh bằng phương thức nhượng quyền thương mại.
2.2 Quyền và nghĩa vụ khác
Liên quan đến việc bên nhượng quyền cho phép bên nhận quyền sử dụng các đối
tượng sở hữu trí tuệ thuộc quyền sở hữu của mình, bên nhượng quyền và bên nhận quyền
có những quyền và nghĩa vụ liên quan đến việc này.
2.2.1 Bên nhượng quyền có các quyền và nghĩa vụ
Cùng với việc ký kết hợp đồng nhượng quyền, bên nhượng quyền sẽ cấp cho bên
nhận quyền quyền sử dụng không độc quyền các đối tượng sở hữu trí tuệ và hướng
dẫn bên nhận quyền sử dụng đúng đắn các đối tượng này. Để có thể cấp quyền sử
dụng cho bên nhận quyền, bên nhượng quyền đảm bảo mình là chủ sở hữu hoặc
người kiểm soát các đối tượng trên và có quyền cấp quyền cho bên nhận quyền sử
dụng. Đồng thời bên nhượng quyền cũng cam kết sẽ không để cho bên nhận quyền
chịu bất kỳ thiệt hại nào trong trường hợp có bất kỳ tranh chấp nào với bên thứ ba
về quyền sở hữu của các đối tượng đó.
2.2.2 Bên nhận quyền có các quyền và nghĩa vụ:
Xác nhận rằng bên nhượng quyền là chủ sở hữu của tất cả các quyền sở hữu và lợi
ích trong các nhãn hiệu hàng hóa và danh tiếng gắn liền với các nhãn hiệu hàng
hóa đó. Bên nhận quyền chỉ được xác định mình là bên được li-xăng chứ không
phải chủ sở hữu của nhãn hiệu hàng hóa và thực hiện các thủ tục đăng ký liên quan
để xác nhận việc này. Bên nhận quyền không được đăng ký hoặc tìm cách đăng ký
nhãn hiệu hàng hóa dưới tên của mình hoặc dưới tên của người khác. Việc bên
nhận quyền sử dụng nhãn hiệu hàng hóa theo hợp đồng nhượng quyền không làm
cho bên nhận quyền có lợi ích chủ sở hữu đối với các nhãn hiệu hàng hóa ngoại
trừ một li-xăng không độc quyền.
Nguyên cũng như hình thức kinh doanh nhượng quyền thương mại của chính nó là một
thực trạng cần xem xét và là bài học cho các doanh nghiệp trẻ của Việc Nam bước đầu
tham gia thị trường kinh doanh mới đó là nhượng quyền.
3.2 Thực trạng pháp luật điều chỉnh HĐNQTM ở Việt Nam
Cũng như tất cả mọi hình thức kinh doanh khác, nhượng quyền thương mại ngoài
những ưu điểm, cũng có những nhược điểm không thể không nói tới. Bên nhượng quyền
trao quyền cho một bên khác để thực hiện ý tưởng kinh doanh của mình, đương nhiên
cũng phải chịu rủi ro khi bên nhận quyền thực hiện không đúng các ý tưởng này khiến
công việc kinh doanh bị đổ bể gây ấn tượng xấu cho hoạt động kinh doanh của mình,
đồng thời làm giảm giá trị thương hiệu của bên nhượng quyền. Khi hoạt động kinh doanh
phát triển mạnh, đem lại lợi nhuận cao, bên nhận quyền rất dễ phá vỡ HĐNQTM và trở
thành đối thủ cạnh tranh đối với bên nhượng quyền. Nhược điểm của nhượng quyền
thương mại thể hiện rất rõ khi bên nhượng quyền lợi dụng ưu thế của mình để áp đặt, o
ép các bên nhận quyền, khiến cho bên nhận quyền phải chịu những nguyên tắc hoàn toàn
phi lý và cuối cùng dẫn đến toàn bộ hệ thống bị đổ bể.
Theo Điều 8 và Điều 9 của Nghị định số 35/NĐ-CP của Chính Phủ ngày
31/03/2006 quy định chi tiết Luật Thương mại 2005 về hoạt động nhượng quyền thương
mại bắt buộc bên nhượng quyền phải công bố công khai thông tin nhượng quyền đối với
bên nhận quyền trong một khoảng thời gian là 15 ngày làm việc trước khi ký kết hợp
đồng nhượng quyền và quy định cụ thể những nội dung chủ yếu mà bản thông tin này cần
phải có. Đồng thời, pháp luật thương mại Việt Nam cũng yêu cầu bên nhượng quyền có
nghĩa vụ đăng ký việc nhượng quyền và hỗ trợ, cung cấp thông tin cho bên nhận quyền
trong toàn bộ thời gian hợp đồng nhượng quyền có hiệu lực. Xuất phát từ tính chất mất
tương xứng về thông tin giữa bên nhượng quyền và bên nhận quyền thương mại trong
quan hệ nhượng quyền thương mại, pháp luật yêu cầu nội dung công bố thông tin mà bên
nhượng quyền đưa ra phải toàn diện, bao quát tất cả các mặt hoạt động chính của chủ thể
nhượng quyền đồng thời phải chi tiết, cụ thể từng lĩnh vực.
Về thời hạn, gia hạn, thay đổi và chấm dứt HĐNQTM. Chứa đựng rủi ro cho các
bên tham gia quan hệ là đặc trưng được tạo bởi sự phức tạp của quan hệ nhượng quyền
thương mại. Những cặp khái niệm tưởng như mâu thuẫn như: độc lập, thống nhất; công
tuệ đối với một số lĩnh vực có liên quan.
Các quy định pháp luật sở hữu trí tuệ sẽ điều chỉnh các vấn đề liên quan đến đối
tượng sở hữu trí tuệ trong HĐNQTM là hợp lý nhưng để sự hợp lý này tạo nên hiệu quả
trong việc điều chỉnh các quan hệ thương mại thì pháp luật về sở hữu trí tuệ cần có những
thay đổi hoặc những quy định riêng gắn với sở hữu trí tuệ trong HĐNQTM
Từ thực tế thực hiện các HĐNQTM đã bắt đầu xuất hiện những tranh chấp phát
sinh từ cách thức sử dụng các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ trong hoạt động nhượng
quyền thương mại.
3.3 Những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật điều chỉnh HĐNQTM
3.3.1 Hoàn thiện quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng
Trên cơ sở bình đẳng về quyền và nghĩa vụ giữa hai bên trong hợp đồng nhượng
quyền cũng như giảm thiểu những rủi ro hay tranh chấp xảy ra khi thực hiện hợp đồng,
xét ở góc độ chung nhất, pháp luật về nhượng quyền thương mại ở Việt nam đã có những
quy định nhằm điều chỉnh và hạn chế các tranh chấp có thể xảy ra. Tuy nhiên, các quy
định điều chỉnh một số nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng trong pháp luật thương mại
Việt Nam vẫn còn sơ sài, chưa đầy đủ, chưa có tính pháp lý cao bảo vệ được quyền lợi
của bên đối trọng trong hợp đồng.
Luật Thương mại 2005 do chưa có quy định đầy đủ bao hàm chi tiết nội hàm cũng
như ngoại diên của một số khái niệm pháp lý liên quan đến hoạt động nhượng quyền
thương mại nên đã quy định được chi tiết cũng như nêu ra được một số khái niệm, định
nghĩa thuật ngữ pháp lý khi quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng
nhượng quyền thương mại. Đối với những quyền và nghĩa vụ đối ứng, tranh chấp rất dễ
xảy ra, đi kèm với những tranh chấp ấy là sự cố ý lạm dụng quan hệ nhượng quyền
thương mại để trục lợi hoặc cạnh tranh không lành mạnh. Chẳng hạn như quyền kiểm
soát của bên nhượng quyền, các quy định của pháp luật phải cụ thể hóa được quyền kiểm
soát bao gồm những quyền gì và kiểm soát đến đâu, mức độ kiểm soát như thế nào để
tránh bên nhượng quyền tham gia quá sau vào hoạt động của bên nhận quyền.
Luật Thương mại 2005 cũng quy định nghĩa vụ của bên nhận quyền là đầu tư đủ
cơ sở vật chất, nguồn tài chính và nhân lực để tiếp nhận các quyền và bí quyết kinh doanh
mà bên nhượng quyền chuyển giao. Đây có thể coi là trách nhiệm của bên nhận quyền
không còn tồn tại sẽ dẫn đến việc chấm dứt hợp đồng và hậu quả pháp lý của việc chấm
dứt này hầu như không có gì đáng nói. Tuy nhiên, với HĐNQTM, nếu vì một lý do nhất
định, bên nhượng quyền không còn tồn tại, trong khi đó việc kinh doanh bằng các dấu
hiệu nhận biết thương nhân của bên nhận quyền vẫn tốt đẹp thì công việc kinh doanh của
bên này có bắt buộc phải ngừng lại hay không. Ngoài ra nên bổ sung thêm quy định về
quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng của bên nhượng quyền như trong trường hợp bên
nhận quyền không thanh toán phí nhượng quyền trong một thời hạn nhất định thì bên
nhượng quyền có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng và phải có chế tài đối với bên