ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRẦN TIẾN QUANG
THáA THUËN H¹N CHÕ C¹NH TRANH
TRONG HîP §åNG NH¦îNG QUYÒN TH¦¥NG M¹I ë VIÖT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2017
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRẦN TIẾN QUANG
THáA THUËN H¹N CHÕ C¹NH TRANH
TRONG HîP §åNG NH¦îNG QUYÒN TH¦¥NG M¹I ë VIÖT NAM
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60 38 01 07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. TRẦN VĂN BIÊN
HÀ NỘI - 2017
1.1.1.
Khái niệm thỏa thuận hạn chế cạnh tranh ......................................... 6
1.1.2.
Những đặc trưng pháp lý cơ bản của thỏa thuận hạn chế
cạnh tranh ......................................................................................... 9
1.1.3.
Phân loại thỏa thuận cạnh tranh ....................................................... 13
1.2.
Về hợp đồng nhượng quyền thương mại ......................................... 15
1.2.1.
Khái niệm về hợp đồng nhượng quyền thương mại ........................ 15
1.2.2.
Đặc điểm hợp đồng nhượng quyền thương mại .............................. 19
1.2.3.
Nội dung hợp đồng nhượng quyền thương mại .............................. 20
1.3.
2.3.
Ưu điểm và hạn chế của pháp luật Việt Nam hiện hành điều
chỉnh thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng nhượng
quyền thương mại ............................................................................ 51
2.3.1.
Ưu điểm ........................................................................................... 51
2.3.2.
Hạn chế ............................................................................................ 55
Kết luận chương 2 ........................................................................................... 62
CHƢƠNG 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO
HIỆU QUẢ THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ THỎA THUẬN HẠN
CHẾ CẠNH TRANH TRONG HỢP ĐỒNG NHƢỢNG QUYỀN
THƢƠNG MẠI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY ................................................63
3.1.
Những yêu cầu đối với việc hoàn thiện pháp luật về thỏa thuận
hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng nhượng quyền thương mại ...... 63
3.2.
Một số kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật điều chỉnh
thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng nhượng quyền
thương mại ...................................................................................... 65
Xã hội chủ nghĩa
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Bước sang thế kỷ XXI, thế giới có sự chuyển mình và phát triển mạnh
mẽ đạt được những thành tựu vĩ đại ở nhiều lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực kinh
tế. Hàng loạt các tổ chức kinh tế đa quốc gia như Tổ chức Thương mại Thế
giới (WTO); Nhóm các nền kinh tế lớn (G20), Nhóm 05 nước phát triển (G5);
Nhóm các nền kinh tế mới nổi (BRICS); Cộng đồng kinh tế ASEAN… ngày
càng phát triển cả về quy mô, mở rộng tầm ảnh hưởng góp phần đưa nền kinh
tế của từng quốc gia thành viên và của toàn thế giới phát triển hơn. Hòa chung
vào xu hướng toàn cầu hóa, quốc tế hóa, Đảng ta nhận định công cuộc hội
nhập thế giới là chính sách chiến lược, lâu dài và là phương hướng đúng đắn
phù hợp với sự phát triển chung của thế giới.
Với sự nỗ lực không ngừng, sau rất nhiều cuộc đàm phán song phương
và đa phương, Việt Nam chính thức là thành viên thứ 150 của Tổ chức
Thương mại thế giới (WTO) vào năm 2007. Thành quả không thể không nhắc
đến trong công cuộc hội nhập hóa nền kinh tế khi cuối năm 2015, đầu năm
2016 vừa qua chúng ta đã đàm phán và ra nhập thành công ba tổ chức kinh tế
gồm: Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) vào tháng 12/2015, tháng 8/2015 với
việc đạt được những thỏa thuận mang tính nguyên tắc của hiệp định thương
mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA) và kết thúc đàm phán hiệp định đối tác
kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) vào tháng 10 - 2015 Việt
Nam đã chứng minh được vị thế ngày càng lớn trên trường quốc tế.
Với việc trở thành một trong những thành viên sáng lập, thành viên
tích cực của các tổ chức kinh tế thế giới, nền kinh tế Việt Nam có nhiều cơ
hội để vươn xa hơn nhưng cũng đồng thời đối mặt với nhiều thách thức,
nhiều rủi ro hơn. Các hoạt động thương mại, xúc tiến thương mại sẽ diễn ra
2
Thị Nhung (2011), Cơ sở lý luận và thực tiễn về điều chỉnh pháp luật đối với
các TTHCCT ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ, Học viện Khoa học xã
hội; Nguyễn Thị Kim Huệ (2005), Những vấn đề lý luận và thực tiễn về
nhượng quyền thương mại tại Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường
Đại học Luật Hà Nội; Bùi Ngọc Cường (2007), “Các điều khoản độc quyền
trong hợp đồng nhượng quyền thương mại”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật;
Nguyễn Thanh Tú (2007), “Nhượng quyền thương mại dưới góc độ pháp
luật cạnh tranh”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp; Vũ Đặng Hải Yến (2008),
“Mối quan hệ giữa hoạt động nhượng quyền thương mại và các TTHCCT”,
Tạp chí Luật học; Nguyễn Thị Hồng Vân (2011), Các TTHCCT trong hợp
đồng nhượng quyền thương mại, Tạp chí nghiên cứu lập pháp; Nguyễn Thị
Tình (2014), “Ràng buộc bán kèm trong Hợp đồng nhượng quyền thương
mại”, Tạp chí nghiên cứu Châu Âu; Nguyễn Thị Tình (2014), “Pháp luật
điều chỉnh hành vi ấn định giá bán”, Tạp chí dân chủ và pháp luật; Trường
Đại học Thương Mại (2011), Tăng cường sự phát triển của hoạt động
nhượng quyền thương mại thông qua pháp luật điều chỉnh hạn chế cạnh
tranh, Đề tài nghiên cứu khoa học; ….
Các công trình kể trên mới chỉ phân tích mang tính tổng quát về từng
vấn đề “hoạt động nhượng quyền thương mại” hay “TTHCCT” mà chưa
thực sự có những phân tích chuyên sâu về cả hai vấn đề “TTHCCT trong
hợp đồng nhượng quyền thương mại”. Chính vì vậy, có thể khẳng định việc
nghiên cứu đề tài “TTHCCT trong hợp đồng nhượng quyền thương mại ở
Việt Nam” là có tính mới.
3. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích xuyên suốt của Luận văn là làm rõ những vấn đề lý luận, thực
luật cạnh tranh.
4
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ luận văn này, trên cơ sở tìm hiểu, phân tích những
quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam về TTHCCT trong hợp đồng
nhượng quyền thương mại, liên hệ thực tiễn tác giả chỉ ra những những hạn
chế còn tồn tại trong việc áp dụng những quy định pháp luật đó. Từ đó, tác giả
đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về thỏa thuận
hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng nhượng quyền thương mại trên cơ sở học
hỏi tiếp thu tiến bộ của các nước trên thế giới phù hợp với định hướng phát
triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Tác giả tiếp cận vấn đề dựa trên phương pháp duy vật biện chứng cũng
như các quan điểm phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN của
Đảng, của Nhà nước ta. Trên cơ sở tiếp cận từ cái chung đến cái riêng, từ trừu
tượng đến cụ thể và sử dụng tổng hợp các phương pháp phân tích, đối chiếu,
so sánh, bình luận, thống kê chứng minh…
Luận văn cũng khai thác những thông tin, tư liệu của các công trình
nghiên cứu đã công bố để chứng minh, giải thích cho luận điểm được phân tích.
6. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, và danh mục tài liệu tham khảo, Luận
văn được kết cấu gồm 03 chương như sau:
- Chương 1: Những vấn đề lý luận về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh
trong hợp đồng nhượng quyền thương mại.
- Chương 2: Thực trạng pháp luật về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh
trong hợp đồng nhượng quyền thương mại ở Việt Nam
- Chương 3: Hoàn thiện pháp luật về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh
6
doanh nghiệp luôn phải nỗ lực hết mình để có thể hơn đối thủ. Tuy nhiên,
cũng có nhiều doanh nghiệp coi quy luật cạnh tranh như một mối nguy hại
cho lợi nhuận và sự phát triển. Thay vì việc họ nỗ lực thay đổi, cải thiện quy
trình sản xuất kinh doanh của mình hướng tới người tiêu dùng và tạo nền tảng
phát triển bền vững thì họ tìm đến nhau để thỏa thuận, phân chia cho nhau để
đảm bảo lợi ích hai bên không bị tổn hại hoặc tối đa hóa lợi nhuận doanh
nghiệp. Điều này vô hình trung đã gây hậu quả tất yếu trước hết là những
người tiêu dùng, sau là ảnh hưởng sự phát triển kinh tế, hình thành sự độc
quyền nhất định trong thị trường.
Từ các nhìn nhận đánh giá, pháp luật cạnh tranh các nước trên thế giới
đều có những quy định điều chỉnh những hành vi TTHCCT.
Khoản 1 điều 81 Hiệp ước Rome nghiêm cấm mọi thỏa thuận giữa các
doanh nghiệp, mọi quyết định của hiệp hội doanh nghiệp và mọi hành động
phối hợp có khả năng ảnh hưởng đến trao đổi thương mại giữa các quốc gia
thành viên và có mục đích hoặc hệ quả phản cạnh tranh.
Ở Châu Âu, TTHCCT quy định tại điều 101 của Hiệp ước thành lập
Liên minh châu Âu như sau:
Mọi thỏa thuận giữa các doanh nghiệp, các quyết định của
hiệp hội các doanh nghiệp và mọi hành vi liên kết khác có thể ảnh
hưởng đến thương mại giữa các thành viên và có mục đích hệ quả
ngăn cản, hạn chế hoặc làm sai lệch quy luật cạnh tranh trên thị
trường của liên minh, đều bị coi là đi ngược lại với mục đích thành
lập thị trường chung và bị cấm [5, tr.4].
Tại Nhật Bản, khoản 6, điều 2, Luật Chống độc quyền quy định:
Hạn chế thương mại bất hợp lý là các hoạt động kinh doanh
mà thông qua đó bất kỳ doanh nghiệp nào bằng hợp đồng, thỏa
7. Thoả thuận loại bỏ khỏi thị trường những doanh nghiệp
không phải là các bên của thoả thuận;
8. Thông đồng để một hoặc các bên của thoả thuận thắng
thầu trong việc cung cấp hàng hoá, cung ứng dịch vụ.
Theo Luật Cạnh tranh thì TTHCCT là thỏa thuận giữa hai hay nhiều tổ
chức, cá nhân kinh doanh có tác động làm giảm, sai lệch hoặc cản trở cạnh
tranh trên thị trường. Theo đó luật không quy định về hình thức thỏa thuận
(văn bản hay bằng miệng, công khai hay ngầm) cũng như mục đích của thỏa
thuận [5, tr.5]. Khi xem xét một thỏa thuận có bị coi là TTHCCT không thì
chỉ cần xét xem thỏa thuận đó có mục đích thực hiện một hoặc một số hành vi
nêu tại Luật Cạnh tranh hay không.
1.1.2. Những đặc trưng pháp lý cơ bản của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh
Để hiểu cụ thể về TTHCCT và có thể phân biệt được hành vi TTHCCT
với những hành vi khác thì trước hết phải nhận dạng được hành vi TTHCCT
thông qua những đặc trưng pháp lý cơ bản sau:
Thứ nhất, TTHCCT là thỏa thuận giữa các doanh nghiệp. Doanh nghiệp
là chủ thể trong quan hệ TTHCCT [19].
Theo quy định tại Khoản 1, Điều 2, Luật Cạnh tranh, doanh nghiệp
được hiểu là các tổ chức, cá nhân kinh doanh bao gồm cả doanh nghiệp sản
xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích, doanh nghiệp hoạt động trong
các ngành, lĩnh vực thuộc độc quyền nhà nước và doanh nghiệp nước ngoài
hoạt động ở Việt Nam. Các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận phải hoạt
động độc lập với nhau và hoàn toàn không phụ thuộc với nhau về tài chính.
Như vậy, trường hợp công ty mẹ - công ty con, hay giữa công ty với đại lý
của mình có sự thỏa thuận thì không coi là TTHCCT.
9
nghiệp thành viên tuân thủ theo thì đó cũng chính là một sự thoả thuận giữa
các doanh nghiệp thành viên đã đạt được.
Hình thức của thỏa thuận dạng kiểu như vậy gần như mang tính chất uỷ
quyền quyết định cho hiệp hội do vậy có giàng buộc nghĩa vụ và trách nhiệm
pháp lý với các thành viên. Ngoài ra, thoả thuận hạn chế cạnh tranh còn có
thể biểu hiện dưới dạng các cam kết tuân thủ hay đáp ứng những yêu cầu do
một hoặc một số bên đặt ra. Trong thực tế, có trường hợp các doanh
nghiệp thực hiện những hành vi giống nhau nhưng không vì thế mà có thể kết
luận giữa các doanh nghiệp có sự thoả thuận bởi có thể đó là sự trùng
hợp ngẫu nhiên trên cơ sở tính toán và đưa ra quyết định một cách độc lập của
từng doanh nghiệp. Chỉ có thể quy kết là có sự tồn tại một thoả thuận nếu có
thông tin, chứng cứ cho thấy rằng giữa các doanh nghiệp đã có sự gặp gỡ, trao
đổi và thống nhất giữa ý chí, hay nói cách khác các doanh nghiệp đã tìm được
tiếng nói và hành động chung mà không bị tác động bởi bất cứ lý do nào.
Thứ ba, mục đích của thoả thuận là nhằm hạn chế cạnh tranh [19].
Mục đích của các bên tham gia thỏa thuận là làm giảm sức ép cạnh
tranh hay chính là hạn chế cạnh tranh và thông qua đó gây thiệt hại cho các
doanh nghiệp không tham gia thỏa thuận, cho các doanh nghiệp tiềm năng,
xâm phạm quyền và lợi ích chính đáng của người tiêu dùng và toàn xã hội.
Đối với khách hàng, lợi ích trực tiếp bị thiệt hại là không được
hưởng các sản phẩm với chất lượng tốt hơn và mức giá cả phù hợp hơn. Đối
với doanh nghiệp không tham gia thoả thuận có nguy cơ mất cơ hội kinh
doanh, bị loại ra khỏi thị trường. Với sự liên kết giữa các doanh nghiệp thông
qua một TTHCCT tạo nên sức mạnh khống chế và buộc khách hàng phải
tuân theo những luật chơi do các doanh nghiệp này tạo ra không dựa trên cơ
sở quy luật của thị trường. Ngoài ra, bằng việc TTHCCT, các doanh nghiệp
11
Tuy nhiên, hậu quả này có thể đã xảy ra hoặc chưa xảy ra. TTHCCT
chỉ đòi hỏi đảm bảo các yếu tố cấu thành về mặt hình thức. Khi xác định hành
vi TTHCCT không cần xét đến hậu quả thực tế mà chỉ cần xác định hậu quả
về mặt hình thức. Hậu quả thực tế chỉ có ý nghĩa trong việc xác định mức
độ trách nhiệm pháp lý hay mức phạt.
1.1.3. Phân loại thỏa thuận cạnh tranh
Hiện nay dựa trên cơ sở khác nhau chúng ta lại có các cách thức để
phân loại thỏa thuận hạn chế cạnh tranh:
- Trên cơ sở mối quan hệ giữa các doanh nghiệp tham gia thoả thuận,
người ta chia các hành vi thoả thuận ra 2 nhóm: thoả thuận theo chiều ngang
và thoả thuận theo chiều dọc. Thỏa thuận ngang là thỏa thuận giữa các đối thủ
cạnh tranh và thỏa thuận dọc là thỏa thuận giữa các doanh nghiệp bổ trợ lẫn
nhau [2, tr.14].
Thỏa thuận theo chiều ngang là thỏa thuận giữa các doanh nghiệp có
cùng ngành hàng hoạt động trên cùng một thị trường liên quan như thỏa thuận
giữa các nhà sản xuất hay giữa những nhà những nhà bán buôn hoặc giữa
những nhà bán lẻ của những loại sản phẩm tương tự nhau. Nội dung của thỏa
thuận liên quan đến ấn định giá mua bán hàng hóa, dịch vụ, phân chia thị
trường, ngăn cản doanh nghiệp khác tham gia thị trường, thông đồng trong
đấu thầu, hạn chế hoặc kiểm soát số lượng, khối lượng sản xuất, mua bán
hàng hóa, dịch vụ.
Thỏa thuận theo chiều dọc là các thỏa thuận liên quan đến việc bán
lại những sản phẩm từ nhà sản xuất hay nhà cung cấp, do đó nó diễn ra giữa
các doanh nghiệp ở các công đoạn khác nhau trong quá trình sản xuất, phân
phối sản phẩm như thỏa thuận giữa nhà sản xuất và nhà phân phối. Thỏa
thuận theo chiều dọc không tạo ra khả năng khống chế thị trường. Các thỏa
13
này với tổng doanh thu của tất cả các doanh nghiệp kinh doanh loại hàng hóa,
dịch vụ đó trên thị trường liên quan hoặc tỷ lệ phần trăm giữa doanh số mua
vào của doanh nghiệp này với tổng doanh số mua vào của tất cả các doanh
nghiệp kinh doanh loại hàng hóa, dịch vụ đó trên thị trường liên quan theo
tháng, quý, năm [3, tr.266].
Thị phần kết hợp: là tổng thị phần trên thị trường liên quan của các
doanh nghiệp tham gia vào thỏa thuận hạn chế cạnh tranh hoặc tập trung
kinh tế [3, tr.266].
Thị trƣờng liên quan là khái niệm được sử dụng trong phân tích cạnh
tranh để chỉ giới hạn thị trường nơi diễn ra các hoạt động cạnh tranh thuộc sự
quan tâm của pháp luật cạnh tranh. Thị trường liên quan bao gồm thị trường
sản phẩm liên quan và thị trường địa lý liên quan [3, tr.265].
Thỏa thuận bị coi là trái pháp luật một cách đƣơng nhiên bao gồm:
(khoản 6, 7, 8 điều 8 Luật Cạnh tranh)
Thoả thuận ngăn cản, kìm hãm, không cho doanh nghiệp khác tham
gia thị trường hoặc phát triển kinh doanh;
Thoả thuận loại bỏ khỏi thị trường những doanh nghiệp không phải
là các bên của thoả thuận;
Thông đồng để một hoặc các bên của thoả thuận thắng thầu trong
việc cung cấp hàng hoá, cung ứng dịch vụ.
Thỏa thuận trong nhóm này là thỏa thuận đương nhiên bị cấm trong
mọi trường hợp và không có ngoại lệ. Các thỏa thuận này đều được luật cạnh
tranh các quốc gia trên thế giới quy định khá nghiêm ngặt.
1.2. Về hợp đồng nhƣợng quyền thƣơng mại
1.2.1. Khái niệm về hợp đồng nhượng quyền thương mại
15
HĐNQTM được chính thức ghi nhận bằng sự kiện năm 1851, lần đầu
phí tối thiểu.
Quan niệm Liên minh châu Âu (EU):
Quyền thương mại là một "tập hợp những quyền sở hữu công
nghiệp và sở hữu trí tuệ liên quan tới nhãn hiệu hàng hóa, tên
thương mại, biển hiệu cửa hàng, giải pháp hữu ích, kiểu dáng, bản
quyền tác giả, bí quyết, hoặc sáng chế sẽ được khai thác để bán sản
phẩm, hoặc cung cấp dịch vụ tới người sử dụng cuối cùng. Nhượng
quyền thương mại có nghĩa là việc chuyển nhượng quyền kinh
doanh được Khái niệm ở trên [30].
Luật sở hữu công nghiệp của Mêhicô quy định:
Nhượng quyền thương mại tồn tại khi với một li-xăng cấp
quyền sử dụng một thương hiệu nhất định, có sự chuyển giao kiến
thức công nghệ hoặc hỗ trợ kỹ thuật để một người sản xuất, chế tạo,
hoặc bán sản phẩm, hoặc cung cấp dịch vụ đồng bộ với các phương
pháp vận hành (operative methods), các hoạt động thương mại,
hoặc hành chính đã được chủ thương hiệu (brand owner) thiết lập,
với chất lượng (quality), danh tiếng (prestige), hình ảnh của sản
phẩm, hoặc dịch vụ đã tạo dựng được dưới thương hiệu đó [30].
Bộ luật dân sự Nga quy định:
HĐNQTM là hợp đồng mà một bên (bên có quyền) phải cấp
cho bên kia (bên sử dụng) với một khoản thù lao, theo một thời
hạn, hay không thời hạn, quyền được sử dụng trong các hoạt động
kinh doanh của bên sử dụng một tập hợp các quyền độc quyền của
bên có quyền bao gồm, quyền đối với dấu hiệu, chỉ dẫn thương
mại, quyền đối với bí mật kinh doanh, và các quyền độc quyền
17
theo hợp đồng đối với các đối tượng khác như nhãn hiệu hàng hoá,
nhượng quyền và cũng chính là căn cứ, cơ sở để giải quyết tranh chấp có thể
sẽ phát sinh giữa các bên trong quá trình thực hiện hợp đồng.
Pháp luật Việt Nam không đưa ra một định nghĩa nào về HĐNQTM.
Điều 285 Luật Thương mại 2005 với tiêu đề “HĐNQTM” chỉ quy định về
hình thức của loại hợp đồng này. Như vậy, có thể hiểu, trên phương diện pháp
luật, HĐNQTM là loại hợp đồng được các thương nhân ký kết trong quá trình
thực hiện hoạt động thương mại, cụ thể là thực hiện hoạt động nhượng quyền
thương mại [21, tr.11].
1.2.2. Đặc điểm hợp đồng nhượng quyền thương mại
Thứ nhất, về chủ thể. Gồm bên nhượng quyền và bên nhận quyền. Bên
nhận quyền và bên nhượng quyền đều phải là thương nhân, có thể là thương
nhân Việt Nam hoặc thương nhân nước ngoài.
Những đặc trưng về chủ thể này của HĐNQTM làm cho HĐNQTM có
những đặc điểm khác biệt so với các loại hợp đồng khác. Quan hệ nhượng
quyền không chỉ dừng lại giữa một bên nhượng quyền và một bên nhận quyền
mà còn xuất hiện thêm nhiều bên nhận quyền khác nữa tạo thành một hệ
thống nhượng quyền thương mại, xuất phát từ sự khác biệt của quan hệ
nhượng quyền này làm cho chủ thể của loại hợp đồng này cũng khác với các
hợp đồng khác. Bên nhận quyền thứ hai là bên nhận lại quyền kinh doanh
thương mại của bên nhượng quyền từ bên nhận quyền thứ nhất. Trong trường
hợp này, các bên lại phải có những thoả thuận, phù hợp với quyền và lợi ích.
Thứ hai, đối tượng của hợp đồng. Đối tượng của HĐNQTM là “quyền
thương mại”. Theo đó, bên nhượng quyền cho phép và yêu cầu bên nhận
quyền tiến hành việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ theo cách thức tổ
19