Đổi mới mô hình tổ chức hoạt động của Tập đoàn Bưu chính viễn thông Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế mới - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
ĐỖ TRÍ DŨNG ĐỔI MỚI MÔ HÌNH TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG
CỦA TẬP ĐOÀN BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG VIỆT NAM
TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ MỚI

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI Hà Nội - 2012

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
1.1.2. Mô hình tổ chức của tập đoàn kinh tế 18
1.1.3.Quan điểm của Đảng và Nhà nước về xây dựng tập đoàn kinh tế ở Việt
Nam. 20
1.1.4. Lý thuyết chung về hội nhập kinh tế quốc tế 22
1.2. Kinh nghiệm về tổ chức quản lý của một số doanh nghiệp viễn thông lớn
và bài học cho VNPT. 28
1.2.1. Kinh nghiệm của Công ty TNHH viễn thông Trung quốc (China
Telecom Corporation Limited) 28
1.2.2. Kinh nghiệm của NTT 32
1.2.3. Kinh nghiệm của Tập đoàn Viễn thông Quân đội. 39
1.2.4. Kinh nghiệm của Bưu chính Đức 41
1.2.5. Bài học cho VNPT 43
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG MÔ HÌNH TỔ CHỨC CỦA TẬP ĐOÀN
BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG VIỆT NAM 48
2.1. Thực trạng hoạt động của VNPT 48
2.1.1. Giai đoạn trước 2007: 48
2.1.2. Giai đoạn từ 2007 58
đến nay 58
2.2. Mô hình tổ chức của VNPT 63
2.2.1. Công ty mẹ 63
2.2.2 Mô hình tổ chức quản lý của VNPT
65
2.2.3. Công ty con 67
Các công ty con của VNPT gồm: 67
2.2.4. Công ty liên kết 68
2.2.5. Khối đơn vị sự nghiệp:. 68
2.3. Đánh giá mô hình tổ chức của VNPT 68
2.3.1. Ưu điểm 68
2.3.2. Nhược điểm 71
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI MÔ HÌNH TỔ CHỨC QUẢN

theo doanh
thu tính đến
31/12/2010
60
Hình 2.2: Thị phần thuê bao điện thoại cố định tính đến
31/12/2010
61
Hình 2.3: Thị phần thuê bao điện thoại di động tính đến
31/12/2010
61
Hình 2.4: Thị phần (thuê bao) các doanh nghiệp cung
c

p
dịch vụ Internet
đến
31/12/2010
62

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài:
Do yêu cầu của việc mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam, để
phù hợp với các quy định của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), Việt
Nam sẽ nới rộng các điều kiện để cho phép nhiều nhà khai thác viễn thông,
công nghệ thông tin trong và ngoài nước đầu tư và mở rộng hoạt động trên thị
trường Việt Nam. Những năm qua, mặc dù tốc độ tăng trưởng của ngành viễn
thông - công nghệ thông tin của Việt Nam đã đạt mức tăng trưởng cao so với
nhiều nước khác trên thế giới, song sự xuất hiện của các nhà khai thác dịch vụ
viễn thông mới trong nước và các nhà khai thác nước ngoài đã tạo sức ép

cửa, Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam vẫn là doanh nghiệp nhà nước
độc quyền trong lĩnh vực viễn thông. Đã có một số tài liệu và luận văn nghiên
cứu những ảnh hưởng của hội nhập kinh tế quốc tế đối với viễn thông Việt
Nam, tiêu biểu như bài tham luận của Ông Đỗ Trung Tá - Bộ trưởng Bộ Bưu
chính Viễn thông (2003) về "Ngành Viễn thông Việt Nam trong quá trình hội
nhập kinh tế quốc tế"; nghiên cứu của Vụ Hợp tác Quốc tế - Bộ Bưu chính
Viễn thông về "Các tác động ảnh hưởng của hội nhập kinh tế quốc tế đối với
Bưu chính Viễn thông Việt Nam"; Bên cạnh đó còn có một số nghiên cứu
đã được công bố về "Thương mại dịch vụ viễn thông trong Hiệp định Thương
mại Việt-Mỹ và các giải pháp phát triển dịch vụ viễn thông ở Việt Nam",
“Thương mại dịch vụ theo quy định của WTO và các cam kết của Việt Nam”
hay "Tìm hiểu văn bản dẫn chiếu của WTO về các nguyên tắc quản lý viễn
thông" nghiên cứu cụ thể cam kết viễn thông của Việt Nam trong Hiệp định
thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ và các đa phương với các quốc gia tại thời
điểm đàm phán gia nhập WTO của Việt Nam. Tuy nhiên, những tài liệu, công
trình nghiên cứu này chỉ là phân tích ở góc độ này hay góc độ khác các quy
định về lĩnh vực viễn thông hoặc về cam kết mở cửa viễn thông Việt Nam với
Hoa Kỳ. Cũng đã có một số công trình nghiên cứu về sắp xếp, đổi mới doanh

3

nghiệp nhà nước hoặc đổi mới quản trị doanh nghiệp trong giai đoạn hội nhập
kinh tế. Nhưng các nghiên cứu này đều chỉ nghiên cứu trên góc độ tổng quan,
không cụ thể đối với doanh nghiệp nào. Đồng thời cũng có một số luận án
nghiên cứu về tập đoàn kinh tế, nhưng một số luận án này nghiên cứu về nâng
cao năng lực cạnh tranh hay quản lý nhà nước đối tập đoàn kinh tế. Trong thời
gian qua, VNPT cũng đã có công trình nghiên cứu về sắp xếp, đổi mới nâng
cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, năng lực cạnh tranh như “Phương án tổ
chức kinh doanh mạng viễn thông cố định”. Công trình này chỉ có phạm vi
hẹp, chỉ đề cập tới mạng lưới kinh doanh điện thoại cố định, không bao trùm

5. Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp duy vật biện chứng và
duy vật lịch
sử,
trong đó các phương pháp chủ yếu vận dụng trong thực hiện
luận văn bao
gồm:

i) Phương pháp phân tích thống kê, tổng hợp; trong
đó
tổng hợp, trích
dẫn, kế thừa một số công trình nghiên cứu của các học giả; các số liệu
phản
ánh kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh của VNPT và các báo cáo của cơ
quan quản lý nhà nước
.

ii) Bên cạnh đó, Luận văn sử dụng các phương pháp phân tích cả định
tính và định
lượng
các số liệu từ các báo cáo tổng kết, đặc biệt là sử dụng ma
trận
SWOT để phân tích các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức đối với
VNPT trong
giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế mới.

Việc sử dụng các phương pháp trên có phân tích và so sánh sao cho phù
hợp với
nội
dung cần nghiên cứu của luận văn, đặc biệt là có kế thừa, sử dụng

6

CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ MÔ HÌNH TỔ CHỨC CỦA
TẬP ĐOÀN KINH TẾ

1.1. Cơ sở lý luận:
1.1.1 Khái niệm, vai trò của tập đoàn kinh tế
1.1.1.1. Khái niệm tập đoàn kinh tế
Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều khái niệm khác nhau về tập đoàn
kinh tế (TĐKT) được sử dụng đối với một loại hình, quy mô, lĩnh vực, địa
bàn hoạt động khác nhau nhằm chỉ sự liên kết như Cartel (liên hiệp các doanh
nghiệp có mối quan hệ chặt chẽ để kiểm soát giá - nôm na gọi là Hội buôn);
Group (Nhóm doanh nghiệp); Consortium (Tổ hợp); hoặc theo cấu trúc vốn,
hình thức của nhóm công ty như Stock corporations (Công ty - Công ty cổ
phần); General corporations (Tập đoàn công ty cổ phần); hoặc tập đoàn kinh
doanh chuyên sâu như tập đoàn dầu khí, tập đoàn Tài chính - ngân hàng, tập
đoàn truyền thông; hoặc theo phạm vi hoạt động có thể được gọi là tập đoàn
đa quốc gia nếu tập đoàn đó có cơ sở kinh doanh ở các quốc gia khác; hoặc
các doanh nghiệp có thể dựa trên cơ sở liên kết kiểu gia đình như dạng Family
Business (như của Ford, Cargill, Wall-mart, Motorola, ở Châu Á, các tập
đoàn được gọi là Zaibatsu, Keirestu (Nhật), Chaeblols (Hàn Quốc),
Quá trình hình thành các tập đoàn kinh tế trên thế giới có những nét
khác biệt nhau, tuy nhiên về bản chất phát triển chung của các tập đoàn thì
đều cho thấy các tập đoàn thường là kết hợp giữa phát triển nội sinh (tự phát
triển) và phát triển ngoại sinh thông qua việc tập trung kinh tế như sáp nhập,
hợp nhất, mua lại doanh nghiệp khác hoặc liên kết kinh tế nhằm tích tụ vốn,
nâng cao vị thế, tăng cường khả năng cạnh tranh và tạo ra nhiều lợi ích nhất.
Định nghĩa tập đoàn kinh tế



8

vốn thực tế kinh doanh đến cả nghìn tỷ đồng, quản lý trên 10.000 nhân công,
có hệ thống phân phối phủ khắp các tỉnh thành trong toàn quốc, có thương
hiệu được nhiều người biết đến và theo đó là xuất hiện một nhu cầu nội tại
của chính các doanh nghiệp mong muốn mở rộng hơn nữa quy mô hoạt động,
bổ sung các nguốn lực như vốn, lao động, công nghệ do đó, họ rất cần một
“cái áo” đủ rộng để đáp ứng tốc độ, quy mô phát triển của mình. Và đương
nhiên, việc lựa chọn mô hình “Tập đoàn kinh tế” là một xu thế có thể hiểu
được của các doanh nghiệp ở nước ta hiện nay. Mặc dù Luật doanh nghiệp
năm 2005 lần đầu tiên đã có một điều khoản quy định về “tập đoàn kinh tế”,
Điều 26, Nghị định số 139/2007/NĐ-CP của Chính phủ về cũng đã có hướng
dẫn bổ sung về TĐKT, theo đó khẳng định “Tập đoàn kinh tế bao gồm nhóm
các công ty có tư cách pháp nhân độc lập, được hình thành trên cơ sở tập hợp,
liên kết thông qua đầu tư, góp vốn, sáp nhập, mua lại, tổ chức lại hoặc các
hình thức liên kết khác; gắn bó lâu dài với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ,
thị trường và các dịch vụ kinh doanh khác tạo thành tổ hợp kinh doanh có từ
hai cấp doanh nghiệp trở lên dưới hình thức công ty mẹ - công ty con. TĐKT
không có tư cách pháp nhân, không phải đăng ký kinh doanh theo quy định
của Luật Doanh nghiệp. Việc tổ chức hoạt động của tập đoàn do các công ty
lập thành tập đoàn tự thỏa thuận quyết định”, nhưng hiện nay nhiều doanh
nghiệp vẫn có cách hiểu khác nhau về tập đoàn, nhiều doanh nghiệp đã lấy
cụm từ “tập đoàn” để gắn vào tên Công ty như “Công ty TNHH Tập đoàn”,
“Công ty Cổ phần tập đoàn”. Luật doanh nghiệp 2005, Nghị định số
139/2007/NĐ-CP đã xác định rõ bản chất pháp lý của TĐKT, trừ mô hình
TĐKT nhà nước với cơ chế pháp lý riêng, nhưng vẫn còn có một số luật sư,
chuyên gia vẫn yêu cầu có khung pháp lý để coi TĐKT như là một thực thể
Công ty và có tư cách pháp nhân như các loại hình công ty khác hiện nay.
Bên cạnh Luật doanh nghiệp, các quy định của pháp luật về đầu tư, cạnh tranh

Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ hoặc giữ quyền chi phối theo quyết định
của Thủ tướng Chính phủ;

10

b) Công ty con của doanh nghiệp cấp I (gọi tắt là doanh nghiệp cấp II)
là các doanh nghiệp do doanh nghiệp cấp I giữ quyền chi phối; được tổ chức
dưới hình thức công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn một hoặc hai
thành viên trở lên, tổng công ty theo hình thức công ty mẹ - công ty con, công
ty liên doanh (trong trường hợp chưa đăng ký lại theo Luật Doanh nghiệp),
công ty con ở nước ngoài;
c) Công ty con của doanh nghiệp cấp II và các cấp tiếp theo;
d) Các doanh nghiệp liên kết của tập đoàn gồm: doanh nghiệp có vốn góp
dưới mức chi phối của công ty mẹ và của công ty con; doanh nghiệp không có
vốn góp của công ty mẹ và của công ty con, tự nguyện tham gia liên kết dưới
hình thức hợp đồng liên kết hoặc không có hợp đồng liên kết, nhưng có mối
quan hệ gắn bó lâu dài về lợi ích kinh tế, công nghệ, thị trường và các dịch vụ
kinh doanh khác với công ty mẹ hoặc doanh nghiệp thành viên trong tập đoàn.
3. Công ty mẹ và các doanh nghiệp thành viên tập đoàn có tư cách pháp
nhân; có vốn và tài sản riêng; có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản
của mình theo quy định của pháp luật và theo thoả thuận chung của tập đoàn.
Nhà nước là chủ sở hữu vốn nhà nước trực tiếp đầu tư tại công ty mẹ. Công ty
mẹ là chủ sở hữu vốn nhà nước tại các công ty con, doanh nghiệp liên kết. ”.
1.1.1.2. Vai trò của tập đoàn kinh tế:
Thứ nhất, thu hút, tích tụ và đầy nhanh tốc độ luân chuyển vốn.
Ở thời kỳ đầu công nghiệp, các nước NIES Châu Á đều thiếu vốn trầm
trọng cho đầu tư kỹ thuật, đổi mới công nghệ. Các TĐKT của các nước này
đã là đầu mối, đối tác quan trọng đối với các nhà đầu tư nước ngoài và các
TĐKT lớn trên thế giới, tiếp nhận các nguồn vốn để cung cấp sản phẩm, dịch
vụ cho thị trường trong nước và dần dần cho thị trường quốc tế thông qua

phẩm, các dịch vụ đủ sức cạnh tranh. Do đó, tại các TĐKT, các nhà quản lý,
các nhà khoa học, đội ngũ công nhân lành nghề mới có nhiều điều kiện để học
tập, rèn luyện, sử dụng kiến thức của mình. Hơn thế nữa, chỉ có các TĐKT

12

lớn mới đủ sức đầu tư vào quá trình đào tạo, sử dụng nhân tài về mọi mặt. Do
đó, các TĐKT đã đóng góp rất lớn vào quá trình hình thành đội ngũ các nhà
quản lý, cán bộ khoa học kỹ thuật ứng dụng, đội ngũ công nhân lành nghề cho
đất nước, đóng góp to lớn và công cuộc phát triển nguồn nhân lực quốc gia.
Thứ năm, thúc đẩy hội nhập kinh tế.
Bên cạnh việc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, các TĐKT còn
đóng vai trong quan trọng trong hội nhập với khu vực và thế giới. Các TĐKT
hoạt động sản xuất kinh doanh ra nước ngoài mang lại lợi ích cho các nền
kinh tế trên toàn cầu. Hoạt động thương mại, đầu tư của các TĐKT trên thế
giới làm tăng tính phụ thuộc, gắn kết lẫn nhau giữa các nền kinh tế, giữa các
quốc gia và các vùng lãnh thổ.
Ở Việt Nam, trong những năm qua, với sự hiện diện của các TĐKT đã
thể hiện vai trò tích cực ảnh hưởn đến sự phát triển của kinh tế, xã hội đất
nước. Những vai trò này được thể hiện trên các mặt sau:
- Góp phần quan trọng vào tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế đất
nước, tạo nguồn ngoại tệ và nguồn thu lớn cho ngân sách nhà nước, hạn chế
nhập siêu, đẩy nhanh tốc độ công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước.
- Thực hiện vai trò chi phối, bảo đảm việc sản xuất, cung ứng các sản
phẩm hàng hóa, dịch vụ thiết yếu cho nền kinh tế; là lực lượng vật chất quan
trọng để Nhà nước định hướng và điều tiết nền kinh tế, bảo đảm cân đối cung
- cầu và giữ ổn định giá các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ thiết yếu cho nền
kinh tế.
- Là đầu tàu đi trước, mở đầu, tạo môi trường thuận lợi cho các doanh
nghiệp thuộc tất cả các thành phần kinh tế phát triển.

Ngày nay, ít tồ tại hình tức tập đoàn này. Đặc trưng tiêu biểu trong hoạt động
của Cartel là việc kiểm soát giá bán hàng hoá, dịch vụ nhưng cũng có một số
Cartel được tổ chức nhằm kiểm soát giá mua nguyên vật liệu đầu vào.
Syndicate, Đây là một dạng đặc biệt của Cartel. Theo đó, trong tập
đoàn dạng này có một văn phòng thương mại chung được thành lập do một

14

ban quản trị chung điều hành và tất cả các công ty thành viên đều phải tiêu
thụ hàng hoá của họ thông qua kênh của văn phòng này. Như vậy, các doanh
nghiệp thành viên giữ vững tính độc lập về sản xuất nhưng hoàn toàn mất tính
độc lập về thương mại. Tính liên kết của dạng tập đoàn này chỉ được thực
hiện ở khâu tiêu thụ sản phẩm.
Trust, Đây là một hình thức TĐKT không chỉ có liên kết ở khâu tiêu
thụ mà còn liên kết ở khâu sản xuất, bao gồm nhiều doanh nghiệp công
nghiệp do một ban quản trị thống nhất quản trị. Các doanh nghiệp thành viên
bị mất quyền độc lập cả về sản xuất và thương mại. Các nhà đầu tư tham gia
Trust đều là những cổ đông và việc thành lập các Trust nhằm chiếm nguồn
nguyên liệu, khu vực đầu tư và nhằm thu lợi nhuận cao.
Consortium, Là một trong những hình thức của các tổ chức độc quyền
ngân hàng nhằm mục đích chia nhau mua trái quán trong nước và ngoài nước
hoặc tiến hành công việc mua bán nào đó. Nó thường do một ngân hàng lớn
đứng đầu điều hành toàn bộ hoạt động của tổ chức này. Đây là hình thức liên
kết khởi đầu của các tổ chức ngân hàng, tài chính với các doanh nghiệp sản
suất, dịch vụ.
Concern, Đây là một tổ chức TĐKT được áp dụng phổ biến hiện nay ở
nhiều nước dưới hình thức công ty mẹ đầu tư vào các công ty khác thành các
công ty con, mục tiêu thành lập Concern là tạo thế lực tài chính mạnh để phát
triển kinh doanh nhằm hạn chế rủi ro. Các công ty con hoạt động trong nhiều
lĩnh vực và chịu trách nhiệm hữu hạn trên phần vốn kinh doanh của mình, giữ

Trust ). Các mục tiêu có thể là tập trung vốn, công nghệ, thị trường,
Với mô hình liên kết ngang, TĐKT có khả năng mau chóng tập trung
được sức mạnh về vốn, công nghệ, thị trường, . Tuy nhiên, việc đầu tư vào
cùng một ngành sẽ tiềm ẩn nhiều rủi ro và việc liên kết giữa các công ty trong
cùng một ngành thường dẫn đến độc quyền, trái với pháp luật cạnh tranh của
cơ chế thị trường. Do vậy, mô hình TĐKT liên kết ngang còn là mô hình phổ
biến hiện nay.

16

Hai là, hình thức liên kết dọc:
Đây là hình thức TĐKT cấu trúc theo chiều dọc. Các công ty con có
mối liên hệ theo quy trình công nghệ với công ty mẹ, hoặc bản thân công ty
khi phát triển quy mô thành lập các công ty mới để thực hiện các hoạt động
bổ sung, phụ trợ cho hoạt động hiện có của công ty.
TĐKT theo mô hình liên kết dọc có nhiều ưu thế, do nắm được cả khâu
cung ứng đầu vào, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nên giành được chủ động, ít
bị phụ thuộc vào các nhà cung cấp và khách hàng, tạo điều kiện kiểm soát
được chất lượng sản phẩm, đẩy mạnh nghiên cứu và ứng dụng công nghệ
mới, bảo hộ bằng phát minh, sáng chế, bảo hộ sản phẩm mới khỏi bị cạnh
tranh, tăng cường khả năng kiểm soát chi phí.
Ba là, hình thức liên kết hỗn hợp:
Thực tế cho thấy rằng, để đảm bảo sự phát triển bền vững, các TĐKT
đều là sự kết hợp của tích tụ tập trung dọc và tích tụ tập trung ngang hay còn
gọi là liên kết hỗn hợp. Theo mô hình tổ chức này, TĐKT thường kinh doanh
đa ngành, đa lĩnh vực nên TĐKT có khả năng phân tán được rủi ro về vốn đầu
tư và tránh được việc vi phạm luật chống độc quyền của Chính phủ các nước.
Bốn là, hình thức liên kết tự nguyện
Hình thức liên kết tự nguyện giữa các công ty diễn ra khi các công ty tự
nguyện đàm phán liên kết xoay quanh một công ty có tiềm lực kinh tế lớn

phân tán rủi ro trong kinh doanh.
Theo bản chất liên kết
Một là, TĐKT được hình thành trên nguyên tắc “liên kết mềm”, hay
còn gọi là tập đoàn “liên kết kinh tế”.
Theo đó, các công ty thành viên ký kết thỏa thuận với nhau về các
nguyên tắc chung trong hoạt động sản xuất, kinh doanh như xác định qui mô
sản xuất, số lượng, giá cả sản phẩm, phân chia thị trường, hợp tác nghiên cứu
khoa học công nghệ, trao đổi bằng phát minh, sáng chế, Theo hình thức
này, các TĐKT thường có một ban quản trị điều hành các hoạt động theo một

18

chiến lược chung, nhưng từng công ty thành viên vẫn giữ nguyên tính độc lập
về sản xuất, tài chính và thương mại.
Hai là, TĐKT được hình thành trên nguyên tắc “liên kết cứng” là các
công ty thành viên “liên kết chặt chẽ về vốn”. Theo hình thức này, có các mô
hình phổ biến sau:
- Mô hình 1: Cấu trúc đơn giản
TĐKT có mô hình cầu trúc đơn giản gồm công ty mẹ nắm giữ cổ phần
của các công ty con ở cấp thứ 2, sau đó các công ty con ở cấp thứ 2 lại nắm
giữ cổ phần ở các công ty con ở cấp thứ 3.
Mô hình 2: Công ty mẹ trực tiếp nắm giữ cổ phiếu của công ty con
không thuộc cấp dưới trực tiếp
- Mô hình 3: giữa các công ty con đòng cấp đầu tư nắm giữ cổ phiếu
của nhau
- Mô hình 4: Công ty mẹ là công ty con của một số công ty khác.
1.1.2.2. Mô hình tổ chức của tập đoàn kinh tế
Ở những nước khác nhau trên thế giới, TĐKT có cấu trúc khác nhau. Thế
giới cũng đã có rất nhiều các mô hình TĐKT được áp dụng, từ mô hình các tập
đoàn ở các quốc gia Âu - Mỹ cho đến các nước châu Á như Nhật Bản (mô hình

lực lượng chủ lực trong các chương trình an sinh xã hội vì cộng đồng của
Chính phủ.
Nhìn chung, mô hình chung của các TĐKT Việt Nam theo sơ đồ dưới
đây: 20
Hình 1.1: Mô hình chung của các TĐKT Việt Nam
Nguồn http:www.ciem.org.vn.

1.1.2.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc đổi mới cơ cấu tổ chức của
TĐKT:
Một là, Tác động của quy luật cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường
Trong nền kinh tế thị trường, các TĐKT muốn tồn tại và phát triển bắt
buộc phải thực hiện các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh, trong đó có
việc tối ưu cơ cấu tổ chức.
Hai là, Tác động của tiến bộ về khoa học, công nghệ
Dưới tác động của sự phát triển về khoa học, công nghệ, thị trường
luôn biến động, nhu cầu về hàng hóa, dịch vụ luôn thay đổi và đa dạng,
phương thức sản xuất, kinh doanh cũng luôn thay đổi để phù hợp hơn. Do đó,
các TĐKT luôn tìm mọi biện pháp để đa dạng hóa sản phẩm, đa dạng hóa về
hình thức hoạt động nhằm phòng chống lại rủi ro và sự bế tắc của thị trường,
đồng thời khai thác tối đa lợi thế về hàng hóa và dịch vụ của mình.
Ba là, Xu thế toàn cầu hóa đang trở thành một yếu tố quyết định và chi
phối đến việc đổi mới cơ cấu tổ chức của các TĐKT.

Trích đoạn Công ty mẹ Định hướng phát triển của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam Định hướng phát triển cho VNPT Các định hướng về mục tiêu phát triển của VNPT: Lộ trình thực hiện
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status