ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ DƯƠNG THỊ DIỆP MAI THÔNG TIN BẤT ĐỐI XỨNG TRONG HOẠT ĐỘNG
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM TRONG
BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ
Chuyên ngành : Tài chính và Ngân hàng
Mã số : 60 34 20 LUẬN VĂN THẠC SỸ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. NGUYỄN NGỌC THANH
1.3.1.2. Tác động của rủi ro đạo đức 15
1.3.2. Khắc phục vấn đề thông tin bất đối xứng trong hoạt động của các
NHTM. 16
1.3.2.1. Trước khi cho vay. 16
1.3.2.2. Sau khi cho vay. 18
1.4. Một số bài học kinh nghiệm từ xử lý thông tin bất đối xứng trong
hoạt động của hệ thống NHTM ở một số nước. 20
1.4.1. Mỹ 20
1.4.2. Mehico. 20
1.4.3. Các nước Đông Nam Á. 21
1.4.4. Một số bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam. 23
ii
CHƯƠNG 2 : THÔNG TIN BẤT ĐỐI XỨNG TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA NHTM
TẠI VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN TỪ 1997 ĐẾN NAY 25
2.1. Tổng quan về hoạt động của NHTM Việt Nam 25
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển. 25
2.1.1.1. Sự phát triển về số lượng, vốn của các NHTM 28
2.1.1.2. Vai trò của hệ thống NHTM trong nền kinh tế 32
2.1.2. Tình hình hoạt động của các NHTM Việt Nam hiện nay. 34
2.1.2.1. Các điều kiện kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến hoạt động của NHTM 34
2.1.2.2. Tình hình hoạt động kinh doanh chủ yếu của các NHTM Việt Nam hiện nay. 37
2.2. Thực trạng thông tin bất đối xứng trong hoạt động của NHTM tại
Việt Nam 42
2.2.1. Thực trạng của lựa chọn nghịch 42
2.2.2. Thực trạng của rủi ro đạo đức. 46
2.2.3. Mức độ và ảnh hưởng của thông tin bất đối xứng với hoạt động của
NHTM tại Việt Nam 50
2
3
4
5
BHTG
CIC
NH
NHNN
NHTM
Bảo hiểm tiền gửi
Hệ thống trung tâm tín dụng
Ngân hàng
Ngân hàng Nhà nước
Ngân hàng thương mại
Bảng 2.4 Chỉ tiêu tài chính của một số ngân hàng đang niêm yết 41
5
Bảng 2.5
Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ của một số NHTM 50
6
Bảng 2.6
Tỷ lệ dự nợ xấu toàn ngành ngân hàng
51
chủng loại, góp phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh. Tín dụng NH cũng đã đóng góp
tích cực cho việc duy trì sự tăng trưởng kinh tế với nhịp độ cao trong nhiều năm liên
tục. Các NHTM đã hỗ trợ có hiệu quả trong việc tạo việc làm mới và thu hút lao
động, góp phần cải thiện thu nhập và giảm nghèo bền vững. Thông qua nguồn vốn
tín dụng cho các chương trình và dự án phát triển sản xuất kinh doanh, hàng năm hệ
thống NH đã góp phần tạo thêm được nhiều việc làm mới, nhất là tại các vùng nông
thôn. Tuy nhiên, hệ thống NHTM ở Việt Nam hiện nay vẫn còn nhiều bất cập như:
-
Tình hình nợ xấu vẫn có xu hướng giảm chưa chắc chắn. Nợ tồn đọng trong
cho vay đầu tư xây dựng cơ bản bằng VNĐ đang ở mức cao trên tổng dư nợ.
- Mặt bằng lãi suất trong nước tăng lên. Mặc dù lãi suất tăng lên tạo điều kiện
thu hút thêm tiết kiệm vào hệ thống NH, nhưng việc lãi suất tiền gửi tăng lên làm
cho lãi suất cho vay cũng tăng thêm, và điều đó tạo thêm gánh nặng về chi phí cho
các doanh nghiệp phụ thuộc nặng nề vào nguồn vay từ NH.
- Tốc độ tăng trưởng tổng tài sản và tín dụng chậm lại nhưng không đi kèm
với nâng cao chất lượng tín dụng.
2
- Huy động vốn khó khăn và thanh khoản trở thành mối quan ngại sâu sắc với
hệ thống NH.
- Giám sát an toàn của hệ thống NH còn có những bất cập.
Kinh doanh NH là một nghề đặc biệt huy động vốn để cho vay hay nói cách
khác đi vay để cho vay, do vậy vấn đề rủi ro trong hoạt động tín dụng là không thể
tránh khỏi, các NH cần phải hợp tác chặt chẽ với nhau nhằm hạn chế rủi ro.
Quá trình tự do hoá tài chính và hội nhập quốc tế có thể làm cho nợ xấu gia
tăng khi tạo ra một môi trường cạnh tranh gay gắt, khiến hầu hết các doanh nghiệp,
những khách hàng thường xuyên của NH phải đối mặt với nguy cơ thua lỗ và quy
luật chọn lọc khắc nghiệt của thị trường. Bên cạnh đó, bản thân sự cạnh tranh của
liệu từ thực tế.
- Nguyễn Thị Hạnh, 2004, “Lựa chọn nghịch và rủi ro đạo đức trong hoạt
động kinh doanh NH ở Việt Nam”: Ảnh hưởng của lựa chọn nghịch và rủi ro đạo
đức trong hoạt động kinh doanh NH ở Việt Nam trong giai đoạn 1975 – 2003 và
phương hướng, giải pháp cho vấn đề lựa chọn nghịch và rủi ro đạo đức trong ngành
NH Việt Nam giai đoạn tới.
- Thiều Lê Thanh Lâm, “Thông tin bất cân xứng và các quyết định tài chính
của các công ty cổ phần ở Việt Nam”: Nghiên cứu về thông tin bất đối xứng dựa
vào mức độ hiệu quả của thị trường và những tác động đối với các quyết định tài
chính của các công ty cổ phần ở Việt Nam.
- Lê An Khang, 2008, “Ảnh hưởng của thông tin bất cân xứng đối với nhà đầu
tư trên thị trường chứng khoán Tp.HCM”: Xác định mức độ thông tin bất đối xứng
giữa nhà đầu tư và công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán tp.HCM, xem xét
yếu tố nào tác động mạnh đến vấn đề thông tin bất đối xứng hiện nay và đề ra các
gợi ý chính sách nhằm làm giảm mức độ thông tin bất đối xứng để nhà đầu tư đầu
tư hiệu quả hơn.
- Nguyễn Việt Dũng, 2008, “ Mối liên hệ giữa thông tin BCTC và giá cổ phiếu
trên thị trường chứng khoán Việt Nam”: Nghiên cứu về những công ty đại chúng và
các nhà đầu tư hoạt động trên TTCK Việt Nam từ năm 2000 đên tháng 7/2009. Trên
cơ sở đó đưa ra những giải pháp về phía Nhà nước, doanh nghiệp và nhà đầu tư
nhằm góp phần thúc đẩy sự phát triển của TTCK Việt Nam.
4
- Trịnh Thị Vân Anh, Phạm Thị Mỹ Linh, Đỗ Thị Kim Tuyền, 2010, “Thực
trạng và giải pháp bất cân xứng thông tin trên thị trường chứng khoán Việt Nam”:
Thị trường chứng khoán Việt Nam còn tồn tại rất nhiều vấn đề cần giải quyết,
nhưng đề tài này chỉ tập trung nghiên cứu vấn đề : Thị trường chứng khoán Việt
Nam đã thực hiện tốt chức năng huy động vốn của mình chưa? Nó có đúng là
chuyên gia để có nghiên cứu sâu về vấn đề này.
6. Những đóng góp mới của Luận văn.
Với phạm vi và phương pháp nghiên cứu trên, luận văn dự kiến có một số
đóng góp sau:
- Làm rõ thực trạng vấn đề thông tin bất đối xứng trong hoạt động của các
NHTM Việt Nam trong giai đoạn từ 2003 đến nay
- Đưa ra một số giải pháp chủ yếu khắc phục vấn đề thông tin bất đối xứng
trong hoạt động của các NHTM.
7. Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, thư mục tài liệu tham khảo, Luận văn
gồm 3 chương.
Chương 1: Một số vấn đề lý luận và kinh nghiệm quốc tế về thông tin bất đối
xứng trong hoạt động của NHTM
Chương 2: Thông tin bất đối xứng trong hoạt động của NHTM tại Việt Nam
trong giai đoạn từ 2003 đến nay.
Chương 3: Phương hướng và giải pháp hạn chế vấn đề thông tin bất đối xứng
trong hoạt động của NHTM tại Việt Nam trong thời gian sắp tới.
6
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM
QUỐC TẾ VỀ THÔNG TIN BẤT ĐỐI XỨNG TRONG
HOẠT ĐỘNG CỦA NHTM
1.1. Ngân hàng thương mại.
1.1.2. Hoạt động của NHTM
Theo “Luật các tổ chức tín dụng” được Quốc hội thông qua ngày 12/12/1997,
hoạt động NH là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ NH với nội dung thường
xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ
thanh toán. Như vậy, NHTM gồm những hoạt động chủ yếu sau:
1.1.2.1. Hoạt động huy động vốn.
NHTM là tổ chức kinh doanh tiền tệ, nguồn vốn hoạt động chủ yếu được bổ
sung từ bên ngoài. Nguồn vốn mà NH huy động theo các dạng sau:
- Nhận tiền gửi của các tổ chức, cá nhân và các tổ chức tín dụng khác dưới các
hình thức tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn và các loại tiền gửi khác
- Phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác để huy
động vốn của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước
- Vay vốn của các tổ chức tín dụng khác
- Vay vốn ngắn hạn của NH nhà nước dưới hình thức tái cấp phát vốn
- Các hình thức huy động khác theo quy định của NH nhà nước.
1.1.2.2. Hoạt động tín dụng
NH cấp tín dụng cho các tổ chúc và cá nhân dưới các hình thức cho vay, chiết
khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá khác, bảo lãnh và các hình thức khác theo
quy định của NH nhà nước
1.1.2.3. Dịch vụ thanh toán và ngân quỹ
- Dịch vụ thanh toán: Các NH thực hiện các dịch vụ thanh toán như cung ứng
các phương tiện thanh toán, thực hiện các dịch vụ thanh toán, dịch vụ thu chi hộ,…
- Mở tài khoản: Các NH được mở tài khoản cho khách hàng trong và ngoài
nước. Khách hàng được chọn một NH để mở tài khoản giao dịch chính.
8
- Dịch vụ ngân quỹ: Các NH được thực hiện dịch vụ thu và phát tiền mặt cho
khách hàng
điều chuyển vốn chủ sở hữu lẫn nhau trong cùng hệ thống. Do đó, việc phân tích
hiệu quả sử dụng vốn sở hữu của các NH thành viên trở nên phức tạp, đôi khi
không có ý nghĩa.
- Một trong những hoạt động kinh doanh chủ yếu và đặc biệt của NH là”đi vay
để cho vay”. Vì vậy, vốn huy động của NH vừa được xem là kết quả trung gian, vừa
được xem là nguồn lực.
- Hoạt động kinh doanh của NH diễn ra một cách liên tục theo thời gian và
giữa các hoạt động có mối quan hệ hết sức chặt chẽ. Do vậy, đo lường chi phí, kết
quả hoạt động và hiệu quả trong từng thời kỳ cho từng hoạt động rất phức tạp và chỉ
mang ý nghĩa tương đối. Chu kỳ sản phẩm của NH có thể dưới hay trên một năm
nên xác định chi phí và kết quả của từng năm mang tính quy ước rất lớn.
- Trong quá trình hoạt động, dù kinh doanh theo cơ chế thị trường nhưng các
NHTM phải chịu sự khống chế của NH nhà nước
Như vậy, hoạt động kinh doanh của NHTM có những đặc thù riêng mà các
doanh nghiệp trong các ngành khác không có. Những đặc thù này ảnh hưởng đến
quan điểm, tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả, xây dựng hệ thống chỉ tiêu và phương
pháp phân tích hiệu quả
.
1.2. Thông tin bất đối xứng
1.2.1. Khái niệm
1.2.1.1. Thông tin là gì?
Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về thông tin. Nhưng xét về mặt bản chất
và tác dụng của thông tin có thể đưa ra một số khái niệm chung nhất về thông tin:
Thông tin là một phạm trù khoa học, là những thông báo về một đối tượng khách
quan, nó phản ánh về mặt số lượng và chất lượng những đặc tính của các đối tượng
hiện thực, hay khả năng trong một không gian thời gian nhất định. Thông tin có
năm đặc điểm cơ bản sau:
- Thông tin bao giờ cũng thuộc về hệ thống nhất định, và mỗi hệ thống bao giờ
cũng cần những thông tin và nguồn thông tin nhất định. Như vậy hệ thống và thông
nào tự nhiên có thể thu thập tất cả mọi thông tin.
- Thị trường không bao giờ hoàn toàn đầy đủ
- Sự phân bổ thông tin nhiều khi không đối xứng.
11
1.2.1.2. Vai trò của thông tin đối với hoạt động NH
Thông tin đóng vai trò to lớn trong hoạt động tiền tệ, tín dụng, NH. Các vấn đề
của thông tin với tư cách là một hàng hóa công cộng phát sinh trong ít nhất hai bối
cảnh của thị trường tài chính: thông tin về khả năng thanh toán của các định chế tài
chính, mà chắc chắn là rất có giá trị đối với những người đầu tư (hay người gửi tiền)
đang cân nhắc việc ủy thác tiền của mình hay rút tiền ra từ một định chế tài chính cụ
thể nào đó: và thông tin về ban quản lý của những định chế này, loại thông tin tác
động tới rủi ro và lợi nhuận của các khoản đầu tư.
Thông tin trong hệ thống tài chính tức là cung cấp cho các tổ chức tài chính,
NH các thông tin về khách hàng của họ cũng như việc tìm kiếm thêm các khách
hàng mới để cấp tín dụng. Thông tin cũng giúp cho người gửi tiền có lòng tin đối
với NH nơi mà họ quyết định gửi tiền.
Chính vì vậy mà thông tin tín dụng mang nhiều đặc trưng riêng: đa dạng, cập
nhật, biến đổi nhanh, phức tạp, mang tính kinh doanh có độ rủi ro cao. Bên cạnh đó
thông tin tín dụng không chỉ là những thông tin dùng riêng trong tín dụng NH mà
còn dùng để phân tích các chỉ số về phát triển ngành nghề, trình độ quản lý, tâm lý
xã hội,…
NHTM đóng vai trò “trái tim của nền kinh tế” và thông qua hoạt động tín dụng
nó có quan hệ trực tiếp và thường xuyên đến tất cả các tổ chức kinh tế. Do đó, nếu
NH gặp phải rủi ro, tất yếu sẽ gây ảnh hường tiêu cực đến nền kinh tế và đời sống
xã hội. Đối với các hoạt động của NH thì thông tin có vai trò vô cùng quan trọng, vì
hoạt động của NH liên quan đến những đồng tiền hôm nay để có những hứa hẹn đến
Lựa chọn đối nghịch xảy ra trên các thị trường tài chính khi những người đi
vay có nhiều khả năng tạo ra một kết cục không mong muốn – tức là những rủi ro
không trả được nợ nhưng là người tích cực tìm vay nhất và do vậy có nhiều khả
năng được lựa chọn nhất, trong khi những người có khả năng trả được nợ thì lại
không nhận được khoản vay.
Khi đóng vai trò là người đi vay: NH tạo nguồn vốn cho mình bằng cách thu
hút các nguồn tiền gửi, đi vay của các cá nhân và tổ chức xã hội. Nếu có đầy đủ
thông tin về NH cũng như về nguồn vốn tự có, đội ngũ nhân viên, các dịch vụ cung
cấp, tình hình kinh doanh, khả năng thanh toán của các NH,…các cá nhân và các tổ
chức xã hội sẽ quyết định có gửi tiền ở NH đó hay không. Ngược lại, nếu thông tin
13
về NH không đầy đủ, khi đó sự lựa chọn nghịch sẽ xuất hiện, sẽ làm cản trở việc
huy động vốn của NH, cho dù NH hoàn toàn không có ý định thực hiện những kết
cục không mong muốn. Sự lựa chọn nghịch trong trường hợp này làm cho NH bị rủi
ro vì không huy động được vốn dẫn tới không đủ vốn để hoạt động. Đối với NH nếu
không có một nguồn vốn dồi dào thì không thể mở rộng được hoạt động và khả
năng thanh toán sẽ gặp khó khăn, điều này đặt NH trước nguy cơ lớn hơn là có thể
đóng cửa hoặc vỡ nợ.
Trong lĩnh vực tín dụng, thông tin bất đối xứng ngụ ý rằng các NH không hiểu
rõ mức độ rủi ro của người vay như chính bản thân họ cho nên không thể phân biệt
được giữa người vay rủi ro và người vay an toàn. Nếu không phân biệt được, các
NH sẽ yêu cầu người vay trả lãi suất cao hơn để bù đắp thiệt hại do rủi ro gây ra.
Song, việc tăng lãi suất như vậy có thể làm giảm lợi nhuận của các NH do sự lựa
chọn sai lầm của chính họ và động cơ lệch lạc của người vay. Luận điểm này có thể
giải thích như sau:
Việc tăng lãi suất sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận của các NH theo hai hướng đối
nghịch nhau. Một mặt, lãi suất cao sẽ làm tăng lợi nhuận của các NH nếu các yếu tố
được một nguồn vốn dồi dào, để thu được lợi nhuận cao. NH sẽ thực hiện những
hoạt động mạo hiểm, dễ bị rủi ro như đầu tư vào các cổ phiếu công ty, cho những
người mại hiểm vay tiền với mức lãi suất hứa hẹn cao, tham gia kinh doanh hối
đoái, bảo lãnh tín dụng cho những khách hàng không đủ tin cậy, hoặc những người
điều hành NH ôm trọn số tiền huy động rồi bỏ trốn,…Khi đó rủi ro số tiền bị mất
quá lớn, vốn tự có NH không bù đắp được, NH sẽ phá sản.
Cũng do thông tin không cân xứng, rủi ro đạo đức trên thị trường vay nợ dễ
xảy ra. Trên thị trường có rất nhiều người vay tiền có ý muốn thực hiện những hoạt
động không đạo đức xét theo quan điểm của người cho vay. Một khi những người
này vay được tiền NH, họ có thể sẽ đầu tư vào những dự án có độ rủi ro cao, những
dự án khác hẳn với phương án xin vay trình NH. NH cho vay tiền sẽ bị đặt vào tình
cảnh đứng trước nguy cơ bị rủi ro tín dụng. Nếu NH không thận trọng trong việc
thẩm định cho vay và không giám sát chặt chẽ việc sử dụng vốn vay, rủi ro đạo đức
trên thị trường sẽ đặt NH trước nguy cơ rủi ro tín dụng rất lớn. Nhưng nếu NH quá
thận trọng trước rủi ro đạo đức mà đột ngột cắt đứt các hợp đồng tín dụng thì NH sẽ
bị thiệt hại về lợi nhuận và mất uy tín với khách hàng.
15
1.3. Tác động của thông tin bất đối xứng đối với hoạt động của các
NHTM.
1.3.1. Tác động đến hiệu quả và an toàn hoạt động của NHTM
Thông tin bất đối xứng tác động tới cả người gửi tiền và NH gây ảnh hưởng
chung tới hiệu quả và an toàn trong hoạt động của NHTM.
1.3.1.1. Tác động của lựa chọn nghịch
Lựa chọn nghịch tác động tới hành vi của người gửi tiền.
Biểu hiện của hành vi này là người gửi tiền đã gửi vào NH không nên giao
dịch. Những NH yếu kém trong việc huy động vốn thường cố gắng thu hút người
gửi tiền bằng lãi suất huy động cao cùng các ưu đãi và chương trình khuyến mại.
mạo hiểm vay tiền với mức lãi suất hứa hẹn cao, tham gia kinh doanh hối đoái, bảo
lãnh tín dụng cho những khách hàng không đủ tin cậy, hoặc những người điều hành
NH ôm gọn số tiền huy động rồi bỏ trốn,…Khi đó rủi ro xảy ra số tiền bị mất mát
quá lớn, vốn tự có NH không bù đắp được, NH sẽ phá sản.
Như vậy, thông tin bất đối xứng có thể đến cả từ phía người vay tiền và
NHTM. Nhưng hậu quả sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả và an toàn trong hoạt
động của NHTM. Tác động của thông tin bất đối xứng làm giảm lợi nhuận, tăng tỷ
lệ nợ xấu và có thể dẫn tới mất khả năng thanh khoản của NHTM.
1.3.2. Khắc phục vấn đề thông tin bất đối xứng trong hoạt động của các
NHTM.
1.3.2.1. Trước khi cho vay.
Quá trình này bao gồm các bước: Lập hồ sơ vay vốn, phân tích tín dụng và ra
quyết định tín dụng.
Giải pháp cho vấn đề lựa chọn nghịch và rủi ro đạo đức trong hệ thống NH là
việc tự sản xuất và bán thông tin. Một cách để thu lượm thông tin này cho là có các
công ty riêng thu thập và đưa ra thông tin, thông tin này giúp phân biệt những công
ty tốt và những công ty tồi, và bán thông tin này cho các NH. Hệ thống sản xuất và
bán thông tin riêng này vẫn chưa giải quyết được một cách đầy đủ vấn đề lựa chọn
nghịch nói trên trong thị trường chứng khoán vì nó xuất hiện vấn đề gọi là “người đi
xe không tốn tiền”. Đó là khi những người không chi tiền mua thông tin mà vẫn
hưởng lợi từ thông tin mà người khác đã mua. Khi đó các công ty sẽ không còn đủ
doanh thu bán thông tin để bù đắp chi phí thu nhập và sản xuất nó. Khả năng thu lợi
17
của các công ty riêng nhờ vào bán thông tin yếu đi, nghĩa là có ít thông tin được sản
xuất ra để cho thị trường. Như vậy vẫn tồn tại vấn đề lựa chọn nghịch.
Vấn đề người đi xe không tốn tiền ngăn trở thị trường tư nhân sản xuất đủ
thông tin để loại bỏ thông tin không cân xứng. Liệu các thị trường tài chính có thể
tín dụng trau dồi nghiệp vụ, không ngừng học hỏi để nâng cao trình độ chuyên môn.
- NH cần chú trọng tới công tác bồi dưỡng phẩm chất đạo đức, nêu cao
tinh thần trách nhiệm và thường xuyên bám sát cơ sở, tiếp cận khách hàng để
nắm kịp thời những biến động của khách hàng, từ đó có những cách thức đối
phó cho phù hợp.
1.3.2.2. Sau khi cho vay.
NH có thể đảm bảo rằng người vay tiền sử dụng khoản vay đó vào đúng mục
đích bằng cách viết ra những điều khoản quy định hạn chế ở trong hợp đồng nợ để
hạn chế các khoản đầu tư mang lại rủi ro cho người đi vay. Và bằng cách giám sát
các hoạt động của người đi vay để xem liệu họ có tuân thủ theo những quy định hạn
chế hay không và buộc họ phải tuân thủ theo các quy định hạn chế khi NH có thể
chắc chắn rằng người đi vay sẽ gây rủi ro cho NH. Những quy định hạn chế được
nhắm vào việc giảm rủi ro đạo đức bằng cách loại bỏ những xử sự không mong
muốn. Có bốn quy định hạn chế để đạt đến mục tiêu này:
- Những quy định hạn chế có thể được soạn ra để ngăn ngừa rủi ro đạo đức
bằng cách không để cho người vay có những xử sự không mong muốn về sự thực
hiện các dự án đầu tư có rủi ro. Một số quy định này đòi hỏi rằng một món tiền vay
chỉ có thể được dùng để tài trợ những hoạt động được chỉ định sẵn ví dụ như mua
thiết bị đã được định sẵn hoặc mua các phát minh đã được nói trước. Những kiểu
quy định khác hạn chế một công ty không thực hiện một số hoạt động rủi ro như
mua một doanh nghiệp khác.
- Những quy định hạn chế có thể khuyến khích người vay thực hiện các hoạt
động mong muốn giúp cho món vay đó sẽ dễ có khả năng được hoàn trả hơn. Một
quy định hạn chế thuộc loại này yêu cầu người trụ cột nuôi sống một gia đình mua
bảo hiếm sinh mạng loại sẽ thanh toán hết số tiền vay thế chấp khi người đó chết.
Những quy định hạn chế thuộc loại này cho các doanh nghiệp tập trung vào việc
khuyến khích công ty vay giữ cho giá trị tài sản ròng của công ty cao vì giá trị tài
sản ròng của người vay cao hơn sẽ giảm độ rủi ro đạo đức và khiến cho người vay