Ảnh hưởng của các yếu tố nội tại, yếu tố ngành, và yếu tố vĩ mô đến hiệu quả hoạt động ngân hàng thương mại Việt Nam - Pdf 24



BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH


T
Ạ THANH QUÝ ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC YẾU TỐ
NỘI TẠI, YẾU TỐ NGÀNH VÀ YẾU TỐ
VĨ MÔ ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
cùng tôi và hỗ trợ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu. Tạ Thanh Quý

LỜI CAM ĐOAN

 Trước hết, tôi xin cam đoan rằng luận văn nghiên cứu với nội dung “Ảnh
hưởng của các yếu tố nội tại, ngành và yếu tố vĩ mô đến hiệu quả hoạt động
ngân hàng thương mại Việt Nam” là bài nghiên cứu của chính tôi.
Ngoại trừ tài liệu tham khảo được trích dẫn trong luận văn này, tôi cam
đoan rằng toàn phần hay từng phần nhỏ của luận văn chưa được công bố hoặc sử

Cùng với khủng hoảng kinh tế toàn cầu, năm 2012 có thể được xem là năm
sóng gió của ngành ngân hàng với hàng loạt các sự kiện. Lợi nhuận toàn ngành sụt
giảm nghiêm trọng, nợ xấu bùng nổ và trở thành bài toán nan giải, nhiều lãnh đạo
cấp cao của các ngân hàng lớn bị bắt vì vi phạm pháp luật. Bên cạnh đó, hàng loạt
các ngân hàng hoạt động yếu kém bị sát nhập. Để đứng vững trên thương trường,
các nhà điều hành ngân hàng cần phải tìm mọi biện pháp để nâng cao hiệu quả
hoạt động. Trong đó các yếu tố nội tại ngân hàng, yếu tố ngành và yếu tố vĩ mô
được xem xét để đánh giá tác động đến hiệu quả hoạt động.
Với dữ liệu bảng cân bằng của 26 ngân hàng trong giai đoạn 2006-2012, mô
hình hồi quy Pool thông thường được sử dụng để ước lượng mối quan hệ giữa hiệu
quả hoạt động được đo lường bằng ROA, ROE và NIM. Các biến độc lập là yếu tố
vĩ mô (lạm phát), yếu tố ngành (mức độ cạnh tranh thị trường tiền vay) và yếu tố
nội tại của ngân hàng (tỷ lệ vốn chủ sở hữu/tổng tài sản, rủi ro tín dụng, năng suất
lao động, tỷ lệ chi phí hoạt động, quy mô ngân hàng).
Kết quả nghiên cứu cho thấy sự tác động tích cực của năng suất lao động đến
hiệu quả hoạt động. Yếu tố lạm phát và rủi ro tín dụng chưa đủ mạnh để giải thích
được sự biến động của hiệu quả hoạt động. Các yếu tố còn lại có chiều hướng và
cường độ tác động khác nhau tùy theo từng chỉ tiêu đo lường hiệu quả hoạt động
khác nhau. Nhìn chung kết quả này phù hợp với các nghiên cứu thực nghiệm trên
khắp thế giới và phản ánh được thực trạng ngành ngân hàng Việt Nam trong giai
đoạn khủng hoảng.
Dựa vào những kết quả nghiên cứu đạt được, các nhà điều hành ngân hàng có
thêm nguồn tư liệu để nhìn nhận tầm quan trọng của các yếu tố nội tại, ngành và vĩ
mô đến hiệu quả hoạt động ngân hàng. Từ đó hoạch định giải pháp nhằm gia tăng
lợi nhuận và nâng cao hiệu quả hoạt động.

i

2.3.4. Chi phí hoạt động (EXPS) 14
2.3.5. Quy mô ngân hàng (SZ) 16
2.4. Các yếu tố bên ngoài ngân hàng 18
2.4.1. Độ cạnh tranh của ngân hàng tác động đến hiệu quả hoạt động (LN) 18
2.4.2. Lạm phát tác động đến hiệu quả hoạt động ngân hàng (INF) 20
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
3.1. Đo lường các biến trong mô hình nghiên cứu 24
3.1.1. Tỷ lệ vốn chủ sở hữu/tổng tài sản (CAP) 24
3.1.2. Rủi ro tín dụng (RSK) 25
3.1.3. Năng suất lao động (PRO) 26
3.1.4. Tỷ lệ chi phí hoạt động (EXPS) 27
3.1.5. Quy mô ngân hàng (SZ) 27
3.1.6. Mức độ cạnh tranh giữa các ngân hàng trong thị trường tiền vay (LN) 27
3.1.7. Tỷ lệ lạm phát (INF) 28
3.2. Thu thập và xử lý số liệu 29
3.3. Khảo sát tương quan giữa các biến độc lập 30
3.4. Xây dựng phương trình thực nghiệm và lựa chọn mô hình 30
3.4.1. Mô hình hồi quy Pool 30
3.4.2. Mô hình hồi quy tác động cố định (Fixed Effect Model _FEM) 31
3.4.3. Mô hình hồi quy tác động ngẫu nhiên (Random Effect Model _REM) 31
3.4.4. Lựa chọn FEM và REM 32
3.5. Kiểm định độ phù hợp của mô hình hồi quy đã lựa chọn 33
3.6. Giải thích kết quả nghiên cứu 34 iii

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 36
4.1. Thống kê mô tả 36
4.2. Phân tích tương quan 38

Bảng 3.2. Kỳ vọng về dấu giữa biến độc lập và biến phụ thuộc 28
Bảng 4.1. Thống kê mô tả các biến nghiên cứu 36
Bảng 4.2. Ma trận hệ số tương quan giữa các biến 39
Bảng 4.3. Kết quả kiểm định nhân tử phóng đại phương sai (VIF) 41
Bảng 4.4. Kết quả hồi quy Pool với 3 biến phụ thuộc ROE, ROA, NIM 42
Bảng 4.5. Kiểm định Wald trong mô hình hồi quy theo ROE 44
Bảng 4.6. Kiểm định Wald trong mô hình hồi quy theo ROA 45
Bảng 4.7. Kiểm định Wald trong mô hình hồi quy theo NIM 46
Bảng 4.8. Cơ cấu chi phí hoạt động của 33 ngân hàng Việt Nam năm 2012 55
Chương 1: Giới thiệu

1 CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU

Chương mở đầu sẽ trình bày những vấn đề mà nghiên cứu quan tâm cũng như ý
nghĩa của nó trong thực tế. Để tìm câu trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu, mục tiêu
nghiên cứu sẽ được đưa ra. Sau đó luận văn đưa ra phương pháp nghiên cứu tổng quát
và cuối cùng là phạm vi và đối tượng nghiên cứu.

1.1. Lý do nghiên cứu của luận văn
Ngân hàng là một loại hình hoạt động kinh doanh nhằm cung cấp những dịch vụ
tiện ích phục vụ nhu cầu thiết yếu cho các tổ chức, cá nhân về các hoạt động mua bán,
giao dịch, tín dụng liên quan đến tài sản tài chính. Hoạt động này mang lại lợi ích kinh
tế cho cá nhân nói riêng, góp phần phát triển kinh tế nước nhà nói chung. Ngân hàng
được xem là hệ tuần hoàn vốn của nền kinh tế từng quốc gia và toàn cầu. Đặc biệt trong
nền kinh tế hiện nay, ngân hàng là một bộ phận không thể thiếu được với hoạt động chủ
yếu là tiền tệ, tín dụng và thanh toán, trong đó thanh toán giữ vai trò đặc biệt quan
trọng. Mặc dù không trực tiếp tạo ra của cải vật chất cho nền kinh tế, song với đặc điểm

Nghiên cứu này ra đời xuất phát từ các câu hỏi sau đây: Tại sao cùng là ngân hàng
thương mại nhưng ngân hàng này lại hoạt động hiệu quả hơn ngân hàng khác? Phải
chăng do các yếu tố nội tại hay có sự tác động từ các yếu tố vĩ mô của nền kinh tế đến
hiệu quả hoạt động ngân hàng?
Thông qua việc tìm hiểu, nghiên cứu các mối quan hệ và sự tác động của các yếu
tố vĩ mô, yếu tố ngành và yếu tố nội tại của ngân hàng đến hiệu quả hoạt động, ta thấy
mức độ ảnh hưởng của các yếu tố để giúp cho các nhà quản trị ngân hàng đánh giá được
mức độ hoàn thành kế hoạch và mức độ tăng trưởng của lợi nhuận nhằm tìm ra những
nhân tố tích cực, nhân tố tiêu cực ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Từ
đó đề ra các biện pháp, chính sách để phát huy nhân tố tích cực, khắc phục hay loại bỏ
nhân tố tiêu cực, không ngừng nâng cao hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh của
ngân hàng. Việc đánh giá, xem xét một cách khoa học các chỉ tiêu đo lường hiệu quả
hoạt động giúp cho nhà quản trị tránh được những nhận định sai lầm về hiệu quả hoạt
động, từ đó có thể đưa ra những quyết định đúng đắn phát triển ngân hàng ngày một lớn
mạnh.
Chương 1: Giới thiệu

3

1.2. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu của nghiên cứu này là tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt
động của các ngân hàng thương mai ở Việt Nam thông qua việc ước lượng mô hình hồi
quy với biến phụ thuộc là tỷ suất lợi nhuận tính trên tài sản (ROA), tỷ suất lợi trên vốn
chủ sở hữu (ROE), và tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM). Các biến độc lập là các yếu tố
ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng như yếu tố vĩ mô (lạm phát), yếu
tố ngành (mức độ cạnh tranh giữa các ngân hàng trong thị trường tiền vay) và yếu tố nội
tại của ngân hàng (tỷ lệ vốn chủ sở hữu/tổng tài sản, rủi ro tín dụng, năng suất lao động,
tỷ lệ chi phí hoạt động, quy mô ngân hàng) trên cơ sở hệ thống dữ liệu thứ cấp (báo cáo
tài chính) thu thập từ các ngân hàng giai đoạn 2006–2012. Trên cơ sở đó, bài viết đề
xuất các giải pháp làm tăng hiệu quả hoạt động các Ngân hàng ở Việt Nam. Với mục

đến đề tài.
Chương 3: Đo lường các biến và xây dựng mô hình nghiên cứu.
Chương 4: Trình bày kết quả nghiên cứu và thảo luận.
Chương 5: Kết luận, hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo.
1.5. Ý nghĩa và ứng dụng của đề tài nghiên cứu
Về mặt khoa học, đề tài góp phần tham gia vào việc hoàn thiện mô hình xác định
các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng, việc nghiên cứu này vốn
có rất ít nghiên cứu chuyên sâu trong lĩnh vực ngân hàng, đặc biệt là nghiên cứu sự ảnh
hưởng của các yếu tố nội tại như dự phòng chung, dự phòng cụ thể của ngân hàng. Bên
cạnh đó, đây cũng là một nghiên cứu với mục tiêu kiểm nghiệm lại những kết quả
nghiên cứu trước đây về sự ảnh hưởng của các yếu tố vĩ mô, yếu tố ngành, cũng như
tìm ra những yếu tố mới cho những nghiên cứu sau này mà đề tài chưa làm được.
Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu là một tham khảo mang tính khoa học giúp
các nhà quản trị ngân hàng đánh giá được mức độ hoàn thành kế hoạch và mức độ tăng
trưởng của lợi nhuận nhằm tìm ra những nhân tố tích cực, nhân tố tiêu cực ảnh hưởng
đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng, từ đó đề ra các giải pháp và chính sách để phát
huy nhân tố tích cực, khắc phục hay loại bỏ nhân tố tiêu cực, không ngừng nâng cao
hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh của ngân hàng để nhà quản trị tránh được
những nhận định sai lầm về hiệu quả hoạt động, từ đó có thể đưa ra những quyết định
đúng đắn phát triển ngân hàng ngày một lớn mạnh.
Tóm lại, chương mở đầu của nghiên cứu đã phác họa tổng quan các vấn đề cần giải
quyết và đưa ra giải pháp cho các vấn đề đó. Xuyên suốt các phần tiếp theo đây của
luận văn, tác giả sẽ từng bước đi tìm bằng chứng để trả lời cho các câu hỏi ban đầu.
Cuối cùng, kết cấu của nghiên cứu này cũng được đưa ra, phân định rõ ràng từng bước
đi tiếp theo để đạt được mục tiêu cuối cùng.
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm

5
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm

6

Tuy nhiên, ngày 9-1-2013, ngân hàng nhà nước thông báo về kết quả hoạt động
ngân hàng năm 2012 và định hướng 2013, điểm bất ngờ là tín dụng đã tăng mạnh vào
cuối năm 2012, khiến cả năm tăng trưởng 8,91%. Trong đó, tín dụng VNĐ tăng
11,51%, tín dụng ngoại tệ giảm 1,56% so với cuối năm 2011. Tín dụng nông nghiệp,
nông thôn tăng khoảng 8%, tín dụng xuất khẩu tăng khoảng 14%, tín dụng doanh
nghiệp nhỏ và vừa tăng khoảng 6,15%. Dư nợ cho vay các lĩnh vực không khuyến khích
giảm và chiếm tỷ trọng khoảng 4,4% so tổng dư nợ cho vay nền kinh tế. Tín dụng năm
2012 tăng trưởng ở mức thấp kỷ lục, đây là lần đầu tiên kể từ năm 1992, mức tăng
trưởng tín dụng ở một chữ số. Nguyên nhân tín dụng tăng thấp là cầu yếu, khả năng tiêu
thụ sản phẩm khó khăn, hàng tồn kho cao nên nhiều doanh nghiệp không đủ điều kiện
vay vốn; các tổ chức tín dụng phải kiểm soát chặt chẽ tín dụng nhằm ngăn chặn nợ xấu.
(Nguồn trích dẫn: PNS)
2.1.2. Lãi suất huy động giảm liên tiếp 6% trong năm 2012.
Từ mức trần 14%, sau 6 lần điều chỉnh giảm liên tiếp trong năm 2012 còn 8% và
lãi suất dài hạn thì theo cơ chế thả nổi. Lãi suất cơ bản giảm 5% so với cuối năm 2011,
từ mức trần 14%/năm xuống 9%/năm. Song song việc áp trần lãi suất huy động kỳ hạn
ngắn, ngân hàng nhà nước đã cho thả nổi lãi suất kỳ hạn 12 tháng trở lên. Các mức lãi
suất điều hành khác cũng giảm mạnh. Lãi suất tái chiết khấu giảm từ 13%/năm xuống
còn 8%/năm, trong khi lãi suất tái cấp vốn giảm từ 15%/năm xuống 10%/năm.
Lãi suất cho vay giảm mạnh từ 3 – 8%/năm. Việc điều chỉnh trên được xem là
động thái tích cực để hỗ trợ nền kinh tế và doanh nghiệp. Hiên nay, lãi suất cho vay cơ
bản đã về quanh mốc 12-15%. Ngân hàng nhà nước cho biết, năm 2013 sẽ xem xét bỏ
trần lãi suất huy động. Theo đó, ngân hàng nhà nước sẽ điều hành các mức lãi suất phù
hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô, tiền tệ, đặc biệt là diễn biến của lạm phát; Tiếp tục áp
dụng trần lãi suất tiền gửi bằng VNĐ để ổn định mặt bằng lãi suất thị trường, xem xét
bỏ trần lãi suất huy động khi thị trường tiền tệ ổn định và thanh khoản của hệ thống tổ

dụng mà còn cho toàn bộ hệ thống ngân hàng và nền kinh tế. Nợ xấu lớn như hiện nay
cũng đã làm ách tắc dòng chu chuyển vốn trong nền kinh tế, ảnh hưởng tiêu cực không
chỉ với các tổ chức tín dụng mà còn cả các doanh nghiệp. Do bị đọng vốn trong nợ xấu,
các tổ chức tín dụng không có điều kiện mở rộng tăng trưởng tín dụng, khiến cho hoạt
động sản xuất của nền kinh tế gặp khó khăn.
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm

8

Xử lý được nợ xấu sẽ góp phần hạ mặt bằng lãi suất, thúc đẩy tăng trưởng tín dụng
lành mạnh và góp phần tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, đưa nền kinh tế trở lại quỹ đạo
tăng trưởng bền vững. (Nguồn trích dẫn: PNS)
2.1.5. Mức độ cạnh tranh trong ngành ngân hàng
Trong những năm qua, thị trường tài chính ngày càng trở nên sôi động hơn do sự
tham gia của nhiều loại hình ngân hàng và các tổ chức tài chính phi ngân hàng. Hiện
nay, số lượng ngân hàng được phép hoạt động ngày càng tăng cùng với sự ra đời và
phát triển mạnh mẽ của nhiều tổ chức phi ngân hàng, trong khi đó nguồn vốn nhàn rỗi
trong dân cư và các tổ chức kinh tế là có hạn. Vì vậy, mức độ cạnh tranh ở ngành này
khá khốc liệt, ảnh hưởng rất lớn đến lợi nhuận của ngân hàng nhất là trong bối cảnh nên
kinh tế còn nhiều khó khăn như hiện nay. (Nguồn trích dẫn: PNS)

Bảng 2.1. Số lượng Ngân hàng thương mại ở Việt Nam qua các năm
Năm 1991

1993

1995

1997


bên trong và bên ngoài ngân hàng. Các yếu tố bên trong được xác định từ các chỉ tiêu
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm

9

bảng cân đối kế toán, kết quả hoạt động kinh doanh. Các yếu tố bên ngoài không liên
quan đến việc quản lý ngân hàng, nó phản ánh môi trường kinh tế, luật pháp, có thể ảnh
hưởng đến hoạt động của ngân hàng. Do đó, các biến số giải thích của mô hình khi đưa
vào nghiên cứu, cũng thường được phân thành 2 dạng yếu tố: yếu tố bên trong và yếu tố
bên ngoài, tuỳ theo mục đích của các nghiên cứu. Nghiên cứu về hiệu quả hoạt động
ngân hàng đã được các nhà nghiên cứu thực hiện chéo giữa hệ thống ngân hàng các
quốc gia với nhau, hoặc là giữa các ngân hàng trong một quốc gia.

2.2. Hiệu quả hoạt động của ngân hàng (Đo lường bằng ROA, ROE, NIM)
2.2.1. Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA)
ROA được tính bằng tỷ lệ phần trăm của lợi nhuận sau thuế trên bình quân tổng tài
sản. Số liệu về lợi nhuận sau thuế được lấy từ báo cáo kết quả kinh doanh còn chỉ tiêu
tổng tài sản được lấy từ bảng cân đối kế toán thường niên của các ngân hàng. Chỉ tiêu
ROA thể hiện tính hiệu quả của quá trình tổ chức, quản lý hoạt động sản xuất kinh
doanh của ngân hàng. Kết quả chỉ tiêu cho biết bình quân cứ một đồng tài sản được sử
dụng trong quá trình sản xuất kinh doanh thì tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận.
2.2.2. Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE)
ROE được tính bằng tỷ lệ phần trăm của lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu. Số
liệu về lợi nhuận sau thuế được lấy từ báo cáo kết quả kinh doanh, còn chỉ tiêu tổng tài
sản được lấy từ bảng cân đối kế toán thường niên của các ngân hàng. Chỉ tiêu ROE thể
hiện tính hiệu quả của việc sử dụng vốn chủ sở hữu của ngân hàng. Kết quả chỉ tiêu cho
biết bình quân cứ một đồng vốn chủ sở hữu bỏ ra thì thu về được bao nhiêu đồng lợi
nhuận. Về mặt lý thuyết, ROE càng cao thì sử dụng vốn càng có hiệu quả. Các loại cổ
phiếu có ROE cao thường được các nhà đầu tư ưa chuộng, do đó chỉ tiêu này có ý nghĩa
quan trọng đối với quyết định của các nhà đầu tư.

tổng tài sản và NIM.
Tiến hành những nghiên cứu tương tự khác ở khu vực châu Á, số liệu 262 ngân
hàng thương mại tại 9 quốc gia Châu Á từ 1997 đến 2005 đã được Jane-Raung Lin và
các cộng sự (2012) sử dụng để chứng minh hiệu quả quản lý tài sản và vốn chủ sở hữu
có mối liên hệ cùng chiều với NIM. Thời gian sau đó, Fotios và Kyriaki (2007) thực
hiện nghiên cứu yếu tố nội tại ngân hàng và môi trường kinh tế tác động đến lợi nhuận
ngân hàng trong nước và nước ngoài của 15 quốc gia Châu Âu trong giai đoạn 1995 đến
2001. Tổng số ngân hàng được sử dụng trong nghiên cứu này là 584 ngân hàng. Kết
quả cũng cho thấy tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản tác động cùng chiều đến ROA
đối với ngân hàng trong nước và ngân hàng nước ngoài. Anna và Hoi (2007) cũng cho
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm

11

thấy những ngân hàng có tỷ lệ vốn trên tổng tài sản lớn thì sẽ tác động tích cực đến lợi
nhuận (đo lường bằng ROA). Không dừng lại ở đó, Samy Ben (2003) thu thập được kết
quả những ngân hàng nào có tỷ lệ vốn chủ sở hữu cao thì có NIM và ROA cao trong
một nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố nội tại ngân hàng, cấu trúc tài chính và các
yếu tố vĩ mô tác động lên NIM và lợi nhuận ngân hàng với dữ liệu bảng cân đối của 10
ngân hàng ở Tunisia trong giai đoạn 1980 đến 2000. Cuối cùng, trong một nghiên cứu
toàn diện ở 80 quốc gia trong khoảng thời gian từ 1988-1995, Demirguc và Harry
(1999) đã xem xét các yếu tố quyết định đến lãi biên và lợi nhuận ngân hàng. Kết quả
nghiên cứu cho thấy các ngân hàng có vốn tự có cao sẽ có lợi nhuận lãi ròng cao hơn và
có lời hơn. Nhìn chung, qua nhiều nghiên cứu thực nghiệm tại khắp các châu lục trên
thế giới, kết quả thu được khá đồng nhất với kết luận tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài
sản có mối quan hệ cùng chiều với hiệu quả hoạt động ngân hàng. Điều này phù hợp
với thực tế là các ngân hàng với tỷ lệ vốn cao hơn có chi phí tài trợ thấp hơn bởi vì chi
phí phá sản tiềm năng thấp hơn.
Giả thuyết H1: Có mối tương quan thuận giữa tỷ lệ vốn chủ sở hữu/tổng tài
sản với hiệu quả hoạt động của ngân hàng.

thất có thể xảy ra đối với từng khoản nợ cụ thể.
Dự phòng cụ thể = Tỷ lệ trích lập x (Số dư khoản nợ - Giá trị khấu trừ của tài sản đảm
bảo).
Miller và Noulas (1997) cho thấy có mối liên hệ ngược chiều giữa rủi ro tín dụng
và lợi nhuận ngân hàng. Kết quả này có thể được lý giải là khi rủi ro tăng lên, ngân
hàng phải tăng tỷ lệ trích lập dự phòng, do đó làm giảm lợi nhuận. Kết quả tương tự khi
Panayiotis và các cộng sự (2006) thực hiện nghiên cứu tại thị trường Hy Lạp trong giai
đoạn 1985 - 2001. Điều này cho thấy các nhà quản trị hệ thống ngân hàng ở Hy Lạp đã
tăng cường việc kiểm tra giám sát rủi ro tín dụng nhằm tối đa hóa lợi nhuận. Nhất quán
với kết quả đó, việc nghiên cứu số liệu của 5 ngân hàng lớn nhất chiếm 75% tổng tài
sản và có cùng tỷ lệ dư nợ trong năm 1993-2007 ở thị trường Macao đã đưa đến kết
luận tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro tín dụng có tác động ngược chiều đến lợi nhuận
ngân hàng (đo lường bằng ROA) (theo Anna và Hoi (2007) ).
Khi nghiên cứu theo các loại hình ngân hàng khác nhau ở Nga trong giai đoạn
1999-2007, Zuzana và Tigran (2011) sử dụng dữ liệu bảng của tất cả các ngân hàng với
phương pháp hồi quy để tìm ra các yếu tố tác động đến NIM. Các nhà nghiên cứu đã có
bằng chứng thuyết phục về sự tồn tại mối quan hệ ngược chiều giữa rủi ro tín dụng và
NIM đối với các ngân hàng tư nhân, cùng chiều đối với ngân hàng nhà nước. Tuy nhiên
rủi ro tín dụng không có ý nghĩa thống kê với ngân hàng nước ngoài.
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm

13

Bên cạnh đó, thông qua việc nghiên cứu ở giai đoạn trước khủng hoảng 1999-
2006 và giai đoạn khủng hoảng từ 2007- 2009, Andreas và Gabrielle (2011) sử dụng kỹ
thuật ước lượng GMM phân tích số liệu trên 372 ngân hàng thương mại ở Thụy Sĩ từ
1999-2009. Kết quả cho thấy tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro/tổng dư nợ không có ảnh
hưởng đến lợi nhuận ngân hàng trong giai đoạn trước khủng hoảng. Điều này không có
gì đáng ngạc nhiên vì những ngân hàng ở Thụy Sỹ có tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro tín
dụng rất thấp trước khủng hoảng. Tuy nhiên, tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro tín dụng đã
Ngoài ra, trong bối cảnh nền kinh tế thị trường cạnh tranh và toàn cầu hoá, các
ngân hàng đều phải đối mặt với rủi ro, sự thâm hụt, hoặc tình trạng lỗ lãi thất thường
cho dù họ luôn có mục tiêu và kế hoạch cụ thể. Một tổ chức hoạt động với năng suất
cao có thể có nhiều khả năng thu hồi vốn đầu tư hơn. Những tổ chức như vậy cũng có
sức đề kháng cao hơn với mọi trạng thái của nền kinh tế. Mặt khác, một tổ chức hoạt
động với năng suất thấp cũng có thể đạt được thặng dư tương đối do các điều kiện cạnh
tranh khác trong kinh doanh mang lại, nhưng bên cạnh đó nó cũng rất dễ bị tổn thương
và lâm vào tình trạng khủng hoảng trong một số điều kiện nhất định
.
Việc cải thiện năng
suất lao động còn có ý nghĩa đối với mỗi cá nhân trong xã hội với cách hiểu tạo ra nhiều
của cải hơn, thu nhập cao hơn và chất lượng cuộc sống được cải thiện tốt hơn. Như vậy,
năng suất lao động là một trong những yếu tố quan trọng tác động tới sức cạnh tranh
của ngân hàng trong việc tạo ra những hàng hóa và dịch vụ chất lượng cao với giá thành
rẻ đảm bảo sự tăng trưởng và lợi nhuận.

Giả thuyết H3: Năng suất lao động có mối quan hệ cùng chiều với hiệu quả
hoạt động .

2.3.4. Chi phí hoạt động (EXPS)
Chi phí hoạt động đối với ngân hàng là những chi phí xảy ra trong quá trình hoạt
động bình thường của ngân hàng như tiền lương, thưởng nhân viên, điện nước, tiền thuê
văn phòng, quảng cáo tiếp thị, nâng cấp sửa chữa công cụ dụng cụ, tiền thuế, đào tạo,
bảo hiểm tài sản, bảo hiểm tiền gửi, khấu hao, chi phí quản lí và một số chi phí
khác,….không bao gồm các khoản chi phí như chi phí lãi và các khoản chi phí tương tự,
chi phí hoạt động dịch vụ,…
Trong giai đoạn vừa qua, lãi suất tiền gửi và tiền vay đều được quy định chặt chẽ
theo chính sách lãi suất của ngân hàng nhà nước, việc điều chỉnh chi phí lãi của các

biệt trong hoạt động của một ngân hàng ảnh hưởng đến lãi suất và lợi nhuận. Sự thay
đổi trong chi phí vận hành và chi phí hoạt động được phản ánh trong các biến thể trong
biên độ lãi suất ngân hàng, các ngân hàng chuyển chi phí hoạt động (bao gồm cả gánh
nặng thuế của công ty) cho những người gửi tiền và vay tiền của họ. Điều đó có nghĩa
chi phí hoạt động có tác động đến biên độ lãi suất và do đó tác động đến lợi nhuận ngân
hàng.
Thông qua các nghiên cứu thực tiễn từ trước đến nay, một số nhà nghiên cứu phát
hiện ra mối liên hệ cùng chiều giữa chi phí hoạt động và lợi nhuận ngân hàng. Tuy
nhiên con số đó chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ và còn phụ thuộc rất nhiều vào đặc thù địa lý, thể
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm

16

chế và môi trường kinh tế của từng quốc gia. Đa số các nghiên cứu sau này trên diện
rộng đều đưa ra kết quả phù hợp với lý thuyết chi phí khi tìm được những bằng chứng
thuyết phục khẳng định mối quan hệ ngược chiều giữa chi phí hoạt động và lợi nhuận.
Nghĩa là chi phí càng tăng kéo theo lợi nhuận càng giảm và việc quản lý chi phí sao cho
phù hợp, hiệu quả góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động và lợi nhuận của ngân hàng.

Giả thuyết H4: Chi phí hoạt động có mối quan hệ ngược chiều với hiệu quả hoạt
động.

2.3.5. Quy mô ngân hàng (SZ)
Quy mô ngân hàng dùng để phản ánh tính lợi thế hoặc bất lợi kinh tế theo quy mô
(economics of scale) trên thị trường. Quy mô ngân hàng càng lớn thì lợi nhuận càng
tăng. Các bằng chứng thực nghiệm cho thấy mối liên hệ cùng chiều và có ý nghĩa thống
kê giữa yếu tố quy mô và lợi nhuận ngân hàng (Akhavein và các cộng sự (1997),
Smirlock (1985)). Ngoài ra, Short (1979) cho rằng quy mô có liên hệ đến tỷ lệ an toàn
vốn của một ngân hàng, bởi vì các ngân hàng lớn có khuynh hướng ít tăng nguồn vốn
có chi phí cao (vốn chủ sở hữu), và do đó, sẽ làm tăng lợi nhuận. Lập luận tương tự,

phân chia thành hai giai đoạn: Giai đoạn trước khủng hoảng từ 1999-2006 và giai đoạn
khủng hoảng từ 2007 -2009. Kết quả cho thấy có sự chênh lệch rất lớn về lợi nhuận
giữa các ngân hàng. Về mặt quy mô, có nhiều bằng chứng cho thấy những ngân hàng có
quy mô nhỏ hoặc lớn có lợi nhuận cao hơn các ngân hàng quy mô trung bình ở giai
đoạn trước khủng hoảng; nhưng những ngân hàng lớn thì ít lợi nhuận hơn ngân hàng
trung bình và nhỏ trong giai đoạn khủng hoảng bởi vì những ngân hàng lớn có tỷ lệ
trích lập dự phòng rủi ro tín dụng lớn trong giai đoạn khủng hoảng và những ngân hàng
lớn hơn có NIM thấp hơn.
Khác biệt với các ý kiến trên, Eichengreen và Gibson (2001) lại cho thấy ảnh
hưởng của quy mô đối với lợi nhuận là không tuyến tính, tức là ban đầu lợi nhuận tăng
cùng với quy mô, nhưng sau đó thì lợi nhuận lại giảm xuống.
Nhìn chung, với rất nhiều nghiên cứu độc lập tại các quốc gia và trong từng giai
đoạn khác nhau, sự tác động của quy mô đến lợi nhuận ngân hàng còn gây nhiều tranh
cãi và chưa đi đến kết luận đồng nhất. Có thể là mối liên hệ cùng chiều, ngược chiều,
hay vừa cùng vừa ngược chiều hoặc cũng có thể không tác động. Điều đó có thể lý giải
dựa trên sự khác biệt giữa các lãnh thổ và môi trường kinh tế, pháp lý cũng như theo
từng giai đoạn. Trên hết, vai trò của lý thuyết nền tảng rút ra từ những nghiên cứu thực
nghiệm này là hết sức to lớn và không thể phủ nhận.
Tổng hợp kết quả các nghiên cứu trước và dựa vào thực trạng ngân hàng Việt Nam,
mối quan hệ giữa quy mô ngân hàng và lợi nhuận được kỳ vọng là có mối quan hệ cùng

Trích đoạn cạnh tranh của ngân hàng tác động đến hiệu quả hoạt động (LN) Lạm phát tác động đến hiệu quả hoạt động ngân hàng (INF) Tỷ lệ lạm phát (INF) Kiểm định phương sai sai số thay đổi Hướng nghiên cứu tiếp theo
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status