Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại theo quy định của pháp luật Việt Nam - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

BÙI THỊ HUYỀN
BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI
TÊN THƢƠNG MẠI THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT
VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội - 2010
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể
bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn! NGƢỜI CAM ĐOAN
Bùi Thị Huyền 1

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CP: Cổ phần
TNHH: Trách nhiệm hữu hạn

1.3. Pháp luật Việt Nam về bảo hộ tên thương mại 31
1.3.1. Vài nét về pháp luật tên thương mại trên thế giới 31
1.3.2. Pháp luật Việt Nam về tên thương mại 39
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG
NGHIỆP ĐỐI VỚI TÊN THƢƠNG MẠI Ở VIỆT NAM HIỆN
NAY
2.1. Thực trạng pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với tên
thương mại 44
2.1.1. Thực trạng pháp luật về xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với tên
thương mại 44

3
2.1.2. Thực trạng pháp luật về bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp đối với tên
thương mại 54
2.2. Thực trạng hoạt động bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với tên
thương mại ở Việt Nam hiện nay 65
2.2.1. Thực trạng hoạt động xác lập quyền đối với tên thương mại của các
doanh nghiệp 66
2.2.2. Thực trạng hoạt động bảo vệ quyền đối với tên thương mại 73
Chƣơng 3: PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN
THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG
BẢO HỘ TÊN THƢƠNG MẠI
3.1. Phương hướng và giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về bảo hộ
quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại 85
3.1.1. Phương hướng 85
3.1.2. Giải pháp cụ thể 86
3.2. Phương hướng và giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động
bảo hộ tên thương mại 94
3.2.1. Phương hướng 94
3.2.2. Giải pháp cụ thể 94

Đảng nêu rõ: Chúng ta cần “phát triển các loại thị trường dịch vụ, khoa học
công nghệ, sản phẩm trí tuệ…”. Cho nên, cần “thực hiện tốt chính sách bảo
hộ quyền sở hữu trí tuệ…”.
Những văn bản pháp luật về sở hữu trí tuệ trên đã đi vào đời sống xã
hội được hơn ba năm, các doanh nghiệp trong và ngoài nước đang rất quan
tâm đến các quy định bảo hộ của pháp luật, đặc biệt là các vấn đề về bảo hộ
quyền sở hữu công nghiệp. Việc bảo hộ chặt chẽ quyền sở hữu công nghiệp
nói chung và bảo hộ tên thương mại nói riêng có ý nghĩa quan trọng đối với

5
tăng trưởng và phát triển kinh tế của quốc gia trong tương lai, nó sẽ thúc đẩy
việc mở rộng kinh tế toàn cầu và phát triển công nghệ mới.
Bên cạnh những kết quả đã đạt được trong việc bảo hộ tên thương mại,
thì vấn đề vi phạm tên thương mại còn xảy ra nhiều nơi trên đất nước ta, gây
ra những ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động của doanh nghiệp trên thị trường.
Trong công cuộc xây dựng nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay,
việc tìm hiểu vấn đề “bảo hộ tên thương mại” có vai trò và ý nghĩa hết sức
cần thiết. Với hy vọng góp phần làm rõ hơn vấn đề lý luận và thực tiễn, cũng
như đề ra được sáng kiến, giải pháp nâng cao hiệu quả của việc bảo hộ tên
thương mại nên tôi lựa chọn đề tài “Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối
với tên thương mại theo quy định của pháp luật Việt Nam” làm đề tài
nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp của mình.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Những năm gần đây, vấn đề “bảo hộ tên thương mại” được quan tâm
nghiên cứu nhằm tăng cường sự bảo hộ đầy đủ và có hiệu quả quyền sở hữu
công nghiệp, đảm bảo hoạt động kinh doanh trung thực, bảo vệ lợi ích hợp
pháp của người tiêu dùng. Đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về vấn
đề này dưới nhiều góc độ khác nhau. Chủ yếu là các bài báo như: Bảo hộ tên
thương mại, bí mật kinh doanh (Tác giả Hoàng Tố Như), Bảo hộ tên thương
mại và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về bảo hộ tên thương mại ở Việt

quả của việc bảo hộ tên thương mại.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy
vật lịch sử, chủ nghĩa duy vật biện chứng, phép biện chứng của chủ nghĩa
Mác-Lênin, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về pháp luật.

7
Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu, luận văn đã áp dụng một số
phương pháp cụ thể như sau: Phương pháp phân tích để làm sáng tỏ những
nội dung thuộc phạm vi nghiên cứu; phương pháp so sánh được sử dụng để
làm rõ mức độ tương quan giữa các quy định, quan điểm để từ đó có những
đánh giá, nhận định khách quan về nội dung nghiên cứu; phương pháp tổng
hợp được sử dụng để khái quát hóa nội dung nghiên cứu một cách có hệ
thống, làm cho vấn đề nghiên cứu trở nên ngắn gọn, xúc tích, dễ hiểu; phương
pháp thống kê đem đến một cách nhìn cụ thể hơn thông qua những con số và
vụ việc cụ thể…
6. Những kết quả nghiên cứu mới của luận văn
Luận văn là chuyên khảo nghiên cứu tương đối toàn diện và có hệ
thống về vấn đề tên thương mại và bảo hộ tên thương mại theo quy định của
pháp luật Việt Nam hiện hành. Vì vậy có những đóng góp khoa học mới như
sau:
Thứ nhất, đưa ra và luận giải được những luận điểm cơ bản về tên
thương mại, đặc biệt là: Khái niệm, đặc điểm, nội dung, ý nghĩa của việc bảo
hộ tên thương mại đối với doanh nghiệp….
Thứ hai, từ những khó khăn và thực trạng trong việc thi hành pháp luật
cũng như hoạt động xử lý hành vi xâm phạm quyền và vi phạm pháp luật về
bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại, phân tích nguyên
nhân và những vấn đề còn tồn tại.
Thứ ba, trên cơ sở luận cứ khoa học và thực tiễn, đưa ra giải pháp, kiến
nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật và nâng cao hiệu quả của hoạt động

9
Chƣơng 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ
BẢO HỘ TÊN THƢƠNG MẠI

1.1. Khái quát về tên thƣơng mại
1.1.1. Khái niệm tên thương mại
Không phải là hàng hoá nhưng tên thương mại lại có ý nghĩa rất lớn
trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Tên thương mại là một trong
những đối tượng cơ bản của quyền sở hữu công nghiệp, vì vậy pháp luật rất
nhiều quốc gia trên thế giới và pháp luật Việt Nam hiện nay luôn coi trọng
việc bảo hộ tên thương mại. Tuy nhiên, khái niệm tên thương mại vẫn chưa
được hiểu thống nhất ở các quốc gia.
Cho đến nay, chỉ có một điều ước quốc tế đa phương duy nhất đề cập
trực tiếp đến vấn đề bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại
– đó là Công ước Paris năm 1883. Nhưng Công ước này không đưa ra một
định nghĩa cụ thể về tên thương mại.
Tên thương mại là một khái niệm được sử dụng trong văn bản và trong
thực tiễn pháp luật Việt Nam, nó tương tương với khái niệm tiếng Anh trong
luật quốc tế là “Tradename”. Không nên nhầm lẫn tên thương mại với nhãn
hiệu hàng hoá (Trademark), cũng không nên nhầm lẫn tên thương mại với
thương hiệu. Tên thương mại được quy định trong một số văn bản pháp luật
của Việt Nam như Bộ luật Dân sự, Luật Doanh nghiệp, Luật Sở hữu trí tuệ…
Theo quy định tại khoản 21 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 thì tên
thương mại được hiểu như sau:
Tên thương mại là tên gọi của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động
kinh doanh để phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên gọi đó với chủ thể kinh


11
chức xã hội - nghề nghiệp hoặc chủ thể khác để làm tên doanh nghiệp hay tên
thương mại.
Chính vì có những điểm tương đồng như vậy nên tên thương mại hiện
nay có xu hướng xác định thông qua tên của doanh nghiệp theo Luật Doanh
nghiệp. Tên thương mại do đó có thể là tên đầy đủ của doanh nghiệp hoặc tên
viết tắt của doanh nghiệp. Phổ biến nhất, tên thương mại dùng để chỉ tên đầy
đủ của một doanh nghiệp khi thực hiện hoạt động kinh doanh của mình.
Tên thương mại theo tên doanh nghiệp đầy đủ gồm hai phần: Phần mô
tả và phần phân biệt. Phần mô tả là tập hợp các từ có nghĩa mô tả tóm tắt loại
hình kinh doanh. Phần phân biệt là tập hợp các chữ cái phát âm được, có thể
có nghĩa hoặc không có nghĩa. Phần mô tả không có khả năng tạo nên tính
phân biệt cho tên thương mại (hai doanh nghiệp có tên thương mại khác nhau
có thể có phần mô tả giống nhau). Ví dụ: với tên “Công ty Luật S & B”, phần
mô tả là “Công ty Luật” không có khả năng phân biệt với các công ty luật
khác, phần phân biệt là S&B; với tên Công ty TNHH xây dựng Thành Đô:
Phần mô tả là “Công ty TNHH xây dựng”, phần phân biệt là “Thành Đô”,
phân biệt với “Công ty TNHH xây dựng Tiến Thành”.
Tên thương mại theo tên doanh nghiệp dưới góc độ là tên viết tắt: Theo
quy định của Luật Doanh nghiệp thì tên viết tắt của doanh nghiệp được viết
tắt từ tên bằng tiếng Việt hoặc tên bằng tiếng nước ngoài. Ví dụ: Ngân hàng
Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam có tên giao dịch quốc tế là
Vietnam Bank of Agriculture and Rural Development, tên viết tắt là Agribank
Như vậy, tên thương mại là tên gọi của tổ chức, cá nhân dùng trong
hoạt động sản xuất kinh doanh để phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên gọi
đó với các chủ thể khác trong cùng lĩnh vực kinh doanh.
1.1.2. Đặc điểm của tên thương mại

12

1.1.3. Vai trò của tên thương mại trong hoạt động của doanh nghiệp
Tên thương mại là đối tượng điều chỉnh của pháp luật sở hữu công
nghiệp, có vai trò quan trọng trong hoạt động của doanh nghiệp, có thể tạo ra
khả năng cạnh tranh, góp phần làm tăng giá trị hàng hóa của doanh nghiệp
trong khi giá trị vật chất không thay đổi, là một thành tố góp phần vào sự phát
triển và sự thành đạt của doanh nghiệp. Đối tượng sở hữu công nghiệp này
được coi là một trong những yếu tố đầu tiên và quan trọng trong chiến lược
xâm nhập và mở rộng thị trường, trong nhiều trường hợp quyết định sự thành,
bại của doanh nghiệp trên thị trường mới. Đối tượng sở hữu công nghiệp nói
trên có tác dụng:
- Thực hiện chức năng nhận biết (phân biệt). Tên thương mại luôn được
nhận biết bằng thị giác, thính giác (âm thanh) một cách rõ ràng để người tiêu
dùng nhận biết và lựa chọn theo sở thích.
- Làm cho người tiêu dùng tiết kiệm thời gian và sức lực trong việc lựa
chọn và mua sản phẩm theo mục đích và sở thích của họ.
- Đảm bảo hoặc sự tin cậy giúp người tiêu dùng tìm ra chất lượng ổn
định của sản phẩm, dịch vụ mang tên thương mại quen thuộc dù mua ở bất kỳ
đâu và bất kỳ lúc nào.
- Đảm bảo cho người tiêu dùng có thể mua sản phẩm hoặc thuê dịch vụ
tốt nhất, đảm bảo nhất trong cùng một loại.
- Cá tính hoá, tính cách, hình ảnh riêng cho từng người tiêu dùng trong
con mắt của người khác. Tạo phong cách riêng cho người tiêu dùng và từ đó
làm cho họ yêu thích hàng hoá mang tên thương mại đó.
- Tính liên tục được quan niệm là người tiêu dùng hài lòng với một sản
phẩm mang tên thương mại mà họ đang sử dụng nhiều năm.

14
1.1.4. Phân biệt tên thương mại với nhãn hiệu và thương hiệu
* Phân biệt tên thương mại với nhãn hiệu
Tên thương mại và nhãn hiệu cùng là đối tượng của sở hữu công

Ví dụ, Công ty TNHH Ngọc trai Phú Quốc, có địa chỉ xã Dương Tơ,
huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang, đăng ký nhãn hiệu là “PHU QUOC
PEARLS”. Ở ví dụ này, tên thương mại gồm có yếu tố phân biệt là “Phú
Quốc”, yếu tố xác định hình thức doanh nghiệp là “Công ty TNHH” và yếu tố
chỉ rõ lĩnh vực kinh doanh là “Ngọc trai”; Công ty cổ phần Chế biến dịch vụ
thủy sản Cát Hải, địa chỉ huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng, đăng ký nhãn
hiệu là “CAT HAI”. Ở đây, tên thương mại gồm có yếu tố phân biệt là “Cát
Hải”, yếu tố xác định hình thức doanh nghiệp là “Công ty cổ phần” và yếu tố
chỉ rõ lĩnh vực kinh doanh là “Chế biến dịch vụ thủy sản”.
Qua những phân tích và ví dụ trên, có thể khẳng định rằng, tên thương
mại và nhãn hiệu hàng không phải là một mà giữa chúng có sự khác biệt và có
khả năng phân biệt được.
* Phân biệt tên thương mại và thương hiệu
Thương hiệu là khái niệm trong người tiêu dùng về sản phẩm đối với
dấu hiệu của nhà sản xuất gắn lên hàng hóa, lên bao bì hàng hoá, biển chỉ dẫn
dịch vụ… nhằm khẳng định chất lượng và xuất xứ sản phẩm. Thương hiệu
thường gắn liền với quyền sở hữu (mà cụ thể là quá trình sử dụng và tạo dựng
thương hiệu) của nhà sản xuất và thường được uỷ quyền cho người đại diện
thương mại chính thức.
Theo định nghĩa của website wikipedia.com thì:
"Thương hiệu là những dấu hiệu được các cá nhân, công ty,
các tổ chức hoặc các thực thể sử dụng để đặc biệt hóa, tạo nên nét
riêng biệt cho sản phẩm hàng hóa mà họ cung cấp tới khách hàng,

16
phân biệt với các loại sản phẩm hàng hóa của các thực thể khác.
Thương hiệu là một loại tài sản của công ty, thường được cấu thành
từ tên thương mại, hay các chữ, các cụm từ, một logo, một biểu
tượng, một hình ảnh hay sự kết hợp của các yếu tố trên" [34].
Tuy nhiên, trên thực tế cũng có các kí hiệu cấu thành nên thương hiệu

và phục vụ của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, nội hàm của thương hiệu là tương
đối rộng và phức tạp, nó là toàn bộ các dấu hiệu được sử dụng trong thương
mại để chỉ nguồn gốc, nhà sản xuất, đặc trưng của hàng hoá, dịch vụ. Bởi vậy,
thương hiệu bao gồm cả tên thương mại và hàm chứa cả các đối tượng sở hữu
trí tuệ khác như xuất xứ hàng hoá, chỉ dẫn địa lý và nhãn hiệu.
Thuật ngữ thương hiệu đôi khi cũng được sử dụng để đề cập tới bất cứ
đặc tính khác biệt nào của hàng hóa đã được xác nhận, đặc biệt là các tính
chất đặc trưng của sản phẩm được nhiều người biết tới, ví dụ thời trang Gucci,
kính râm Elton John's Cần phải chú ý rằng, quyền bảo hộ thương hiệu chỉ
thực sự có được khi đã sử dụng và đăng kí thương hiệu đó cho một dòng sản
phẩm hoặc dịch vụ nhất định.
Hiện nay ở nước ta, hai thuật ngữ này vẫn còn nhiều trường hợp hiểu
không rõ ràng ảnh hưởng đến việc sử dụng tên thương mại, thương hiệu, cũng
như trong hoạt động kinh doanh nói chung.
1.2. Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thƣơng mại
1.2.1. Khái niệm bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương
mại
Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại là việc Nhà
nước thừa nhận và bảo vệ những quan hệ xã hội phát sinh khi con người tạo
ra tên thương mại thông qua việc Nhà nước ban hành các quy phạm pháp luật
về tên thương mại và tổ chức các cơ quan có thẩm quyền bảo vệ quyền và lợi

18
ích hợp pháp của các chủ sử dụng hợp pháp tên thương mại và những chủ thể
khác liên quan đến việc sử dụng tên thương mại.
Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại gồm: Nhà
nước ban hành các văn bản pháp luật về tên thương mại; vấn đề xác lập
quyền; các phương thức, biện pháp khác nhau để bảo vệ quyền, lợi ích hợp
pháp của chủ sở hữu tên thương mại (bảo vệ quyền).
Việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp nhằm đảm bảo cho chủ sở hữu

mang tên đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh
doanh. Sự phân biệt này cần thiết được đặt ra trong cùng một lĩnh vực kinh
doanh và khu vực kinh doanh với các yếu tố phân biệt chủ yếu như: Phân biệt
về hàng hoá, dịch vụ, hoạt động, cơ sở kinh doanh. Thông qua những yếu tố
này để cá thể hoá chủ thể kinh doanh này với chủ thể kinh doanh khác. Điều
này cũng có thể được hiểu là nếu tên thương mại của hai chủ thể kinh doanh
trùng nhau hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn nhưng hai chủ thể kinh
doanh trong hai lĩnh vực khác nhau, thuộc hai lãnh thổ khác nhau thì vẫn
được chấp nhận bảo hộ. Cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh là hai điều kiện
song song đi đôi với nhau, nếu thiếu một trong hai yếu tố đó thì tên thương
mại sẽ không được bảo hộ. Chẳng hạn như, hai tên thương mại trùng nhau
nhưng hai chủ thể kinh doanh lại không hoạt động trên một khu vực địa lý tuy
rằng họ kinh doanh trong cùng một lĩnh vực hoặc hai chủ thể kinh doanh ở
trên cùng một khu vực địa lý nhưng lại không kinh doanh trên cùng một lĩnh
vực cũng không được pháp luật chấp nhận bảo hộ. "Điều kiện bảo hộ này của
tên thương mại cũng đơn giản hơn so với nhãn hiệu" [24] (theo quy định của
pháp luật, một nhãn hiệu muốn được bảo hộ còn phải đáp ứng cả điều kiện:
Phải không trùng và không tương tự tới mức gây nhầm lẫn với các hàng hoá,

20
dịch vụ không trùng và tương tự nếu các nhãn hiệu đó được công nhận là nổi
tiếng hay được thừa nhận rộng rãi, được nhiều người biết đến).
Tên thương mại được coi là có khả năng phân biệt nếu đáp ứng được
các điều kiện sau đây:
- Chứa thành phần tên riêng, trừ trường hợp đã được biết đến
rộng rãi: Nếu tên thương mại chỉ có phần mô tả thì không được bảo
hộ, bởi lẽ phần mô tả không có khả năng tạo nên tính phân biệt cho
tên thương mại (hai doanh nghiệp có tên thương mại khác nhau có
thể có phần mô tả giống nhau), vì vậy tên thương mại bắt buộc phải
chứa thành phần tên riêng để tạo ra sự phân biệt giữa các chủ thể

đó được sử dụng. Tên thương mại và nhãn hiệu đều có chức năng chỉ dẫn cho
người tiêu dùng về hàng hoá, dịch vụ đó của cơ sở sản xuất kinh doanh nào,
đều đưa ra một kết quả chung rằng ai là người chịu trách nhiệm về những
hàng hoá, dịch vụ đó, bởi vậy nếu đã có nhãn hiệu thuộc quyền của người
khác đã được xác lập trước thời điểm tên thương mại được bắt đầu thì đương
nhiên chủ thể kinh doanh sẽ không được sử dụng tên thương mại đó nữa.
Cũng do tên thương mại thường là tên doanh nghiệp hoặc được sử dụng
thường xuyên trong hoạt động kinh doanh của mỗi chủ thể kinh doanh, nên
quyền sở hữu tên thương mại được xác lập trên cơ sở thực tiễn sử dụng hợp
pháp tên thương mại đó tương ứng với khu vực và lãnh thổ kinh doanh, mà
không cần thực hiện thủ tục đăng ký tên thương mại đó tại Cục Sở hữu trí tuệ.
Điều này khác với việc xác lập quyền sở hữu trí tuệ đối với các chỉ dẫn đầu
thương mại khác như nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, những đối tượng này cần phải
đăng ký mới được bảo hộ.
Quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại theo quy định của
pháp luật Việt Nam được xác lập trên cơ sở sử dụng hợp pháp tên thương mại

22
đó mà không phụ thuộc vào bất kỳ thủ tục đăng ký nào. Việc đăng ký tên chủ
thể kinh doanh theo quy định của pháp luật về thủ tục đăng ký kinh doanh,
thủ tục đăng ký hoạt động của doanh nghiệp và của các chủ thể kinh doanh
khác chỉ có ý nghĩa ghi nhận ý định sử dụng tên gọi của chủ thể đó mà không
có ý nghĩa xác lập quyền. Tên thương mại là tên gọi của tổ chức, cá nhân
dùng trong hoạt động kinh doanh, vì vậy, phải có sự tồn tại của tổ chức, cá
nhân mang tên thương mại thì việc sử dụng tên thương mại mới có ý nghĩa về
mặt pháp lý. Tuy nhiên, việc có được giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh
không phải là cơ sở pháp lý tuyệt đối để nói rằng quyền sở hữu công nghiệp
đối với tên thương mại đã được xác lập. Để được xác lập, tên thương mại còn
phải được sử dụng thông qua các hoạt động kinh doanh. Chủ sở hữu quyền
đối với tên thương mại là tổ chức, cá nhân tiến hành hoạt động đăng ký kinh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status