ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ DƯƠNG THỊ DIỆP MAI THÔNG TIN BẤT ĐỐI XỨNG TRONG HOẠT ĐỘNG
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM TRONG
BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ
Chuyên ngành : Tài chính và Ngân hàng
Mã số : 60 34 20 LUẬN VĂN THẠC SỸ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. NGUYỄN NGỌC THANH
1.3.1.2. Tác động của rủi ro đạo đức 15
1.3.2. Khắc phục vấn đề thông tin bất đối xứng trong hoạt động của các
NHTM. 16
1.3.2.1. Trước khi cho vay. 16
1.3.2.2. Sau khi cho vay. 18
1.4. Một số bài học kinh nghiệm từ xử lý thông tin bất đối xứng trong
hoạt động của hệ thống NHTM ở một số nước. 20
1.4.1. Mỹ 20
1.4.2. Mehico. 20
1.4.3. Các nước Đông Nam Á. 21
1.4.4. Một số bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam. 23
ii
CHƯƠNG 2 : THÔNG TIN BẤT ĐỐI XỨNG TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA NHTM
TẠI VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN TỪ 1997 ĐẾN NAY 25
2.1. Tổng quan về hoạt động của NHTM Việt Nam 25
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển. 25
2.1.1.1. Sự phát triển về số lượng, vốn của các NHTM 28
2.1.1.2. Vai trò của hệ thống NHTM trong nền kinh tế 32
2.1.2. Tình hình hoạt động của các NHTM Việt Nam hiện nay. 34
2.1.2.1. Các điều kiện kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến hoạt động của NHTM 34
2.1.2.2. Tình hình hoạt động kinh doanh chủ yếu của các NHTM Việt Nam hiện nay. 37
2.2. Thực trạng thông tin bất đối xứng trong hoạt động của NHTM tại
Việt Nam 42
2.2.1. Thực trạng của lựa chọn nghịch 42
2.2.2. Thực trạng của rủi ro đạo đức. 46
2.2.3. Mức độ và ảnh hưởng của thông tin bất đối xứng với hoạt động của
NHTM tại Việt Nam 50
kinh tế ở Việt Nam thời gian qua, hệ thống ngân hàng đã góp phần thúc đẩy hoạt
động đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh và hoạt động xuất nhập khẩu. Đây là
kết quả tác động nhiều mặt của đổi mới hoạt động ngân hàng, nhất là những cố
gắng của ngành ngân hàng trong việc huy động các nguồn vốn trong nước cho
đầu tư phát triển, trong việc đổi mới chính sách cho vay và cơ cấu tín dụng theo
hướng căn cứ chủ yếu vào tính khả thi và hiệu quả của từng dự án, từng lĩnh vực
ngành nghề để quyết định cho vay. Dịch vụ ngân hàng cũng phát triển cả về chất
lượng và chủng loại, góp phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh. Tín dụng ngân
hàng cũng đã đóng góp tích cực cho việc duy trì sự tăng trưởng kinh tế với nhịp
độ cao trong nhiều năm liên tục. Các NHTM đã hỗ trợ có hiệu quả trong việc tạo
việc làm mới và thu hút lao động, góp phần cải thiện thu nhập và giảm nghèo
bền vững. Thông qua nguồn vốn tín dụng cho các chương trình và dự án phát
triển sản xuất kinh doanh, hàng năm hệ thống ngân hàng đã góp phần tạo thêm
được nhiều việc làm mới, nhất là tại các vùng nông thôn. Tuy nhiên, hệ thống
NHTM ở Việt Nam hiện nay vẫn còn nhiều bất cập như:
-
Tình hình nợ xấu vẫn có xu hướng giảm chưa chắc chắn. Nợ tồn đọng
trong cho vay đầu tư xây dựng cơ bản bằng VNĐ đang ở mức cao trên tổng
dư nợ.
- Mặt bằng lãi suất trong nước tăng lên. Mặc dù lãi suất tăng lên tạo điều
kiện thu hút thêm tiết kiệm vào hệ thống ngân hàng, nhưng việc lãi suất tiền gửi
- 2 -
tăng lên làm cho lãi suất cho vay cũng tăng thêm, và điều đó tạo thêm gánh nặng
về chi phí cho các doanh nghiệp phụ thuộc nặng nề vào nguồn vay từ ngân hàng.
- Tốc độ tăng trưởng tổng tài sản và tín dụng chậm lại nhưng không đi kèm
với nâng cao chất lượng tín dụng.
- Huy động vốn khó khăn và thanh khoản trở thành mối quan ngại sâu sắc
với hệ thống ngân hàng.
- Giám sát an toàn của hệ thống ngân hàng còn có những bất cập.
Kinh doanh ngân hàng là một nghề đặc biệt huy động vốn để cho vay hay
hạ tầng và hoạt động tín dụng tại các ngân hàng Việt Nam. Đề tài đã đề cập đến
việc tại sao các ngân hàng phải xử lý vấn đề thông tin bất đối xứng và đi sâu vào
quy trình cấp tín dụng cũng như việc kiểm tra, giám sát việc sử dụng vốn vay.
Tuy nhiên, những vấn đề nghiên cứu mới chỉ dừng ở mức độ lý thuyết và giả
định, chưa có các phân tích số liệu từ thực tế.
- Nguyễn Thị Hạnh, 2004, “Lựa chọn nghịch và rủi ro đạo đức trong hoạt
động kinh doanh ngân hàng ở Việt Nam”: Ảnh hưởng của lựa chọn nghịch và
rủi ro đạo đức trong hoạt động kinh doanh ngân hàng ở Việt Nam trong giai
đoạn 1975 – 2003 và phương hướng, giải pháp cho vấn đề lựa chọn nghịch và
rủi ro đạo đức trong ngành ngân hàng Việt Nam giai đoạn tới.
- Thiều Lê Thanh Lâm, “Thông tin bất cân xứng và các quyết định tài chính
của các công ty cổ phần ở Việt Nam”: Nghiên cứu về thông tin bất đối xứng dựa
vào mức độ hiệu quả của thị trường và những tác động đối với các quyết định tài
chính của các công ty cổ phần ở Việt Nam.
- Lê An Khang, 2008, “Ảnh hưởng của thông tin bất cân xứng đối với nhà
đầu tư trên thị trường chứng khoán Tp.HCM”: Xác định mức độ thông tin bất
đối xứng giữa nhà đầu tư và công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán
tp.HCM, xem xét yếu tố nào tác động mạnh đến vấn đề thông tin bất đối xứng
hiện nay và đề ra các gợi ý chính sách nhằm làm giảm mức độ thông tin bất đối
xứng để nhà đầu tư đầu tư hiệu quả hơn.
- 4 -
- Nguyễn Việt Dũng, 2008, “ Mối liên hệ giữa thông tin BCTC và giá cổ
phiếu trên thị trường chứng khoán Việt Nam”: Nghiên cứu về những công ty đại
chúng và các nhà đầu tư hoạt động trên TTCK Việt Nam từ năm 2000 đên tháng
7/2009. Trên cơ sở đó đưa ra những giải pháp về phía Nhà nước, doanh nghiệp
và nhà đầu tư nhằm góp phần thúc đẩy sự phát triển của TTCK Việt Nam.
- Trịnh Thị Vân Anh, Phạm Thị Mỹ Linh, Đỗ Thị Kim Tuyền, 2010, “Thực
trạng và giải pháp bất cân xứng thông tin trên thị trường chứng khoán Việt
Nam”: Thị trường chứng khoán Việt Nam còn tồn tại rất nhiều vấn đề cần giải
quyết, nhưng đề tài này chỉ tập trung nghiên cứu vấn đề : Thị trường chứng
5. Dự kiến đóng góp mới của Luận văn.
Với phạm vi và phương pháp nghiên cứu trên, luận văn dự kiến có một số
đóng góp sau:
- Làm rõ thực trạng vấn đề thông tin bất đối xứng trong hoạt động của
các NHTM Việt Nam trong giai đoạn từ 2003 đến nay
- Đưa ra một số giải pháp chủ yếu khắc phục vấn đề thông tin bất đối
xứng trong hoạt động của các NHTM.
6. Kết cấu của Luận văn
- Ngoài phần mở đầu, kết luận, thư mục tài liệu tham khảo, Luận văn
gồm 3 chương.
Chương 1: Một số vấn đề lý luận và kinh nghiệm quốc tế về thông tin bất
đối xứng trong hoạt động của NHTM
Chương 2: Thông tin bất đối xứng trong hoạt động của NHTM tại Việt
Nam trong giai đoạn từ 2003 đến nay.
Chương 3: Phương hướng và giải pháp hạn chế vấn đề thông tin bất đối
xứng trong hoạt động của NHTM tại Việt Nam trong thời gian sắp tới.
Do thời gian nghiên cứu có hạn, luận văn này có thể còn những hạn chế
nhất định. Tôi mong nhận được sự đóng góp của các thày cô và các bạn để có
thể hoàn thiện hơn.
- 6 -
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM
QUỐC TẾ VỀ THÔNG TIN BẤT ĐỐI XỨNG TRONG
HOẠT ĐỘNG CỦA NHTM
1.1. Ngân hàng thương mại.
1.1.1. Khái niệm
NHTM là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường
xuyên là nhận tiền ký gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng
số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện
thanh toán.
và thông tin tín dụng mang nhiều đặc trưng riêng: đa dạng, cập nhật, biến đổi
nhanh, phức tạp, mang tính kinh doanh có độ rủi ro cao.
1.2.2. Khái niệm thông tin bất đối xứng.
Theo Frederic S.Mishkin, trong những giao dịch diễn ra trên các thị trường
tài chính, một bên thường không biết tất cả những gì mà họ cần biết về bên kia
để có những quyết định đúng đắn. Sự không cân bằng về thông tin mà mỗi bên
có được gọi là thông tin bất cân xứng.
1.2.2.1. Lựa chọn đối nghịch
Theo Frederic S.Mishkin, lựa chọn đối nghịch là kết quả của thông tin bị
che đậy, nó xảy ra trước khi thực hiện giao dịch mà bên có nhiều thông tin có
thể gây hại cho bên có ít thông tin hơn.
Lựa chọn đối nghịch xảy ra trên các thị trường tài chính khi những người đi
vay có nhiều khả năng tạo ra một kết cục không mong muốn.
1.2.2.2. Rủi ro đạo đức
Theo Frederic S.Mishkin, rủi ro đạo đức là một vấn đề do thông tin không
cân xứng tạo ra sau khi cuộc giao dịch diễn ra. Rủi ro đạo đức trong các thị
trường tài chính diễn ra khi người cho vay phải chịu một rủi ro là người vay có ý
muốn thực hiện những hoạt động không tốt xét theo quan điểm của người cho
- 8 -
vay, bởi vì những hoạt động này khiến ít có khả năng để món vay này được
hoàn trả.
1.3. Tác động của thông tin bất đối xứng đối với hoạt động của các
NHTM.
1.3.1. Tác động đến hiệu quả và an toàn hoạt động của NHTM
1.3.1.1. Tác động của lựa chọn nghịch
Lựa chọn nghịch tác động tới hành vi của người gửi tiền.
Biểu hiện của hành vi này là người gửi tiền đã gửi vào ngân hàng không
nên giao dịch.
Lựa chọn nghịch tác động tới quyết định tín dụng của NHTM.
Biểu hiện của hành vi này là Ngân hàng đã chọn nhầm đối tượng cho vay,
1.4.1. Mỹ
Rủi ro vỡ nợ do việc bảo hiểm tiền gửi gây ra và ý muốn ngăn ngừa các vụ
vợ nợ ngân hàng lớn khiến dễ có thể là một sự đổ vỡ tài chính quan trọng sẽ xuất
hiện, những người điểu hành ngân hàng đương nhiên là không muốn cho phép
một ngân hàng lớn được vỡ nợ để gây tổn thất cho những người gửi tiền ở đó.
1.4.2. Mehico.
Khi các ngân hàng ở Mehico được tư nhân hóa vào những năm 1990,
chúng không có bộ phận tín dụng chính thức để kiểm soát các khoản cho vay đối
với các hộ gia đình và các doanh nghiệp nhỏ. Sự bùng nổ cho vay này đã vượt
quá khả năng kiểm soát và bảo vệ của các ngân hàng, đã xảy ra như là kết quả
của các dòng tiết kiệm gia tăng vào lĩnh vực ngân hàng và sự gia tăng cổ phần
cho vay của các ngân hàng cho các công ty tư nhân.
1.4.3. Các nước Đông Nam Á.
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ở khu
vực Đông Nam Á. Một trong những nguyên nhân chính là tâm lý ỷ lại và đầu tư
bong bóng.
1.4.3. Một số bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt nam
Thứ nhất, NH nhà nước cần nâng cao hiệu quả của trung tâm thông tin tín
dụng. Thứ hai, NH nhà nước cần tăng cường công tác giám sát, thanh kiểm tra
hoạt động tín dụng toàn hệ thống để có giải pháp chấn chỉnh kịp thời, đặc biệt là
cho vay bất động sản, các vi phạm về các tỉ lệ an toàn trong hoạt động.
Thứ ba là bài học về xây dựng và củng cố niềm tin của công chúng.
- 10 -
CHƯƠNG 2: THÔNG TIN BẤT ĐỐI XỨNG TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA
NHTM TẠI VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN TỪ 1997 ĐẾN NAY
2.1. Tổng quan về hoạt động của NHTM Việt Nam
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển.
Ngày 6/5/1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 15/SL thành lập
Ngân hàng Quốc gia Việt Nam.
động ngân hàng, Quốc hội ban hành Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật
Ngân hàng nhà nước Việt Nam có hiệu lực từ ngày 1/8/2003 và Luật sửa đổi bổ
sung một số điều của Luật Các Tổ chức tín dụng có hiệu lực từ ngày 1/10/2004.
2.1.1.2. Vai trò của hệ thống NHTM trong nền kinh tế
NHTM có hai vai trò chính là thúc đẩy phát triển kinh tế và thực thi chính
sách tiền tệ của ngân hàng trung ương (NHTW)
NHTM thể hiện vai trò thúc đẩy phát triển kinh tế thông qua các hoạt động
chủ yếu
- Cung ứng tín dụng cho doanh nghiệp
- Tư vấn cho doanh nghiệp
- Tài trợ thương mại
NHTM thể hiện vai trò thực thi chính sách tiền tệ của NHTW thông qua
các hoạt động chủ yếu
- Chấp hành dự trữ bắt buộc
- Thanh toán không dùng tiền mặt.
2.1.2. Tình hình hoạt động của các NHTM Việt Nam hiện nay.
2.1.2.1. Các điều kiện kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến hoạt động của NHTM
Yếu tố kinh tế
Những thay đổi của môi trường kinh tế như các giai đoạn của chu kỳ kinh
doanh, lạm phát, tốc độ tăng trưởng GDP, triển vọng các ngành sử dụng vốn
ngân hàng, cơ cấu chuyển dịch giữa các khu vực kinh tế, mức độ ổn định của giá
- 12 -
cả và lãi suất, tình trạng thất nghiệp, khả năng hội nhập vào thị trường thế giới,
các cân thanh toán quốc tế,…sẽ tác động tới hoạt động của NHTM.
Yếu tố chính trị, pháp luật và chính sách của chính phủ
Nhà nước luôn kiểm soát chặt chẽ hoạt động của NHTM về cạnh tranh, phá
sản, sáp nhập, cơ cấu tổ chức ngân hàng, các quy định về cho vay, bảo hiểm tiền
gửi, dự phòng rủi ro tín dụng, quy mô vốn tự có,…
Yếu tố văn hóa xã hội
Văn hóa tiêu dùng, thói quen sử dụng các dịch vụ ngân hàng, tâp quán tiết
cầm cố đó có nguy cơ bị làm giả nhiều nhất. Điều này đã được minh chứng qua
các vụ việc xảy ra trong thực tiễn.
Một hồ sơ dễ dàng làm giả nữa là báo cáo tài chính của doanh nghiệp.
Thậm chí có nhiều doanh nghiệp còn duy trì ba hệ thống sổ sách kế toán. Tùy
từng mục đích sử dụng, doanh nghiệp sẽ “chế biến” số liệu trên các báo cáo
dùng cho cơ quan khác nhau. Tình trạng “hai sổ sách” đã tồn tại trong doanh
nghiệp từ lâu, gây thất thu lớn cho ngân sách và dẫn đến lựa chọn nghịch trong
hoạt động tín dụng ngân hàng. Mà sổ sách, hóa đơn chứng từ đã được hợp thức
hóa ngay trong quá trình kinh doanh, nên khó phát hiện. Mặt khác, vì ngân hàng
là cơ quan dân sự, thuế là cơ quan giám sát nhưng lại không quan hệ trực tiếp
với nhau. Bản thân cơ quan thuế cũng hạn chế chia sẻ thông tin doanh nghiệp ra
bên ngoài. Do đó, hai đơn vị này khó mà phát hiện doanh nghiệp khai gian.
Mặc dù biết rõ việc tồn tại nhiều hệ thống báo cáo tài chính trong các
doanh nghiệp nhưng các ngân hàng không thể làm gì vì rất khó xác minh.
2.2.2. Thực trạng của rủi ro đạo đức.
Rủi ro đạo đức có thể xảy ra trong cả quy trình tín dụng từ cả phía khách
hàng và ngân hàng.
Trong hoạt động ngân hàng, rủi ro đạo đức của khách hàng thường thể hiện ở
việc khách hàng vay sử dụng những khoản vay không đúng mục đích cam kết trong
hợp đồng vay nợ, sử dụng vốn sai trình tự, đầu tư vào những hạng mục rủi ro mà
không thông báo cho Ngân hàng. Trên thực tế, để đạt được mục tiêu vay vốn của
mình, nhiều khách hàng đã làm giả hồ sơ, hợp đồng mua bán vòng vo nhằm có thể
- 14 -
vay được vốn từ ngân hàng. Ngân hàng chạy theo mục tiêu lợi nhuận, nới lỏng quá
mức các chính sách đầu tư và tín dụng nhằm đáp ứng và nắm bắt cơ hội thị trường
mà bỏ qua các nguyên tắc cơ bản trong việc thẩm định, giám sát và đưa ra các điều
kiện ràng buộc đối với khách hàng trước và trong khi sử dụng vốn. Ngân hàng đầu
tư, cho vay quá mạo hiểm; cấp tín dụng quá tập trung, thiếu các chính sách cho
vay, thiếu sự kiểm soát chặt chẽ và khoa học.
2.2.3. Mức độ và ảnh hưởng của thông tin bất đối xứng với hoạt động
khách hàng và ngân hàng. Thông tin càng ít bất đối xứng nếu các ngân hàng
hiểu rõ hơn về khách hàng. Điều này chỉ trở thành hiện thực khi có các điều kiện
tiên quyết như hệ thống pháp lý rõ ràng, hệ thống kế toán chặt chẽ và báo cáo
tài chính minh bạch, đủ độ tin cậy và phản ánh đúng năng lực tài chính của
khách hàng. Bên cạnh đó, hệ thống thông tin phải đầy đủ, các tiêu chuẩn đánh
giá và xếp loại doanh nghiệp cụ thể, dễ áp dụng cùng với hệ thống kiểm toán
độc lập và hệ thống đăng ký tài sản quy củ. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HẠN CHẾ VẤN ĐỀ
THÔNG TIN BẤT ĐỐI XỨNG TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA NHTM
TẠI VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN SẮP TỚI
3.1. Phương hướng
3.1.1. Dự báo tình hình kinh tế trong thời gian tới
3.1.1.1. Dự báo về tình hình kinh tế thế giới và trong nước
Nhìn chung là tăng trưởng kinh tế chậm lại, thất nghiệp tăng cao, sức mua
hạn chế, nợ công nhiều hơn. Triển vọng phục hồi của kinh tế thế giới đến nay
vẫn sẽ phụ thuộc chủ yếu vào những diễn biến của cuộc khủng hoảng nợ công
châu Âu. Các nền kinh tế châu Á mới nổi vẫn phải đối mặt với nguy cơ từ các
dòng vốn quá biến động hoặc quá mạnh, hoặc kết hợp cả hai hiểm họa này.
Ngoài ra, các nền kinh tế châu Á cũng phải đối mặt với hiểm họa khác là biến
động giá hàng hóa và lương thực.
Đã có nhiều ý kiến dự báo kinh tế vĩ mô của Việt Nam năm 2013. Song
nhìn chung thì mức tăng trưởng còn tiếp tục gặp khó khăn, nhiều khả năng mức
tăng trưởng kinh tế chỉ đạt ở mức 4 – 5%. Tuy nhiên, nền kinh tế vẫn còn ẩn
- 16 -
chứa những nguồn lực lớn. Nếu Nhà nước có chính sách khai thác tốt, các mục
tiêu về tăng trưởng và ổn định kinh tế vĩ mô sẽ có nhiều khả năng sáng sủa hơn.
Tuy bức tranh kinh tế toàn cầu sau 5 năm khủng hoảng vẫn ảm đạm nhưng
cải thiện năng lực tài chính của các TCTD nhỏ, kém hiệu quả từ đó tăng vốn để
bảo đảm đủ mức vốn tự có theo tiêu chuẩn an toàn vốn của Basel II, tăng khả
năng cạnh tranh của các ngân hàng trong nước với các ngân hàng nước ngoài.
3.1.2. Phương hướng hạn chế vấn đề thông tin bất đối xứng trong hoạt
động của NHTM
3.1.2.1. Hệ thống luật pháp.
Hoàn thiện hệ thống luật pháp, chế độ chính sách tạo điều kiện cho các
NHTM hoạt động an toàn và hiệu quả. Giải pháp quan trọng hàng đầu là nhà
nước không ngừng đề xuất, hoàn thiện, thực thi có hiệu lực cao khuôn khổ pháp
lý cho hoạt động kinh doanh của tất cả các ngành kinh tế trong đó có ngân hàng.
3.1.2.2. Tái cấu trúc hệ thống ngân hàng
Theo một nghiên cứu của World Bank, vấn đề tái cấu trúc ngân hàng cần
phải được khảo sát trên hai phương diện: tái cấu trúc một ngân hàng (bank
restructuring) và tái cấu trúc hệ thống ngân hàng (systemic bank restructuring).
Trong hoàn cảnh của Việt Nam, việc tái cấu trúc ngân hàng cần phải được tiến
hành trên cả hai phương diện, vì không những một số ngân hàng đã hoặc đang
mất tính thanh khoản và đứng trước bờ vực đổ vỡ, mà cả hệ thống ngân hàng
cũng thể hiện nhiều bất cập và yếu kém, cần được tái tổ chức ngay.
3.2. Một số giải pháp chủ yếu.
3.2.1. Giải pháp khắc phục vấn đề lựa chọn nghịch
Thế chấp
Thế chấp tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản
thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên kia
(sau đây gọi là bên nhận thế chấp) và không chuyển giao tài sản đó cho bên
nhận thế chấp.
- 18 -
Thế chấp tài sản được lựa chọn làm biện pháp bảo đảm của hầu hết các
giao dịch dân sự, đặc biệt là trong các quan hệ tín dụng. Tài sản bảo đảm được
coi là phao cứu sinh của hoạt động ngân hàng, bảo đảm ngân hàng có thể thu hồi
ít nhất là vốn gốc khi rủi ro khách hàng không trả được nợ xảy ra. Để phòng
Thực tế giao dịch bảo đảm bằng biện pháp thế chấp đang diễn ra rất sôi
động và phong phú nhưng nợ xấu của ngân hàng cũng đang gia tăng chóng mặt
trong thời gian gần đây.
- Cáo bạch thông tin
- Bảo lãnh
- Thẩm định khách hàng
Đây là bước rất quan trọng trong quy trình nghiệp vụ, nếu làm tốt bước
thẩm định này sẽ hạn chế được rất nhiều rủi ro cho Ngân hàng.
Nội dung của thẩm định khách hàng gồm:
- Thẩm định tư cách khách hàng
a. Thẩm định tư cách khách hàng.
b. Đánh giá uy tín, năng lực và tư cách của người vay vốn hoặc người đại
diện pháp nhân.
c. Xem xét lịch sử hình thành và quá trình phát triển của doanh nghiệp để
rút ra những điểm mạnh, điểm yếu của khách hàng.
- Thẩm định về tình hình sản xuất kinh doanh của khách hàng
Việc đánh giá cần phải xem xét các khía cạnh sau:
Lĩnh vực kinh doanh.
Sản phẩm.
Thị trường.
Đối thủ cạnh tranh
Cơ cấu tổ chức quản lý của doanh nghiệp để thực hiện 4 điểm nêu trên.
Thiết bị, công nghệ.
Khi đánh giá tình hình sản xuất của khách hàng phải so sánh với các doanh
- 21 -
Để đánh giá mức độ độc lập về tài chính của doanh nghiệp ta thường căn
cứ vào tỷ suất tự tài trợ
(8) Tỷ suất tự tài trợ = Vốn chủ sở hữu/ Tổng nguồn vốn.
5. Phân tích sự biến động về tài sản và nguồn vốn:
Phân tích cơ cấu tài sản cho ta thấy mỗi loại tài sản chiếm tỷ trọng bao
nhiêu trong tổng tài sản, mức độ biến động của mỗi loại tài sản trong kỳ để đánh
giá chất lượng tài sản có của doanh nghiệp. Khi phân tích tài sản cần quan tâm
đến mức độ đầu tư vào tài sản cố định.
(9) Tỷ suất đầu tư = Giá trị còn lại của TSCĐ/Tổng tài sản
Chỉ số này quan trọng đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực
sản xuất, xây dựng vì nó thể hiện được năng lực máy móc, thiết bị có đáp ứng
được yêu cầu sản xuất hay không. Đối với các doanh nghiệp hoạt động trong
lĩnh vực thương mại thì chỉ số này thường thấp.
6. Các khoản nợ ngân hàng:
Qua việc xem xét các khoản nợ của doanh nghiệp với các ngân hàng khác
(nếu có) phần nào thể hiện được uy tín của khách hàng trong quan hệ tín dụng,
đồng thời đây là cơ sở để cân đối khả năng trả nợ khi tính toán thời gian vay.
7. Các khoản phải thu, phải trả:
Cân đối các khoản phải thu với các khoản phải trả cho ta thấy doanh nghiệp
là đối tượng bị chiếm dụng vốn hay là người đi chiếm dụng. Đây là một cơ sở để
tính nhu cầu vốn của doanh nghiệp.
8. Tồn kho
Cần xem xét tình hình biến động xuất - nhập và tồn kho cả nguyên liệu và
hàng hoá của Công ty.
9. Chu kỳ kinh doanh.
Việc xác định chu kỳ kinh doanh của Công ty giúp cho việc xác định được
thời hạn vay trung bình cho các khoản vay ngắn hạn.
Số vòng quay hàng tồn kho = Giá vốn hàng bán/Hàng tồn kho bình quân