0
đại học quốc gia hà nội
khoa luật nguyễn thị vân hợp đồng nh-ợng quyền th-ơng mại theo
pháp luật việt nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế
luận văn thạc sĩ luật học
Hà nội - 2011
Hà nội - 2011 4
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI VÀ
HỢP ĐỒNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI
8
1.1. Khái quát chung về nhượng quyền thương mại
8
1.1.1.Định nghĩa về nhượng quyền thương mại
8
1.1.2. Các đặc điểm của nhượng quyền thương mại
14
1.1.3. Phân loại nhượng quyền thương mại
19
1.2. Vai trò của nhượng quyền thương mại
24
1.2.1.Vai trò của nhượng quyền thương mại đối với bên nhượng quyền
27
2.1.1. Quyền của bên nhượng quyền
58
2.1.2. Nghĩa vụ của bên nhượng quyền
61
2.2. Quyền và nghĩa vụ của bên nhận quyền
72
5
2.2.1. Quyền của bên nhận quyền
72
2.2.2. Nghĩa vụ của bên nhận quyền
73
2.3. Quyền và nghĩa vụ khác
84
2.3.1. Bên nhượng quyền có các quyền và nghĩa vụ
84
2.3.2. Bên nhận quyền có các quyền và nghĩa vụ:
86
2.4. Phân biệt hợp đồng nhượng quyền thương mại với một số hợp
đồng khác
87
2.4.1. Phân biệt với hợp đồng đại lý thương mại
88
2.4.2. Phân biệt với hợp đồng phân phối
89
2.4.3. Phân biệt với hợp đồng chuyển giao công nghệ
91
2.4.4. Phân biệt với hợp đồng li-xăng quyền sử dụng đối tượng sở hữu
công nghiệp
3.3.3. Hoàn thiện các quy định về sở hữu trí tuệ điều chỉnh hoạt động
nhượng quyền thương mại
133
KẾT LUẬN
135
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
139
3
BẢNG CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLDSVN 2005
Bộ Luật dân sự số 33/2005/QH11do Quốc
Hội nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt
Nam Khóa XI, kỳ họp thứ 7 thông qua vào
ngày 14/6/2005 có hiệu lực thi hành từ ngày
01/01/2006
Luật Thương mại 2005
Luật Thương mại số 36/2005/QH11 do
Quốc Hội nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ
Nghĩa Việt Nam Khóa XI, kỳ họp thứ 7
thông qua vào ngày 14/6/2005 có hiệu lực
thi hành từ ngày 01/01/2006
NĐ số 35/2006/NĐ-CP
Nghị định số 35/2006/NĐ-CP của Chính
phủ ngày 31/03/2006 quy định chi tiết thi
hành một số điều của Luật Thương mại
ngoại trừ phải thành lập liên doanh với đối tác Việt Nam và tỷ lệ vốn góp của
phía nước ngoài không được vượt quá 49%. Kể từ ngày 1/1/2008, hạn chế
vốn góp 49% sẽ được bãi bỏ. Kể từ 1/1/2009, không hạn chế. Sau ba năm kể
từ ngày gia nhập, sẽ cho phép thành lập chi nhánh. Như vậy, tại thời điểm
2
hiện nay, các công ty nước ngoài đã có thể thành lập liên doanh, 100% vốn
nước ngoài ở Việt Nam để kinh doanh theo phương thức nhượng quyền
thương mại.
Có thể nói những biểu hiện thực tế của hoạt động nhượng quyền
thương mại tuy đã xuất hiện ở Việt Nam gần 10 năm nay, song kinh nghiệm
về hoạt động nhượng quyền thương mại còn nhiều hạn chế cả về lý luận và
thực tiễn. Trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, không thể phủ nhận được
rằng hệ thống pháp luật về thương mại của Việt Nam đã từng bước được hoàn
thiện nhằm đáp ứng những yêu cầu ngày càng đa dạng của hoạt động thương
mại, trong đó có nhượng quyền thương mại, tuy nhiên cơ sở pháp lý cho hoạt
động nhượng quyền thương mại còn khá nhiều bất cập, chưa theo kịp đòi hỏi
của thực tiễn kinh doanh.
Quan hệ nhượng quyền thương mại liên quan đến nhiều lĩnh vực như:
quyền sở hữu trí tuệ, cạnh tranh, bản thân quyền thương mại lại được hình
thành từ một gói các quyền liên quan đến nhiều đối tượng của quyền sở hữu
trí tuệ, vì vậy việc kiểm soát sở hữu đối với loại tài sản này không dễ dàng.
Do bên nhận quyền cũng độc lập về hoạt động kinh doanh, thường không phải
là công ty con hoặc công ty bị chi phối bởi bên nhượng quyền nên có xu
hướng muốn được thực hiện các hoạt động thương mại một cách độc lập,
không muốn chịu sự kiểm soát của bên nhượng quyền. Trong khi đó, bên
nhượng quyền thông qua thỏa thuận với bên nhận quyền trên cơ sở
HĐNQTM luôn bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ của mình và thực hiện việc giám
sát chặt chẽ đối với toàn hệ thống nhượng quyền mà cụ thể là các bên nhận
quyền. Chính vì vậy, mối quan hệ tưởng chừng như được kết nối bởi sự hợp
nhượng quyền thương mại như: một số công trình nghiên cứu đề cập khái niệm
về nhượng quyền thương mại từ khía cạnh kinh tế với những so sánh giữa nhượng
4
quyền thương mại với một số hoạt động thương mại khác như bài viết của tác giả
Phạm Thị Thu Hà với tên gọi: Nhượng quyền thương mại với doanh nghiệp Việt
Nam, đăng trên Tờ tin của Hội Sở hữu công nghiệp số 47 – 2005; từ khía cạnh
pháp lý như bài viết của tác giả Bùi Ngọc Cường: Các điều khoản độc quyền
trong HĐNQTM (tạp chí Nhà nước và pháp luật số 7/2007); Hoàn thiện khung
pháp lý về nhượng quyền thương mại (tạp chí nghiên cứu lập pháp, số 8/2007).
Nhìn nhận hoạt động nhượng quyền thương mại đơn thuần dưới góc độ thương
mại và coi nhượng quyền thương mại là một bí quyết kinh doanh, tác giả Lý Quý
Trung có bài viết với tên gọi: Franchise – Bí quyết thành công bằng mô hình
nhượng quyền kinh doanh (Nhà Xuất bản Trẻ, Hà Nội, 2005). Nội dung của sách
chủ yếu tập trung vào các vấn đề thương mại của nhượng quyền hơn là các
vấn đề pháp lý. Ngoài ra, do tác giả là giám đốc điều hành của một bên
nhượng quyền nên nội dung sách cũng nói nhiều đến các vấn đề của bên
nhượng quyền hơn là bên nhận quyền. Với tư cách là một bên trong
HĐNQTM, bên nhận quyền luôn là bên có nhu cầu cần tìm hiểu thông tin hơn
bên nhượng quyền. Ngoài ra, với cuốn sách Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong
HĐNQTM, của Nhà Xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, xuất bản năm
2009, tác giả Hằng Nga nghiên cứu nhượng quyền thương mại dưới góc độ pháp
luật cạnh tranh.
Bên cạnh đó, một số công trình tiếp cận nghiên cứu một số nội dung
cụ thể của pháp luật về nhượng quyền thương mại, như: luận văn Thạc sỹ
Luật học của tác giả Nguyễn Thị Minh Huệ với đề tài Những vấn đề lý luận
và thực tiễn về nhượng quyền thương mại tại Việt Nam (Trường Đại học
Luật Hà nội - 2005).
Tuy nhiên, những công trình kể trên dừng lại ở việc nghiên cứu
nhượng quyền thương mại dưới góc độ kinh tế và những ảnh hưởng của
6
quan. Qua đó, tác giả sẽ nêu lên những kiến nghị có thể được áp dụng trong
việc hoàn thiện pháp luật về HĐNQTM một cách hợp lý, khoa học và phù
hợp với thông lệ quốc tế.
5. Mục đích nghiên cứu và đóng góp của luận văn:
Luận văn sẽ là công trình nghiên cứu một cách có hệ thống pháp luật về
HĐNQTM ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Luận văn cung cấp
cho người đọc một cái nhìn sơ lược về quá trình hình thành và phát triển của
quan hệ nhượng quyền thương mại, từ đó giúp người đọc hiểu rõ hơn về bản
chất của quan hệ hợp đồng nhượng quyền thương mại. Với những phân tích
đối với các điều khoản của HĐNQTM, luận văn sẽ giúp cho những chủ thể có
ý định tham gia ký kết HĐNQTM hiểu rõ hơn về các vấn đề cần đàm phán,
thương lượng trước khi ký kết hợp đồng, đặc biệt hiểu rõ hơn về quyền và
nghĩa vụ của mình trong hợp đồng.
Ngoài ra từ sự đánh giá về thực trạng việc thực hiện các hợp đồng nhượng
quyền thượng mại diễn ra trên thị trường Việt Nam, sự điều chỉnh của pháp luật
có liên quan đến nhượng quyền thương mại, HĐNQTM trong bối cảnh hội nhập
quốc tế và với những đề xuất, kiến nghị, luận văn có thể là tài liệu tham khảo
cho các nhà lập pháp, đặc biệt là các nhà kinh doanh muốn mở rộng mạng lưới
kinh doanh của mình thông qua hệ thống nhượng quyền thương mại và ngược lại
với các nhà đầu tư nhỏ, thiếu vốn, thiếu kinh nghiệm khi tham gia vào các hệ
thống franchise sẽ giúp họ tiết kiệm được tiền bạc, thời gian và giảm thiểu rủi ro
nhanh chóng trở thành những người chủ doanh nghiệp.
6. Cơ cấu luận văn:
Luận văn này được bố cục như sau:
Phần mở đầu
Chương 1 Khái quát chung về nhượng quyền thương mại và hợp đồng
nhượng quyền thương mại
Hiện nay, ở các nước, các tổ chức thương mại quốc tế khác nhau đã có
nhiều định nghĩa về nhượng quyền thương mại, được ghi nhận như là một
phần quan trọng điều chỉnh hệ thống pháp luật thương mại đối với từng tổ
chức quốc tế hay quốc gia đó.
Theo Hiệp hội nhượng quyền thương mại Quốc tế (The International
Franchise Association), một tổ chức được thành lập từ năm 1960 với nhiều
thành viên đến từ hàng trăm quốc gia trên thế giới đã định nghĩa nhượng
9
quyền thương mại như sau: “Nhượng quyền thương mại là mối quan hệ theo
hợp đồng giữa bên nhượng quyền và bên nhận quyền, trong đó, bên nhượng
quyền đề xuất hoặc phải duy trì sự quan tâm liên tục tới doanh nghiệp của
bên nhận quyền trên các khía cạnh như: bí quyết kinh doanh, đào tạo nhân
viên; bên nhận quyền hoạt động dưới nhãn hiệu hàng hoá, phương thức,
phương pháp kinh doanh do bên nhượng quyền sở hữu hoặc kiểm soát và bên
nhận quyền đang hoặc sẽ đầu tư đáng kể vốn vào doanh nghiệp của mình
bằng các nguồn lực của mình.” [20].
Định nghĩa này không đi sâu vào bản chất của nhượng quyền thương
mại mà chỉ khái quát vai trò của các bên trong quan hệ HĐNQTM.
Theo Hiệp Hội Nhượng Quyền Thương Mại Quốc Tế của Hoa Kỳ thì
“Nhượng quyền thương mại là một mối quan hệ hợp đồng giữa bên nhượng
quyền và bên nhận quyền, theo đó bên nhượng quyền cung cấp và có nghĩa vụ
duy trì sự quan tâm liên tục đến việc kinh doanh của bên nhận quyền trên các
lĩnh vực như bí quyết kinh doanh và đào tạo; bên nhận quyền sẽ hoạt động
dưới tên thương mại chung, phương thức và/hoặc cách thức kinh doanh do
bên nhượng quyền sở hữu hoặc kiểm soát; và theo đó bên nhận quyền đang
hoặc sẽ tiến hành đầu tư đáng kể vốn vào việc kinh doanh của mình bằng các
nguồn lực riêng của mình.” [21].
Chương 54, Bộ Luật Dân Sự Nga ban hành năm 1996 định nghĩa
nhượng quyền thương mại như sau: “Theo HĐNQTM, một bên (bên có quyền)
như sau: “Nhượng quyền thương mại là một thỏa thuận, theo đó một bên (bên
nhượng quyền) cấp cho một bên khác (bên nhận quyền) quyền thực hiện hoạt
động đề nghị giao kết hợp đồng, cung cấp hoặc phân phối hàng hóa hoặc
dịch vụ trong lãnh thổ Australia theo hệ thống hoặc kế hoạch kinh doanh mà
cơ bản được xác định, kiểm soát hoặc đề xuất bởi Bên nhượng quyền hoặc
11
Hiệp hội của những bên nhượng quyền; và (i) theo đó việc tiến hành hoạt
động kinh doanh được chủ yếu gắn liền với thương hiệu, hoạt động quảng cáo
hoặc biểu tượng thương mại của Bên nhượng quyền, (ii) Bên nhận quyền
được sở hữu, được sử dụng hoặc được cấp giấy phép bởi Bên nhượng quyền
hoặc hiệp hội của Bên nhượng quyền. Trước khi bắt đầu hoạt động kinh
doanh và trong quá trình kinh doanh, Bên nhận quyền phải thanh toán cho
Bên nhượng quyền hoặc hiệp hội Bên nhượng quyền một khoản phí nhượng
quyền thương mại”.[24]
Hai định nghĩa trên tương đối toàn diện về nhượng quyền thương mại,
không những chỉ ra được các đặc điểm khái quát của bản chất nhượng quyền
thương mại mà còn chỉ ra được quy trình khá chi tiết và đầy đủ của việc
nhượng quyền thượng mại trên thực tế.
Ở Việt Nam, Luật Thương mại 2005 đã lần đầu tiên trong hệ thống
pháp luật Việt Nam đưa ra định nghĩa về nhượng quyền thương mại như sau:
“Nhượng quyền thương mại là hoạt động thương mại, theo đó bên nhượng
quyền cho phép và yêu cầu bên nhận quyền tự mình tiến hành việc mua bán
hàng hóa, cung ứng dịch vụ theo các điều kiện sau đây:
1. Việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ được tiến hành theo cách thức
tổ chức kinh doanh do bên nhượng quyền quy định và được gắn với nhãn
hiệu hàng hóa, tên thương mại, bí quyết kinh doanh, khẩu hiệu kinh
doanh, biểu tượng kinh doanh, quảng cáo của bên nhượng quyền;
2. Bên nhượng quyền có quyền kiểm soát và trợ giúp cho bên nhận quyền
trong việc điều hành công việc kinh doanh.” [02]
quyền sử dụng các đối tượng sở hữu trí tuệ và quyền thương mại của
mình (như nhãn hiệu, tên thương mại, bí quyết, biển hiệu) trong hoạt
động bán hàng hóa và dịch vụ.
13
Bên nhận quyền phải tuân thủ phương pháp kinh doanh của bên
nhượng quyền.
Trong suốt thời hạn của HĐNQTM, bên nhượng quyền có trách nhiệm
trợ giúp kỹ thuật, kinh doanh và tiếp thị cho bên nhận quyền.
Hiểu một cách đơn giản nhất thì nhượng quyền thương mại là một
phương thức kinh doanh mà theo đó bên nhượng quyền cho phép bên nhận
quyền sử dụng một hệ thống các đối tượng sở hữu trí tuệ và phương thức kinh
doanh do mình phát triển và sở hữu hoặc kiểm soát để bên nhận quyền thực
hiện việc kinh doanh trên cơ sở của các quyền sở hữu trí tuệ và phương thức
kinh doanh đó. Đáp lại, bên nhận quyền sẽ trả cho bên nhượng quyền một
khoản phí.
Tổng thể hơn, nhượng quyền thương mại là một phương pháp phân
phối hàng hóa và dịch vụ mà trong đó, bên nhượng quyền với một khoản thù
lao được trả cho mình, cho phép bên nhận quyền độc lập tiến hành kinh doanh
bằng cách sử dụng các nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại, dấu hiệu, chỉ dẫn
thương mại, cũng như phương pháp, bí quyết kinh doanh của bên nhượng
quyền, và dưới sự hướng dẫn, trợ giúp và kiểm soát chất lượng thường xuyên
của bên nhượng quyền. Trong hoạt động nhượng quyền thương mại, bên
nhượng quyền có thể trong cùng một thời gian cho phép nhiều bên nhận
quyền khác nhau cùng sử dụng “quyền kinh doanh” của mình. Bằng cách đó,
bên nhượng quyền có thể xây dựng một mạng lưới, hệ thống phân phối hàng
hóa và dịch vụ rộng lớn và nhờ đó, tối đa hóa được lợi nhuận.
Do sự khác biệt về quan điểm và môi trường kinh tế, chính trị, xã hội
giữa các quốc gia, đã có nhiều định nghĩa khác nhau về nhượng quyền thương
mại. Có thể thấy rằng các định nghĩa trên dù được thể hiện một cách khác
15
biệt giúp chúng ta có thể phân biệt rõ ràng hoạt động này với các hoạt động
thương mại khác:
1.1.2.1.Đối tượng của nhượng quyền thương mại là “quyền thương mại”
Việc xác định đây là một hoạt động thương mại có ý nghĩa trong việc
xác định pháp luật áp dụng và xác định cơ quan tài phán trong trường hợp có
tranh chấp. Theo NĐ số 35/2006/ND-CP thì “quyền thương mại” được hiểu
bao gồm một, một số hoặc toàn bộ các quyền sau đây:
Quyền được Bên nhượng quyền cho phép và yêu cầu Bên nhận quyền
tự mình tiến hành công việc kinh doanh cung cấp hàng hoá hoặc dịch
vụ theo một hệ thống do Bên nhượng quyền quy định và được gắn với
nhãn hiệu hàng hoá, tên thương mại, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng
kinh doanh, quảng cáo của Bên nhượng quyền;
Quyền được Bên nhượng quyền cấp cho Bên nhận quyền sơ cấp quyền
thương mại chung. Bên nhận quyền sơ cấp là thương nhân nhận quyền
thương mại từ Bên nhượng quyền ban đầu;
Quyền được Bên nhượng quyền thứ cấp (là thương nhân có quyền cấp
lại quyền thương mại mà mình đã nhận từ Bên nhượng quyền ban đầu
cho Bên nhận quyền thứ cấp) cấp lại cho Bên nhận quyền thứ cấp (là
thương nhân nhận lại quyền thương mại) theo HĐNQTM chung.
Quyền được Bên nhượng quyền cấp cho Bên nhận quyền quyền thương
mại theo hợp đồng phát triển quyền thương mại.
Hiểu một cách khái quát thì “quyền thương mại” là quyền tiến hành
kinh doanh hàng hóa, dịch vụ theo cách thức của bên nhượng quyền quy định
cùng với đó là việc sử dụng các nhãn mác, tên thương mại, bí quyết kinh
doanh, biểu tượng kinh doanh, quảng cáo của bên nhượng quyền. Trong
quan hệ nhượng quyền, nội dung cốt lõi chính là việc bên nhượng quyền cho
phép bên nhận quyền sử dụng quyền thương mại của mình trong kinh doanh.
16
nghiệp khác quyền tự do khai thác dưới tên thương hiệu của doanh
nghiệp mình và thu phí.
Quy định này là nghĩa vụ bắt buộc đối với bên nhận quyền. Bên
nhận quyền có nghĩa vụ áp dụng toàn bộ bí quyết của bên nhượng
quyền như: bên nhận quyền buộc phải thực hiện việc bố trí theo tiêu
chuẩn tại các địa điểm bán hàng; hoạt động quảng cáo, xúc tiến thương
mại tại địa phương phải theo chỉ đạo của bên nhượng quyền nhằm tạo
ra sự thống nhất, đồng bộ của mô hình kinh doanh.
Khoản 1 Điều 284 Luật Thương mại 2005 quy định: “Việc mua
bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ được tiến hành theo cách thức tổ chức
kinh doanh do bên nhượng quyền quy định ”
Đây là điểm khác biệt giữa hoạt động nhượng quyền thương mại với
chuyển giao công nghệ, trong chuyển giao công nghệ bên nhận quyền có
quyền ứng dụng công nghệ đó để sản xuất ra sản phẩm dưới bất kỳ thương
hiệu, kiểu dáng, tên thương mại nào mà họ muốn. Trong khi đó, đối với hoạt
động nhượng quyền thương mại, bên nhận quyền chỉ được sử dụng “quyền
thương mại” mà mình đã nhận cung ứng dịch vụ, hàng hóa có cùng chất
lượng, hình thức và dưới tên thương mại của bên nhận quyền.
Bên nhượng quyền có quyền kiểm soát bên nhận quyền trong việc tuân
thủ mô hình nhượng quyền thương mại.
Kiểm soát việc tuân thủ mô hình nhượng quyền thương mại là quyền,
đồng thời là trách nhiệm của bên nhượng quyền. Bên nhượng quyền có thể
định kỳ hoặc đột xuất kiểm tra việc thực hiện các quyền thương mại của bên
nhận quyền. Đặc điểm này thể hiện sự khác hiện giữa hoạt động nhượng
quyền thương mại và hoạt động chuyển giao công nghệ, trong nhượng quyền
thương mại thì đây là nội dung quan trọng và không thể thiếu được nhằm đảm
18
bảo tính thống nhất của cả hệ thống, còn trong hoạt động chuyển giao công
nghệ thì về nguyên tắc, sau khi chuyển giao xong thì bên chuyển quyền sẽ
thương mại” của mình cho người khác, sau đó tiếp tục cũng kinh doanh với
“quyền thương mại” ấy là để mở rộng hệ thống sản xuất, phân phối hàng hoá
hoặc cung ứng dịch vụ của mình. Tại sao chúng ta lại có thể gọi đó là hệ thống,
bởi vì hầu hết các cơ sở nhượng quyền - dù ở bất kỳ vị trí địa lý nào - đều phải
đạt tiêu chuẩn theo một mô hình đã được thiết kế theo ý tưởng của bên nhượng
quyền. Sự giống nhau trong chất lượng và hình thức của hàng hoá, dịch vụ, cách
thức phục vụ của nhân viên khi cung ứng các sản phẩm trên thị trường tạo nên
tính hệ thống của quan hệ nhượng quyền thương mại. Bằng cách này hay cách
khác, những đặc trưng cơ bản nhất của hàng hoá, dịch vụ và cách thức cung ứng
của bên nhượng quyền phải được bên nhận quyền lặp lại. Mọi sự phát triển và
sáng tạo không xuất phát từ ý chí của bên nhượng quyền hoặc không có sự cho
phép hoặc thỏa thuận trước với bên nhượng quyền sẽ phá hỏng tính hệ thống của
mạng lưới cung cấp dịch vụ, hàng hóa sản phẩm được tạo ra từ quan hệ nhượng
quyền thương mại. Hậu quả, mục đích chính của quan hệ nhượng quyền thương
mại là hướng tới sự đồng bộ và phát triển hệ thống nhượng quyền sẽ không được
thoả mãn ý chí ban đầu của bên nhượng quyền, trong khi từng bên chủ thể riêng
lẻ trong quan hệ nhượng quyền thương mại vẫn có thể thu về lợi nhuận. Vì vậy,
tính đồng bộ, hệ thống chính là đặc điểm cơ bản và quan trọng trong quan hệ
nhượng quyền thương mại và đây chính là một trong những mục tiêu quan trọng
nhất mà các bên, nhất là bên nhượng quyền hướng tới trong khi ký kết
HĐNQTM.
1.1.3. Phân loại nhượng quyền thương mại
Nhượng quyền thương mại tồn tại trong nhiều lĩnh vực khác nhau của
đời sống xã hội và hoạt động này cũng được phân loại theo từng tiêu chí khác
nhau:
20
1.1.3.1. Căn cứ vào mục đích của việc kinh doanh nhượng quyền ta có thể
phân nhượng quyền thương mại thành ba dạng cơ bản sau đây:
Nhượng quyền bán sản phẩm (product franchise). Theo hình thức này