1
Fo rmatted: Dutch (Netherlands)
Fo rmatted: Dutch (Netherlands)ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT TRẦN THỊ HỒNG THÚY KIỂM SOÁT HỢP ĐỒNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI
THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT CẠNH TRANH
VÀ PHÁP LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành : Luật kinh tế
Mã số : 60 38 50 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. Ngô Huy Cương
HÀ NỘI - 2012 4
Fo rmatted: Dutch (Netherlands)
Fo rmatted: Dutch (Netherlands)
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
17
1.2.1.
Mối liên hệ giữa hợp đồng nhượng quyền thương mại với vấn
đề kiểm soát cạnh tranh
17
1.2.2.
Mối liên hệ giữa hợp đồng nhượng quyền thương mại với vấn
đề kiểm soát tài sản trí tuệ
18
1.2.3.
Sự cần thiết phải kiểm soát hợp đồng nhượng quyền thương
mại theo quy định của pháp luật cạnh tranh và pháp luật sở
hữu trí tuệ
20
1.3.
Pháp luật kiểm soát yếu tố cạnh tranh và sở hữu trí tuệ trong
hợp đồng nhượng quyền thương mại
21
1.3.1.
Khái niệm pháp luật kiểm soát yếu tố cạnh tranh và sở hữu trí
tuệ trong hợp đồng nhượng quyền thương mại
21
Fo rmatted: Dutch (Netherlands)
Fo rmatted: Dutch (Netherlands)
Fo rmatted: Dutch (Netherlands)
Fo rmatted: Dutch (Netherlands)
Fo rmatted: Dutch (Netherlands)
Fo rmatted: Dutch (Netherlands)
Fo rmatted: Dutch (Netherlands)
Fo rmatted: Dutch (Netherlands)
23
1.4.2.
Dưới góc độ pháp luật sở hữu trí tuệ
33
1.5.
Tranh chấp và giải quyết tranh chấp
36
1.5.1.
Tranh chấp
36
1.5.2.
Biện pháp giải quyết tranh chấp
38
Chương 2: THỰC TRẠNG KIỂM SOÁT HỢP ĐỒNG NHƢỢNG QUYỀN
THƯƠNG MẠI THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT CẠNH
TRANH VÀ PHÁP LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ
41
2.1.
Kiểm soát hợp đồng nhượng quyền thương mại theo quy định
của pháp luật nói chung
41
2.1.1.
Về hình thức hợp đồng nhượng quyền thương mại
41
2.1.2.
Về chủ thể hợp đồng nhượng quyền thương mại
44
Fo rmatted: Dutch (Netherlands)
Fo rmatted: Dutch (Netherlands)
Fo rmatted: Dutch (Netherlands)
Fo rmatted: Dutch (Netherlands)
Fo rmatted: Dutch (Netherlands)
Fo rmatted: Dutch (Netherlands)
Fo rmatted: Dutch (Netherlands)6
Fo rmatted: Dutch (Netherlands)
Fo rmatted: Dutch (Netherlands)
quyền thương mại theo quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ
2.3.2.
Kiểm soát các đối tượng quyền sở hữu trí tuệ trong hợp đồng
nhượng quyền thương mại theo quy định của pháp luật sở hữu
trí tuệ
77
Chương 3: NHỮNG ĐỊNH HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG
CAO HIỆU QUẢ KIỂM SOÁT HỢP ĐỒNG NHƢỢNG
QUYỀN THƢƠNG MẠI THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP
LUẬT CẠNH TRANH VÀ PHÁP LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ
83
3.1.
Những định hướng nhằm nâng cao hiệu quả kiểm soát hợp
đồng nhượng quyền thương mại theo quy định của pháp luật
cạnh tranh và pháp luật sở hữu trí tuệ
83
3.2.
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nhượng quyền thương mại là phương thức kinh doanh hình thành từ
khá lâu ở các quốc gia phát triển và đã được minh chứng tính hiệu quả kinh
tế. Nhượng quyền thương mại tạo điều kiện nhanh nhất cho các doanh nghiệp
nhân rộng thành công, thâm nhập và bành trướng thương hiệu của mình ra thị
trường thế giới, đồng thời các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể tận dụng lợi
thế cạnh tranh để làm tiền đề cho sự phát triển ổn định và lâu dài của mình
thông qua hệ thống nhượng quyền.
Hiện nay, nhượng quyền thương mại đã có mặt tại hơn 160 nước trên
thế giới với doanh thu ngày càng tăng. Doanh thu từ hoạt động nhượng quyền
thương mại trên thế giới năm 2000 là "khoảng 1.000 tỷ đôla với khoảng
320.000 doanh nghiệp từ 75 ngành khác nhau" [35]. Tại Mỹ, theo thống kê
năm 2008, "đã thành lập được 909.253 cửa hàng nhượng quyền, thu hút hơn
11 triệu lao động và đạt doanh số trên 880.9 tỷ đôla - chiếm 4,4% tổng doanh
số khu vực kinh tế tư nhân" [45]. Thậm chí, "12 trên 52 tiểu bang của nước
Mỹ quy định bắt buộc bất kỳ công ty nào muốn tham gia vào thị trường
chứng khoán đều phải có đăng ký nhượng quyền" [31, tr. 27]. Thực tế này là
một minh chứng rõ ràng về tính phổ biến và hiệu quả của phương thức kinh
doanh nhượng quyền thương mại đối với nền kinh tế thế giới.
Hợp đồng là văn bản ghi nhận mối quan hệ nhượng quyền thương mại
giữa bên nhượng quyền và bên nhận quyền. Kinh nghiệm thực tiễn cho thấy
để xây dựng một hệ thống nhượng quyền thương mại thành công thì không
thể thiếu một bản hợp đồng hoàn hảo với các điều khoản thể hiện ý chí thống
nhất của các bên và đồng thời tuân thủ nghiêm ngặt theo các quy định của
pháp luật. Trên thực tế, hợp đồng nhượng quyền thương mại ngoài việc chịu
sự điều chỉnh trực tiếp của pháp luật thương mại còn có liên quan chặt chẽ
Fo rmatted: Dutch (Netherlands)
Fo rmatted: Dutch (Netherlands)
nhau. Trong số đó là một số bài viết như: "Franchise với doanh nghiệp Việt 9
Fo rmatted: Dutch (Netherlands)
Fo rmatted: Dutch (Netherlands)
Nam" của Phạm Thị Thu Hà đăng trên tạp chí IP Law & Practice, số 03/2005;
"Nhượng quyền thương mại - bản chất và mối quan hệ với hoạt động chuyển
giao công nghệ, hoạt động li-xăng" của Nguyễn Bá Bình đăng trên Tạp chí
Nghiên cứu lập pháp, số tháng 02/2006; "Nhượng quyền kinh doanh ở Việt
Nam, khái niệm và định nghĩa" của Trần Ngọc Sơn đăng trên Tạp chí Luật sư
ngày nay, số 4/2004; "Hoàn thiện khung pháp lý về nhượng quyền thương
mại" của Bùi Ngọc Cường đăng trên Tạp chí nghiên cứu lập pháp, số tháng
8/2007 Nhìn chung, những bài viết này chủ yếu chỉ đề cập đến góc độ kinh
tế và những ảnh hưởng tới đời sống xã hội hoặc một số khía cạnh pháp lý của
hoạt động nhượng quyền thương mại như một phương thức đưa tin.
Ngoài ra, một số công trình đã được công bố nghiên cứu một cách
khái quát về phương thức nhượng quyền thương mại và hợp đồng nhượng
quyền thương mại như: Luận văn Thạc sĩ Luật học: "Hợp đồng nhượng quyền
thương mại trong pháp luật Việt Nam", của Đào Đặng Thu Hường, 2007;
Luận án tiến sĩ Luật học: "Những vấn đề lý luận và thực tiễn về pháp luật điều
chỉnh nhượng quyền thương mại trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam",
của Vũ Đặng Hải Yến, 2008. Tuy nhiên, những công trình này chủ yếu
nghiên cứu khái quát về hoạt động nhượng quyền thương mại và hợp đồng
nhượng quyền thương mại với tư cách là đối tượng điều chỉnh của pháp luật
thương mại.
Việc đánh giá tình hình nghiên cứu pháp luật về hợp đồng nhượng
quyền thương mại trên đây cho thấy đến nay chưa có công trình nghiên cứu
nào về vấn đề kiểm soát hợp đồng nhượng quyền thương mại theo quy định
của pháp luật cạnh tranh và pháp luật sở hữu trí tuệ.
sử, duy vật biện chứng; trên cơ sở các quan điểm, đường lối về chính trị, kinh
tế, văn hóa và xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam.
5. Những đóng góp của luận văn
Thứ nhất, xác định rõ mối quan hệ giữa pháp luật điều chỉnh hợp đồng
nhượng quyền thương mại với pháp luật chuyên ngành liên quan, cụ thể là
pháp luật cạnh tranh và pháp luật sở hữu trí tuệ. 11
Fo rmatted: Dutch (Netherlands)
Fo rmatted: Dutch (Netherlands)
Thứ hai, chỉ rõ những bất cập và chưa thống nhất trong quy định về
hợp đồng nhượng quyền thương mại với pháp luật cạnh tranh và pháp luật sở
hữu trí tuệ.
Thứ ba, đề xuất kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện hệ thống pháp
luật điều chỉnh hợp đồng nhượng quyền thương mại trong sự thống nhất với
pháp luật cạnh tranh và sở hữu trí tuệ.
Thứ tư, đáp ứng nhu cầu tìm hiểu về vấn đề kiểm soát hợp đồng nhượng
quyền thương mại theo quy định của pháp luật chuyên ngành, cụ thể là pháp
luật cạnh tranh và sở hữu trí tuệ của doanh nghiệp trong và ngoài nước.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Khái luận về kiểm soát hợp đồng nhượng quyền thương
mại theo quy định của pháp luật cạnh tranh và pháp luật sở hữu trí tuệ.
Chương 2: Thực trạng kiểm soát hợp đồng nhượng quyền thương mại
theo quy định của pháp luật cạnh tranh và pháp luật sở hữu trí tuệ.
Chương 3: Những định hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả
kiểm soát hợp đồng nhượng quyền thương mại theo quy định của pháp luật
cạnh tranh và pháp luật sở hữu trí tuệ.
vào năm 1960, Ủy ban Nhượng quyền thương mại thế giới WFC (World
Franchise Council) năm 1994. Sự ra đời của IFA và WFC đã tạo điều kiện 13
Fo rmatted: Dutch (Netherlands)
Fo rmatted: Dutch (Netherlands)
cho việc phát triển nhượng quyền thương mại dần trở thành hệ thống và ngày
càng chuyên nghiệp hơn. Bởi vậy mà hiện nay kinh doanh theo phương thức
nhượng quyền thương mại đã có mặt tại hầu hết các châu lục, trong rất nhiều
ngành nghề. Theo số liệu của phòng thương mại Mỹ, từ năm 1974 đến năm
2005 "trung bình chỉ có 5% số doanh nghiệp hình thành theo mô hình nhượng
quyền kinh doanh tại Mỹ là thất bại, trong khi con số này là 65% cho các doanh
nghiệp không theo mô hình này" [32, tr. 21]. Sự phát triển của hình thức kinh
doanh này còn thể hiện ở ngay việc đến năm 2005 đã có tới "12 trên 52 tiểu
bang của Mỹ có luật bắt buộc bất kỳ công ty nào muốn tham gia vào thị trường
chứng khoán đều phải có đăng ký nhượng quyền. Những cái tên không hề xa
lạ như California, New York, Washington,… là một trong số đó" [31, tr. 27].
Tại Việt Nam, hình thức nhượng quyền thương mại hình thành vào
những năm 90 của thế kỷ 20 "thông qua việc kinh doanh các thiết bị lọc nước
do người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư" [4]. Tuy vậy, thị trường
Việt Nam lúc này còn khá xa lạ với hoạt động này, hơn nữa các doanh nghiệp
dự định kinh doanh bằng nhượng quyền thương mại chưa khẳng định được vị
trí trên thương trường nên hoạt động này nhanh chóng bị thất bại. Vì vậy,
Công ty cổ phần tập đoàn Trung Nguyên có thể coi là nhà tiên phong tại Việt
Nam áp dụng thành công hình thức kinh doanh này bằng cách phát triển hệ
thống theo hình thức nhượng quyền.
Hợp đồng nhượng quyền thương mại có thể được coi là bước đầu tiên
xác lập quan hệ nhượng quyền thương mại giữa các bên. Mỗi quốc gia có
cách định nghĩa khác nhau về hợp đồng nhượng quyền thương mại. Sự khác
tổng thu nhập hoặc thu nhập ròng có hay không có phí dịch vụ
nhượng quyền hoặc phí bản quyền; hoặc (iv) phí đào tạo hoặc phí
huấn luyện; nhưng không loại trừ: (v) thanh toán cho hàng hóa và
dịch vụ bằng hoặc thấp hơn giá bán buôn của bên nhượng quyền
thương mại; hoặc (vi) thanh toán lại cho khoản vay của bên nhận
quyền cho bên nhượng quyền; hoặc (vii) thanh toán theo giá bán
buôn bình thường đối với hàng hóa thanh toán sau; hoặc (viii) thanh
toán theo giá thị trường đối với việc mua hoặc thuê động sản, bất 15
Fo rmatted: Dutch (Netherlands)
Fo rmatted: Dutch (Netherlands)
động sản, thiết bị hoặc nguyên vật liệu cần thiết để bắt đầu hoạt
động kinh doanh hoặc tiếp tục hoạt động kinh doanh theo hợp đồng
nhượng quyền thương mại [52].
Với các quy định chi tiết trên, ta thấy hợp đồng nhượng quyền thương
mại, theo pháp luật Australia, gồm các thỏa thuận phải có đối với một hoạt
động nhượng quyền thương mại, từ các quyền thương mại, cách thức đào tạo,
quản lý cho đến các mức phí và phương thức thanh toán. Các hình thức của
hợp đồng nhượng quyền thương mại cũng rất đa dạng, có thể bằng miệng,
bằng văn bản hoặc một thỏa thuận ngầm.
Cộng đồng chung châu Âu đưa ra khái niệm về hợp đồng nhượng
quyền thương mại với tính chất chứa đựng đặc điểm của nhiều hợp đồng khác
nhau, cụ thể:
Hợp đồng nhượng quyền thương mại là một thỏa thuận trong đó, một
bên là bên nhượng quyền cấp phép cho một bên khác là bên nhận quyền khả
năng được khai thác một "quyền thương mại" nhằm mục đích xúc tiến thương
mại đối với một loại sản phẩm hoặc dịch vụ đặc thù để đổi lại một cách trực
tiếp hay gián tiếp một khoản tiền nhất định. Hợp đồng này phải quy định
Tuy nhiên, trong hệ thống pháp luật Việt Nam, Bộ luật dân sự được
coi như gốc của tất cả các quan hệ hợp đồng, trong đó có hợp đồng nhượng
quyền thương mại. Tư tưởng này được thể hiện rõ tại Điều 1 về nhiệm vụ và
phạm vi điều chỉnh của Bộ luật dân sự:
Bộ luật dân sự quy định địa vị pháp lý, chuẩn mực pháp lý
cho cách ứng xử của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác; quyền,
nghĩa vụ của các chủ thể về nhân thân và tài sản trong các quan hệ
dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động
(sau đây gọi chung là quan hệ dân sự) [27].
Bên cạnh đó, Điều 4, Luật thương mại cũng quy định về việc áp
dụng luật thương mại và pháp luật có liên quan. Theo đó, trong trường
hợp hoạt động thương mại đặc thù có văn bản pháp luật khác điều chỉnh
thì sẽ áp dụng quy định của văn bản pháp luật chuyên ngành. Trong
trường hợp hoạt động thương mại không được quy định trong Luật thương 17
Fo rmatted: Dutch (Netherlands)
Fo rmatted: Dutch (Netherlands)
mại và trong các luật chuyên ngành khác thì áp dụng quy định của Bộ luật
dân sự.
Từ nguyên tắc chỉ đạo trên, hợp đồng nhượng quyền thương mại có
thể được coi như một dạng hợp đồng dân sự. Theo đó, có thể hiểu hợp đồng
nhượng quyền thương mại là sự thỏa thuận giữa bên nhượng quyền và bên
nhận quyền nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ trong
hoạt động nhượng quyền thương mại theo quy định tại Điều 284 Luật thương
mại năm 2005.
1.1.2. Đặc điểm hợp đồng nhƣợng quyền thƣơng mại
Hợp đồng nhượng quyền thương mại là vấn đề pháp lý cốt lõi trong
hoạt động nhượng quyền thương mại, là văn bản điều chỉnh mối quan hệ giữa
Thứ tư, các điều khoản về kiểm soát của bên nhượng quyền đối với
bên nhận quyền trong hoạt động nhượng quyền thương mại là một đặc trưng
cơ bản của loại hợp đồng này. Để duy trì hệ thống kinh doanh nhượng quyền
thành công, bên nhượng quyền sẽ kiểm soát rất chặt chẽ mọi hoạt động của
bên nhận quyền. Thêm vào đó, bên nhận quyền phải theo sát các hướng dẫn
của bên nhận quyền, không được làm khác với những cách thức tiến hành
kinh doanh mà bên nhượng quyền đặt ra. Đây là một trở ngại lớn cho bên
nhận quyền khi ký kết một hợp đồng nhượng quyền thương mại, song cũng
phải thấy rằng để tạo ra được một chuỗi kinh doanh nhượng quyền ổn định và
đồng nhất thì những điều khoản kiểm soát chặt chẽ của bên nhượng quyền là
hoàn toàn cần thiết.
1.1.3. Phân biệt hợp đồng nhƣợng quyền thƣơng mại với một số
hợp đồng tƣơng tự
1.1.3.1. Hợp đồng đại lý
Trước hết, Điều 166 Luật thương mại quy định đại lý thương mại là
hoạt động thương mại, theo đó, bên giao đại lý và bên đại lý thỏa thuận việc
bên đại lý nhân danh chính mình mua bán hàng hóa cho bên giao đại lý hoặc
cung ứng dịch vụ của bên giao đại lý cho khách hàng để hưởng thù lao. Các
hình thức đại lý bao gồm: 19
Fo rmatted: Dutch (Netherlands)
Fo rmatted: Dutch (Netherlands)
(i) Đại lý bao tiêu là hình thức đại lý mà bên đại lý thực hiện việc
mua, bán trọn vẹn một khối lượng hàng hóa hoặc cung ứng đầy đủ một dịch
vụ cho bên giao đại lý.
(ii) Đại lý độc quyền là hình thức đại lý mà tại một khu vực địa lý nhất
định, bên giao đại lý chỉ giao cho một đại lý mua, bán một hoặc một số mặt
hàng hoặc cung ứng một hoặc một số loại dịch vụ nhất định.
kèm công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm.
Chuyển giao công nghệ là chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng một
phần hoặc toàn bộ công nghệ từ bên có quyền chuyển giao công nghệ sang
bên nhận công nghệ.
Phân biệt: Một hợp đồng nhượng quyền thương mại có thể bao gồm
điều khoản về chuyển giao công nghệ, bởi vì công nghệ là một phần trong
quy trình sản xuất sản phẩm, nó gắn liền với phương thức kinh doanh nên
không thể tách rời riêng khi các bên chuyển nhượng quyền thương mại. Cả
hợp đồng chuyển giao công nghệ và hợp đồng nhượng quyền thương mại đều
yêu cầu việc bên chuyển giao phải đào tạo cho bên nhận nắm vững và làm
chủ được công nghệ, đồng thời cử chuyên gia tư vấn kỹ thuật cho bên nhận
công nghệ, đưa công nghệ vào sản xuất với chất lượng công nghệ và chất
lượng sản phẩm đạt các chỉ tiêu và tiến độ quy định trong hợp đồng. Tuy
nhiên, bên chuyển giao công nghệ khi hoàn thành nghĩa vụ đào tạo theo thời
hạn của hợp đồng thì chấm dứt trách nhiệm và sau đó không có quyền kiểm
soát hoạt động của bên nhận chuyển giao, còn bên nhượng quyền thì có quyền
áp đặt, kiểm soát hoạt động và trợ giúp thường xuyên trong suốt quá trình
hoạt động của bên nhận quyền thương mại. Quan hệ của hai bên chủ thể trong
hợp đồng thương mại là mối quan hệ liên tục, có sự hỗ trợ và giúp đỡ của bên
nhượng quyền đối với bên nhận quyền. Thêm vào đó, trong hợp đồng chuyển
giao công nghệ, bên nhận công nghệ có quyền phát triển công nghệ đã được
chuyển giao còn trong hợp đồng thì bên nhận quyền không có quyền thay đổi
bất kỳ yếu tố nào trong công thức kinh doanh của bên nhượng quyền. Ở Việt
Nam, việc chuyển giao công nghệ được quy định trong một luật riêng, do đó
khi ký kết hợp đồng nhượng quyền thương mại, các bên chủ thể phải nghiên 21
Fo rmatted: Dutch (Netherlands)
Fo rmatted: Dutch (Netherlands)
22
Fo rmatted: Dutch (Netherlands)
Fo rmatted: Dutch (Netherlands)
kỹ thuật, quy định trong sách hướng dẫn hoạt động sản xuất kinh doanh cung
cấp bởi bên nhượng quyền. Hơn nữa, trong nhượng quyền thương mại, bên
nhận quyền còn nhận được sự trợ giúp của bên nhượng quyền từ khi bắt đầu
thành lập và trong suốt quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh theo nhượng
quyền, như: đào tạo, huấn luyện về quản lý thực hiện kinh doanh, tư vấn hỗ
trợ lựa chọn và đàm phán thuê hoặc mua địa điểm kinh doanh, tuyển dụng
nhân sự, trợ giúp duy trì, xúc tiến kinh doanh, quảng cáo, cung cấp thông tin
mới và các hỗ trợ khác; trong khi đó, bên nhận li-xăng trong hợp đồng li-xăng
sở hữu trí tuệ không được nhận sự trợ giúp này.
1.1.3.4. Hợp đồng kinh doanh phân phối sản phẩm
Phân phối sản phẩm là việc bên sở hữu sản phẩm sẽ chia số lượng
hàng hóa cho những người hoặc cửa hàng ở những khu vực khác nhau để bán
sản phẩm. Thông thường, các công ty lớn thường có hệ thống phân phối sản
phẩm của mình theo các khu vực địa lý khác nhau nhằm đưa sản phẩm của
mình đến tận tay người tiêu dùng. Đây cũng là cách để mở rộng thị trường
tiêu thụ. Theo đó, tùy vào sức tiêu thụ và nhu cầu của người tiêu dùng trong
từng khu vực mà công ty quyết định phân phối số lượng hàng hóa nhiều hay ít.
Theo hợp đồng kinh doanh phân phối sản phẩm, các nhà nhận phân
phối sản phẩm phải phụ thuộc vào công ty, là một cửa hàng bán hàng hóa cho
công ty. Hình thức kinh doanh này giống với loại hình nhượng quyền thương
mại phân phối sản phẩm ở chỗ đều được sử dụng nhãn hiệu của sản phẩm để
kinh doanh, tuy nhiên hầu như không có yếu tố hỗ trợ như nhượng quyền thương
mại. Chủ sở hữu sản phẩm chỉ quan tâm tới số lượng sản phẩm được bán ra
chứ không quan tâm đến việc vị trí kinh doanh của bên nhận phân phối hay bắt
buộc bên nhận phân phốí kinh doanh theo đúng mô hình của mình. Tuy nhiên,
hợp đồng kinh doanh này sẽ không đạt hiệu quả kinh tế nếu công ty muốn
phân phối hàng hóa tới những vị trí quá xa so với trụ sở công ty và gặp nhiều
ngoại lệ của quan hệ thương mại trong môi trường có pháp luật cạnh tranh
được chấp nhận. Với tính chất cùng sử dụng "quyền thương mại" của một chủ
sở hữu để cùng kinh doanh thu lợi nhuận đã làm cho quan hệ giữa bên
nhượng quyền và bên nhận quyền thương mại trở nên khá khác biệt so với các 24
Fo rmatted: Dutch (Netherlands)
Fo rmatted: Dutch (Netherlands)
quan hệ mua bán hoặc cho thuê "quyền thương mại" khác. Tính chất này làm
phát sinh một cách tự nhiên quyền được bảo vệ tối đa "quyền thương mại" do
bên nhượng quyền xây dựng nên trước những rủi ro có thể xảy đến, nhất là rủi
ro xuất phát trực tiếp từ phía bên nhận quyền. Vì vậy, trong chừng mực nhất
định, pháp luật về nhượng quyền thương mại cho phép bên nhượng quyền
được đặt ra những yêu cầu nhất định, hướng bên nhận quyền tới những thỏa
thuận mang tính hạn chế cạnh tranh để có thể đạt được mục đích cuối cùng là
giảm thiểu rủi ro và hạn chế đổ vỡ hệ thống nhượng quyền thương mại.
Tuy nhiên, trong kinh doanh, sự hạn chế của một bên theo ý chí chủ
quan của bên đó thì không bao giờ đủ. Nếu sự sáng tạo của bên nhượng quyền
hoặc của các bên trong hoạt động nhượng quyền thương mại đi quá giới hạn
thì cạnh tranh sẽ không được bảo vệ và việc phá vỡ môi trường cạnh tranh
lành mạnh sẽ ảnh hưởng nhiều đến sự phát triển của nền kinh tế thị trường.
Pháp luật cạnh tranh chính là công cụ vạch ra giới hạn được phép mà trong
giới hạn ấy, mọi sự sáng tạo của các bên trong hoạt động nhượng quyền
thương mại đều được chấp thuận. Có thể nói, những chế định về thỏa thuận
hạn chế cạnh tranh và lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền trong thị
trường liên quan trong pháp luật cạnh tranh dành riêng cho hoạt động nhượng
quyền thương mại có một ý nghĩa to lớn trong việc xây dựng và hoàn thiện
pháp luật điều chỉnh hoạt động nhượng quyền thương mại.
1.2.2. Mối liên hệ giữa hợp đồng nhƣợng quyền thƣơng mại với
Từ đó có thể khẳng định rằng, những quy định về việc nhận dạng cũng
như đăng ký bảo hộ đối với "quyền thương mại" theo pháp luật sở hữu trí tuệ,
với tư cách là đối tượng của hợp đồng nhượng quyền thương mại là một trong
những nội dung cơ bản liên quan mật thiết đến pháp luật điều chỉnh hoạt động
nhượng quyền thương mại không thể bỏ qua khi xem xét nội dung của hệ
thống pháp luật này.
Như vậy, pháp luật về sở hữu trí tuệ và pháp luật cạnh tranh có liên
quan trực tiếp tới những quan hệ của các chủ thể trong hoạt động nhượng
quyền thương mại và vì thế chúng cũng có liên quan chặt chẽ tới các quy định
của pháp luật điều chỉnh hoạt động nhượng quyền thương mại. 26
Fo rmatted: Dutch (Netherlands)
Fo rmatted: Dutch (Netherlands)
1.2.3. Sự cần thiết phải kiểm soát hợp đồng nhƣợng quyền thƣơng
mại theo quy định của pháp luật cạnh tranh và pháp luật sở hữu trí tuệ
Một thực tế là càng được khuyến khích mở rộng, quan hệ nhượng quyền
thương mại càng chứa đựng những khả năng gây ra tranh chấp giữa các bên liên
quan. Việc quyền thương mại - vốn là tài sản thuộc sở hữu của bên nhượng
quyền - được nhượng lại cho một chủ thể kinh doanh khác để cùng kinh doanh,
cùng chia sẻ những lợi thế mà "quyền thương mại" đem lại, vì thế, chắc chắn sẽ
gây ra không ít bất đồng. Sự không tuân thủ nghĩa vụ của bên nhận quyền đôi
khi lại là nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ của cả hệ thống, gây thiệt hại cho
không chỉ những chủ thể của quan hệ này mà còn là cho cả nền kinh tế. Hơn
nữa, khi một quan hệ xã hội mới xuất hiện luôn đặt ra một yêu cầu là Nhà nước
phải xây dựng các quy phạm pháp luật để điều chỉnh các quan hệ đó nhằm đảm
bảo được chức năng quản lý xã hội của Nhà nước. Xuất phát từ các yêu cầu đó,
đòi hỏi các quốc gia phải đặt hoạt động này vào trong khuôn khổ pháp lý. Có thể
nói, hợp đồng nhượng quyền thương mại chính là hình thức thể hiện của các