Hoàn thiện pháp luật về hạn chế cạnh tranh trong hoạt động nhượng quyền thương mại - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

LÊ THỊ LIỄU PHƯƠNG

HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HẠN CHẾ CẠNH TRANH
TRONG HOẠT ĐỘNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60 38 01 07

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. TS. BÙI NGUYÊN KHÁNH

HÀ NỘI - 2016


MỤC LỤC
Trang
LỜI NÓI ĐẦU .............................................................................................. 1
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT HẠN CHẾ
CẠNH TRANH TRONG HOẠT ĐỘNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG
MẠI ............................................................................................................... 7
1.1. Những vấn đề lý luận chung về hoạt động nhượng quyền thương mại ..... 7
1.1.1. Khái niệm nhượng quyền thương mại và những đặc trưng của hoạt
động nhượng quyền thương mại ..................................................................... 7
1.1.1.1. Khái nhiệm nhượng quyền thương mại .............................................. 7
1.1.1.2. Những đặc trưng chung của hoạt động nhượng quyền thương mại .... 9

2.2.2. Nhận diện hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí
độc quyền trong hệ thống nhượng quyền thương mại tại Việt Nam............... 40
2.2. Đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật hạn chế cạnh tranh vào hoạt động
nhượng quyền thương mại tại Việt Nam. ...................................................... 47
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT NHẰM HOÀN THIỆN
PHÁP LUẬT VỀ HẠN CHẾ CẠNH TRANH TRONG NHƯỢNG
QUYỀN THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY .............................. 53
3.1. Xây dựng các quy định miễn trừ cho các hành vi hạn chế cạnh tranh trong
hoạt động nhượng quyền thương mại. .......................................................... 54
3.2. Xây dựng quy định áp dụng cho việc xác định vị trí thống lĩnh thị trường
của bên nhượng quyền thương mại ............................................................... 56
3.3. Xem xét hoạt động nhượng quyền thương mại dưới góc độ pháp luật hạn
chế cạnh tranh .............................................................................................. 58
3.3.1. Đối với hành vi buộc bên nhận quyền chấp nhận các nghĩa vụ không
liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng (ràng buộc bán kèm) .......... 59
3.3.2. Đối với hành vi ấn định giá bán lại hoặc ấn định giá bán lại tối thiểu .. 61
3.3.3. Đối với thỏa thuận về giá bán hàng hóa, dịch vụ ............................. 63
KẾT LUẬN ................................................................................................ 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO


1

LỜI NÓI ĐẦU
Trong những năm gần đây, nhiều thương hiệu nổi tiếng thế giới đã tới
Việt Nam bằng con đường nhượng quyền như KFC, BBQ... Mặt khác, nhiều
thương hiệu Việt cũng tìm được chỗ đứng cho mình trên thị trường thông qua
việc nhượng quyền thương mại như Cà phê Trung Nguyên, Phở 24... Có thể
nói, dù còn nhiều mới mẻ nhưng hoạt động nhượng quyền thương mại đã
được nhiều doanh nghiệp và người tiêu dùng Việt Nam đón nhận. Nhiều

định pháp luật về cạnh tranh khi thực hiện hoạt động nhượng quyền
thương mại là rất cần thiết nhằm bảo đảm một môi trường cạnh tranh lành
mạnh cho hoạt động nhượng quyền thương mại diễn ra ngày một sôi động
trên thị trường Việt Nam. Bên cạnh đó, việc nghiên cứu và làm rõ các quy
định pháp luật về cạnh tranh trong hoạt động nhượng quyền thương mại
cũng nhằm giúp các doanh nghiệp có thể tránh được các kiện tụng liên
quan đến các hành vi hạn chế cạnh tranh, giúp các cơ quan quản lý nhà
nước trên lĩnh vực này có những hiểu biết đầy đủ, từ đó có hướng để hoàn
thiện pháp luật về nhượng quyền nói riêng và pháp luật thương mại nói
chung, đáp ứng xu thế hội nhập.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Hiện nay, pháp luật về hoạt động nhượng quyền thương mại đã được
nghiên cứu dưới góc độ lý luận và thực tiễn, trong đó liên quan tới vấn đề
pháp luật về hạn chế cạnh tranh trong hoạt động nhượng quyền thương mại
cũng đã có những công trình khoa học nghiên cứu, phải kể đến như:
Trước hết, các giáo trình, bài giảng của các trường đại học đào tạo
chuyên ngành Luật có viết về nội dung hạn chế cạnh tranh trong hoạt động
nhượng quyền thương mại như: “Giáo trình Luật thương mại” của Trường
Đại học Luật Hà Nội do Nguyễn Viết Tý chủ biên, Nxb Công an Nhân dân
phát hành năm 2014; “Giáo trình Luật thương mại Việt Nam” của Trường
Đại học Luật Hà Nội do Nguyễn Viết Tý chủ biên, Nxb Công an Nhân dân
phát hành năm 2001; “Giáo trình Luật thương mại” do Bùi Ngọc Cường (chủ
biên); Đồng Ngọc Ba; Lê Đình Vinh; Đoàn Trung Kiên biên soạn; Nxb Giáo
dục phát hành năm 2008…


3

Các luận án, luận văn viết về đề tài này bao gồm:
- Vũ Đặng Hải Yến (2008), Những vấn đề lý luận và thực tiễn về pháp


phép, những hành vi hạn chế cạnh tranh bị cấm. Trong phạm vi bài viết, tác
giả trình bày những vấn đề lý luận chung về hành vi hạn chế cạnh tranh và
phát luật hạn chế cạnh tranh trong hoạt động nhượng quyền thương mại, từ đó
tập trung đi sâu phân tích nội dung những quy định của pháp luật về hạn chế
cạnh tranh tại Việt Nam điều chỉnh hoạt động nhượng quyền thương mại. Bên
cạnh đố, người viết có đưa vào bài viết quy định pháp luật của một số nước
trên thế giới về điều chỉnh hành vi hạn chế cạnh tranh trong hoạt động
nhượng quyền thương mại để làm rõ thêm các nội dung trong bài viết và là cơ
sở cho các đề xuất, kiến nghị của mình.
4. Mục đích nghiên cứu của luận văn
Với những lý do trên, tác giả đã chọn đề tài “Hoàn thiện pháp luật về
hạn chế cạnh tranh trong hoạt động nhượng quyền thương mại” nhằm tiến
hành nghiên cứu về nội dung cũng như vai trò cần thiết của pháp luật điều
chỉnh các hành vi hạn chế cạnh tranh trong hoạt động nhượng quyền thương
mại; phân tích, đánh giá tình hình thực trạng pháp luật về hạn chế cạnh tranh
đối với hoạt động nhượng quyền thương mại tại Việt Nam. Qua đó, đưa ra
một số kiến nghị, đề xuất nhằm xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về
nhượng quyền thương mại nói chung và pháp luật về hạn chế cạnh tranh trong
hoạt động nhượng quyền thương mại nói riêng.
5. Các câu hỏi nghiên cứu của luận văn
Trên cơ sở nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành, các tài liệu,
công trình nghiên cứu liên quan đến hành vi hạn chế cạnh tranh trong hoạt
động nhượng quyền thương mại, luận văn được triển khai nhằm làm sáng tỏ
các câu hỏi nghiên cứu như sau:
(1) Về khía cạnh lý luận:
Câu hỏi nghiên cứu: Nhượng quyền thương mại là gì? Những hành vi
nào được coi là hành vi hạn chế cạnh tranh trong hoạt động nhượng quyền
thương mại? Những yếu tố nào làm phát sinh hành vi hạn chế cạnh tranh
trong hoạt động nhượng quyền thương mại? Pháp luật hạn chế cạnh tranh

- Ý nghĩa khoa học: Pháp luật về hạn chế cạnh tranh trong hoạt động
nhượng quyền Việt Nam được nghiên cứu một cách tương đối có hệ thống và
tương đối toàn diện.


6

- Ý nghĩa thực tiễn: Trên cơ sở tổng hợp kết quả nghiên cứu, luận văn đề
xuất một số giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện một vài quy định pháp luật về
hạn chế cạnh tranh trọng hoạt động nhượng quyền thương mại.
8. Kết cấu đề tài
Về bố cục, đề tài được bố cục thành 3 chương, cụ thể:
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT HẠN CHẾ
CẠNH TRANH TRONG HOẠT ĐỘNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HẠN CHẾ CẠNH
TRANH TRONG HOẠT ĐỘNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI TẠI
VIỆT NAM
CHƯƠNG 3. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT NHẰM HOÀN THIỆN
PHÁP LUẬT VỀ HẠN CHẾ CẠNH TRANH TRONG NHƯỢNG QUYỀN
THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Trong mỗi chương đều được triển khai thành các tiểu mục nhỏ để làm rõ
các nội dung được nêu, giữa các chương có sự gắn kết hợp lý, chương 3 là sự
tổng hợp các nội dung đã phân tích tại Chương 1 và Chương 2, Chương 3
được phân tích trên cơ sở những nội dung đã được trình bày ở Chương 1.
Do kiến thức còn hạn hẹp, đề tài không tránh khỏi những thiếu sót, rất
mong nhận được sự đóng góp để đề tài được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!


7


8

nhượng quyền sử dụng thương hiệu quyền và nghĩa vụ khai thác kinh doanh đối
tượng chuyển nhượng của người chuyển nhượng quyền sử dụng thương hiệu”.
Tại Việt Nam, hoạt động nhượng quyền thương mại được ghi nhận lần đầu
tiên năm 1999 tại Thông tư số 1254/1999/TT-BKHCN của Bộ Khoa học và
Công nghệ hướng dẫn Nghị định 45/1998/NĐ-CP về chuyển giao công nghệ.
Tại Mục 4.1.1(a) đoạn 5 của Thông tư này đã đề cập đến cụm từ “hợp
đồng cấp phép đặc quyền kinh doanh” với giải thích tiếng Anh là
“franchise”. Theo Thông tư này đ â y là việc chuyển giao độc quyền khai
thác quyền sở hữu trí tuệ, tức là, loại hợp đồng này được hiểu là hợp đồng
với nội dung cấp li xăng sử dụng nhãn hiệu hàng hoá kèm theo các bí quyết
sản xuất, kinh doanh được chuyển giao từ nước ngoài vào Việt Nam có
giá trị thanh toán cho một hợp đồng trên 30.000USD. Thông tư này không
coi “nhượng quyền thương mại” là một hoạt động kinh doanh và cũng
không đưa ra một khái niệm rõ ràng cụ thể về hoạt động nhượng quyền
thương mại.
Tiếp đó, năm 2005, Chính phủ đã thay thế Nghị định số 45/1998/NĐ-CP
bằng việc ban hành Nghị định số 11/2005/NĐ-CP quy định chi tiết về
chuyển giao công nghệ và Thông tư số 30/2005/TT-BKHCN hướng dẫn
một số điều của Nghị định 11/2005/NĐ- CP quy định chi tiết về chuyển
giao công nghệ đã quy định về hoạt động chuyển giao công nghệ, theo đó,
hoạt động cấp phép đặc quyền kinh doanh chỉ được coi là một hoạt động
chuyển giao công nghệ. Điều này cho thấy hoạt động nhượng quyền thương
mại đã có ở Việt Nam trên thực tế, nhưng hoạt động này được tiếp cận dưới
góc độ của chuyển giao công nghệ, chưa phản ánh được bản chất thực sự
của hoạt động thương mại đặc thù này.
Cho đến năm 2005, hoạt động nhượng quyền thương mại mới được
pháp luật Việt Nam ghi nhận như là một hoạt động thương mại độc lập

nhận quyền tự mình tiến hành công việc kinh doanh cung cấp hàng hóa
hoặc dịch vụ theo một hệ thống do bên nhượng quyền quy định và được gắn
với nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh
doanh, quảng cáo của bên nhượng quyền; (ii) Quyền được bên nhượng quyền
cấp cho bên nhận quyền sơ cấp quyền thương mại chung; (iii) Quyền được bên


10

nhượng quyền thứ cấp cấp lại cho bên nhận quyền thứ cấp theo hợp đồng
nhượng quyền thương mại chung và (iv) Quyền được bên nhượng quyền cấp
cho bên nhận quyền quyền thương mại theo hợp đồng phát triển quyền
thương mại.
Có thể hiểu, quyền thương mại trong hợp đồng nhượng quyền là một
“gói quyền”, bao gồm các quyền đối với nhãn hiệu hàng hóa, tên thương
mại, bí quyết kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh,
logo và các đối tượng thuộc quyền sở hữu trí tuệ khác. Các quyền này có sự
liên kết chặt chẽ với nhau trong một chỉnh thể thống nhất. Bên nhận quyền
có quyền sử dụng toàn bộ “gói quyền” này của bên nhượng quyền để tiến
hành kinh doanh hàng hóa, dịch vụ dưới thương hiệu của bên nhượng
quyền
Thứ hai, các chủ thể tham gia hoạt động nhượng quyền thương mại là
các thương nhân
Đối với Bên nhượng quyền, theo quy định tại Điều 5, Nghị định
35/2006/NĐ-CP quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động nhượng
quyền thương mại, bên nhượng quyền chỉ được phép cấp quyền thương
mại khi đáp ứng đủ các điều kiện sau đây: Thứ nhất, hệ thống kinh doanh
dự định dùng để nhượng quyền đã hoạt động được ít nhất 01 năm. Nếu
thương nhân Việt Nam là Bên nhận quyền sơ cấp từ Bên nhượng quyền
nước ngoài, thương nhân Việt Nam đó phải kinh doanh theo phương thức

nét đặc trưng riêng: đó là tính đồng bộ, thống nhất gần như tuyệt đối của hệ
thống. Vì các bên nhận quyền thương mại thông qua hợp đồng nhượng quyền
thương mại sẽ cùng được nhận gói “quyền thương mại” giống nhau và cùng
kinh doanh chung một thương hiệu, sản phẩm. Và bên nhượng quyền cũng
thông qua hợp đồng nhượng quyền ràng buộc bên nhận quyền vào những quy
định chung bắt buộc hay nghĩa vụ phải chịu sự kiểm soát của bên nhượng
quyền để đảm bảo tính đồng bộ của toàn hệ thống. Tính đồng bộ của hệ thống
nhượng quyền thương mại đòi hỏi rất cao, thể hiện ở mục tiêu luôn mang tới
cho khách hàng cảm nhận giống nhau tại những địa điểm nhận quyền khác
nhau trong cùng hệ thống - điều mà ngay cả các hệ thống đại lý lớn cũng
không thể có được. Có thể nói chính tính đồng bộ đã làm nên bản sắc riêng


12

cho hệ thống nhượng quyền thương mại và giúp phát triển, mở rộng thương
hiệu cho bên nhượng quyền.
Thứ tư, hoạt động nhượng quyền thương mại chứa đựng nhiều yếu tố
dẫn đến hành vi hạn chế cạnh tranh
Tuy nhiên, chính những nét đặc trưng nêu trên của hệ thống nhượng
quyền có thể “nuôi dưỡng” những hành vi hạn chế cạnh tranh phát triển nếu
không được kiểm soát tốt. Bởi trong hoạt động nhượng quyền thương mại thì
các các bên trong hệ thống nhượng quyền là các chủ thể độc lập nhau
về mặt tư cách pháp lý và tài chính, trong khi họ lại cùng kinh doanh một
loại sản phẩm giống nhau, với phương thức như nhau và cùng tiếp cận đến
một hoặc một số khách hàng tương tự nhau. Để thu hút khách hàng về phía
mình, các bên trong hệ thống nhượng quyền sẽ tìm mọi cách cạnh tranh với
nhau trên mọi phương diện (như: giá cả, chất lượng, phương thức cung ứng
dịch vụ, chế độ chăm sóc khách hàng…), khi đó tính đồng bộ trong hệ
thống nhượng quyền thương mại có khả năng bị phá vỡ. Chính vì vậy, nếu

bên thứ ba nếu quan hệ này có khả năng gây ra cạnh tranh giữa bên thứ ba và
bên nhượng quyền thương mại; Hai là, các bên có thể cùng nhau thỏa thuận
giao kết một hợp đồng nhượng quyền thương mại độc quyền, Ba là, các bên
có quyền từ chối giao dịch thương mại với các bên thứ ba nếu như việc thực
hiện giao dịch này có khả năng ảnh hưởng tiêu cực đến hệ thống nhượng
quyền thương mại, Bốn là, các bên phải thực hiện một cách tốt nhất những
phương pháp, cách thức để đảm bảo tính đồng bộ của hệ thống nhượng quyền
thương mại.
- Dạng thứ hai là các hành vi có mục đích hạn chế cạnh tranh. Đối với
dạng hành vi này, mặc dù bên thực hiện lấy lý do để duy trì cầu trúc và đảm
bảo sự hoạt động đồng bộ của hệ thống nhưng về bản chất, hành vi hạn chế
cạnh tranh không tác động tới hệ thống nhượng quyền mà gây tổn hại trực
tiếp cho các chủ thể trong hệ thống đồng thời có thể ngăn cản, kình hãm cả
các đối thủ nằm ngoài hệ thống. Như vậy, đây là các hành vi làm hạn chế
cạnh tranh và không mang lại lợi ích cho nền kinh tế nói chung. Các hành vi
dạng này có thể được nhận biết một cách rõ ràng và cấm tuyệt đối như: cấm
giao hàng cho người tiêu dùng ngoài lãnh thổ được quy định trong hợp đồng;


14

cấm bên nhận quyền có khả năng mua hàng hóa thay thế của người khác trong
một số trường hợp ngoại lệ, ví dụ, trong trường hợp bên nhận quyền hết hàng
dự trữ, tuy nhiên bên nhượng quyền không có hàng hóa để cung cấp cho họ…
Bên cạnh đó, một số hành vi trong hoạt động nhượng quyền thương mại chỉ
có thể gây hạn chế cạnh tranh nếu hành vi đó được thực hiện bởi các chủ thể
có thị phần đáng kể xác định trên thị trường liên quan. Trong nhiều trường
hợp, những hành vi hạn chế cạnh tranh này rất khó nhận biết. Ví dụ như trong
trường hợp các thỏa thuận bán kèm trong hợp đồng nhượng quyền thương
mại. Đây có thể được các bên viện dẫn lý do để đảm bảo tính đồng bộ của hệ

thiết lập từ hoặc giữa các bên trong hệ thống nhượng quyền. Trong phạm
vi luận văn này, tác giả tiếp cận hành vi hạn chế cạnh tranh trong hoạt
động nhượng quyền thương mại thuộc nhóm thứ hai, dưới khía cạnh là hành
vi hạn chế cạnh tranh giữa các bên trong một hệ thống nhượng quyền xác
định, bao gồm hành vi hạn chế cạnh tranh giữa bên nhượng quyền với bên
nhận quyền và hành vi hạn chế cạnh tranh giữa các bên nhận quyền với
nhau trong cùng hệ thống nhượng quyền.
1.2.1. Hành vi hạn chế cạnh tranh
Có thể nói, đối với nền kinh tế nói chung, một thị trường nuôi dưỡng được
cạnh tranh, có nghĩa nền kinh tế đó đang trên đà phát triển. Nói một cách khác,
cạnh tranh là một động lực không thể thiếu cho sự đi lên của một nền kinh tế.
“Định nghĩa chung nhất, cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường được dùng để
chỉ một hoàn cảnh trong đó các doanh nghiệp hoặc người bán cổ gắng một
cách độc lập dành được sự quan tâm chú ý của người mua để đạt được một
mục tiêu kinh doanh nhất định như lợi nhuận,doanh thu, thị phần.”
Tuy nhiên, theo K. Marx: “Cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt
giữa các nhà tư bản nhằm dành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất
và tiêu dùng hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch”, có nghĩa, sự tồn tại
của các đối thủ cạnh tranh luôn là mối đe dọa tới nguồn lợi nhuận của các nhà
kinh doanh. Điều này dẫn tới việc hình thành các hành vi hạn chế cạnh tranh
và cạnh tranh không lành mạnh với mục đích triệt hạ các đối thủ cạnh tranh
giành lấy thị trường, khách hàng… và lợi nhuận.


16

Theo pháp luật cạnh tranh của Việt Nam tại Khoản 3, Điều 3, Luật
Cạnh tranh 2004, hành vi hạn chế cạnh tranh là “hành vi của doanh nghiệp
làm giảm, sai lệch, cản trở cạnh tranh trên thị trường, bao gồm hành vi thoả
thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị

một thành phố, một tỉnh, một miền, một quốc gia, một khu vực kinh tế, thậm
chí là toàn cầu mà ở đó hàng hoá, dịch vụ có khả năng thay thế được cho nhau
một cách hợp lý với các điều kiện cạnh tranh tương tự, đặc biệt, khu vực địa
lý này phải có sự khác biệt đáng kể với các khu vực lân cận khác về hàng rào
kiểm soát thương mại, phương tiện phân phối, chi phí vận chuyển và ngôn
ngữ thương mại.
Hành vi hạn chế cạnh tranh được biểu hiện rất da dạng nhưng dù dưới
hình thức nào, mục đích cuối cùng của hành vi hạn chế cạnh tranh là cản trở
cạnh tranh phát triển, áp đặt sự thống trị duy nhất của doanh nghiệp hoặc một
nhóm doanh nghiệp lên thị trường. Ví dụ như thỏa thuận ấn định giá mua bán
hướng tới hạn chế đi tới triệt tiêu cạnh tranh về giá cả giữa các doanh nghiệp,
thỏa thuận phân chia thị trường tiêu thụ hoặc thị trường cung cấp nguyên vật
liệu… buộc người mua không có sự lựa chọn từ đó áp đặt sự thống trị của
doanh nghiệp trong những phạm vi nhất định, gây cản trở và làm hạn chế
cạnh tranh…
Các hành vi hạn chế cạnh tranh thường rất khó nhận biết vì nó liên quan
mật thiết tới các nguyên tắc của Luật dân sự. Đó là quyền tự do thỏa thuận,
giao kết hợp đồng, quyền tự nguyện ràng buộc mình vào những nghĩa vụ của
hợp đồng cho nên để xác định một hành vi gây hạn chế cạnh tranh thường
phải phân tích nhiều yếu tố và thường phải kéo dài. Nhiều thỏa thuận hạn chế
cạnh tranh đã được hình thành từ những thỏa thuận hợp tác, hỗ trợ giữa các
doanh nghiệp.
1.2.2. Phân loại hành vi hạn chế cạnh tranh
Các hành vi hạn chế cạnh tranh tồn tại phổ biến dưới các dạng: thỏa
thuận hạn chế cạnh tranh, lợi dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lợi dụng vị trí
độc quyền.
a. Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh là sự tham gia bàn bạc và cùng thống
nhất ý chí, cùng hành động giữa các chủ thể nhằm mục đích hạn chế cạnh



OECD;2004)


19

Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh có thể là những thỏa thuận giữa các tác
nhân kinh tế nằm ở vị trí ngang nhau trong chu trình sản xuất hoặc phân phối
(các nhà sản xuất với nhau hoặc các nhà phân phối với nhau) - thỏa thuận theo
chiều ngang, hoặc là thỏa thuận giữa các tác nhân kinh tế nằm ở vị trí khác
nhau trong một chu trình sản xuất hoặc lưu thông (thỏa thuận giữa nhà sản
xuất và người phân phối) - thỏa thuận theo chiều dọc. Nếu thỏa thuận ngang
được tiến hành giữa các đối thủ canh tranh thì thỏa thuận dọc thường được
tiến hành giữa các chủ thể có quan hệ liên kết và đôi khi là phụ thuộc lẫn
nhau. Vì vậy, có câu hỏi đặt ra ở đây là liệu các thỏa thuận theo chiều dọc có
thể là các thỏa thuận làm hạn chế cạnh tranh. Thông thường do tính chất của
các quan hệ theo chiều dọc, sự cạnh tranh giữa các chủ thể trong cùng hệ
thống bị hạn chế để đảm bảo tính liên kết và xuyên suốt của hệ thống. Tuy
nhiên, các thỏa thuận theo chiều dọc vẫn có thể có những tác động không
mong muốn, ví dụ như một doanh nghiệp giữ vị trí thống trị trên thị trường có
thể ngăn cản sự gia nhập thị trường của các đối thủ cạnh tranh bằng các thỏa
thuận độc quyền với các kênh phân phối… Vì vậy, khi xem xét các thỏa thuận
hạn chế cạnh tranh theo chiều dọc phải hết sức cẩn trọng và không thể áp đặt
một nguyên tắc tuyệt đối cho các thỏa thuận này.
b. Hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng ví trí độc
quyền là việc một chủ thể chiếm một thị phần ưu thế, lợi dụng vị thế của mình
để áp đặt các điều khoản phụ thuộc cho các đối thủ nhỏ hơn. Việc xác định
một chủ thể hoặc một nhóm chủ thể có vị trí thống lĩnh thị trường liên quan
mật thiết tới khái niệm thị trường liên quan. (Khái niệm thị trường liên quan
được trình bày trong mục 1.1.1) Tùy theo việc xác định thị trường liên quan
rộng hay hẹp mà có thể tính được thị phần của một chủ thể kinh doanh và xác

một giai đoạn nào đó, tập trung kinh tế sẽ phá vỡ sự cân bằng của cơ cấu
thị trường dẫn tới sự thao túng của một hoặc một số tập đoàn kinh tế lớn, từ
đó hạn chế và giết chết cạnh tranh.
Các hành vi hạn chế cạnh tranh tùy theo từng dạng hoạt động sản xuất
kinh doanh sẽ có cách biểu hiện khác nhau. Việc nhận diện đúng và ngăn
cản những hành vi hạn chế cạnh tranh trong hoạt động thương mại là một
điều cần thiết.


21

1.2.3. Các yếu tố làm phát sinh hành vi hạn chế cạnh tranh trong hoạt
động nhượng quyền thương mại
1.2.3.1. Nhu cầu tối đa hóa lợi nhuận và mở rộng thị trường của các thương
nhân trong hệ thống nhượng quyền
Bất kỳ một thương nhân nào khi gia nhập thị trường đều mong muốn
“lôi kéo” được khách hàng về phía mình và thu về thật nhiều lợi nhuận. Để
mở rộng thị trường, hai yếu tố cơ bản sẽ được sử dụng chủ yếu để chi phối sự
lựa chọn của khách hàng, đó là yếu tố về giá và chất lượng sản phẩm.
Theo đó, nếu một sản phẩm có chất lượng tốt với giá cả phải chăng sẽ dễ
dàng được khách hàng chấp nhận. Việc tạo dựng năng lực thị trường có thể
xuất phát từ việc tác động vào từng yếu tố (chất lượng tăng hoặc giá giảm)
hoặc có thể vừa tăng chất lượng vừa giảm giá thành sản phẩm để tăng tính
hấp dẫn đối với khách hàng.
Trong hoạt động nhượng quyền thương mại, các bên nhượng quyền
và nhận quyền đều là những thương nhân độc lập, lại cùng kinh doanh một
loại sản phẩm theo cùng một phương thức như nhau, chính vì vậy khi mà
sản phẩm là giống nhau, nhu cầu chiếm lĩnh thị trường về phía mình lớn thì
khả năng thực hiện các hành vi cạnh tranh để giành lợi thế cạnh tranh, thu
hút khách hàng về phía mình là điều luôn luôn tồn tại trong ý thức của các

điều khoản nhất định khi giao kết hợp đồng, như: giới hạn về địa điểm kinh
doanh, hạn chế về giá, buộc bên nhận quyền phải mua các nguyên vật liệu
đầu vào từ bên nhượng quyền hay bên thứ ba được chỉ định… Xét trên bình
diện pháp luật hạn chế cạnh tranh thì những điều khoản này chính là những
điều khoản hạn chế cạnh tranh.
Về nguyên lý chung, hành vi hạn chế cạnh tranh ở một mức độ nhất
định sẽ có khả năng triệt tiêu cạnh tranh, đi ngược lại với quy luật chung
của thị trường. Tuy nhiên, trong quan hệ nhượng quyền thương mại, nếu
không thừa nhận hành vi hạn chế cạnh tranh ở một số trường hợp nhất định
sẽ làm cho các bên không dám giao kết hợp đồng nhượng quyền thương
mại. Chính vì vậy, sự tồn tại của hành vi hạn chế cạnh tranh trong một số
trường hợp nhất định sẽ giúp cho các bên trong quan hệ nhượng quyền yên



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status