Pháp luật về kiểm soát thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong hoạt động nhượng quyền thương mại ở Việt Nam - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

TRẦN PHƯƠNG THẢO

PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT THỎA THUẬN
HẠN CHẾ CẠNH TRANH TRONG HOẠT ĐỘNG
NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM

Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60380107

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. ĐẶNG VŨ HUÂN

HÀ NỘI - 2015


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân
tôi được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết và khảo sát tình
hình thực tiễn dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Đặng Vũ Huân.
Các thông tin, số liệu, các luận điểm kế thừa được trích dẫn rõ ràng.
Kết quả nghiên cứu của Luận văn là trung thực.
HỌC VIÊN

Trần Phương Thảo



2.1.2. Thoả thuận phân chia thị trường kinh doanh.................................................................. 34
2.1.3. Các thoả thuận phân phối và cung ứng độc quyền ........................................................ 39
2.1.4. Các thoả thuận mua bán cả gói......................................................................................... 41
2.1.5. Thoả thuận ấn định giá bán lại.......................................................................................... 43
2.1.6. Kiểm soát số lượng đầu vào, đầu ra của sản phẩm........................................................ 45
2.2. HẬU QUẢ PHÁP LÝ CỦA THỎA THUẬN HẠN CHẾ CẠNH
TRANH TRONG HOẠT ĐỘNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI VÀ
GIỚI HẠN KIỂM SOÁT .............................................................................. 46
2.2.1. Những hậu quả do các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trên thị trường........ 46
2.2.2. Các quy định của pháp luật về giới hạn kiểm soát ......................................................... 50
2.3. XỬ LÝ CÁC THỎA THUẬN HẠN CHẾ CẠNH TRANH TRONG
HOẠT ĐỘNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM .......... 56
2.3.1. Thẩm quyền và thủ tục xử lý các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh theo quy định của
pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam ................................................................................................ 56
2.3.2. Thực trạng xử lý các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong hoạt động nhượng
quyền thương mại .......................................................................................................................... 59
Chương 3 : ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
VỀ KIỂM SOÁT THỎA THUẬN HẠN CHẾ CẠNH TRANH TRONG
HOẠT ĐỘNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM ........... 63
3.1. MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ THỎA
THUẬN HẠN CHẾ CẠNH TRANH TRONG HOẠT ĐỘNG NHƯỢNG
QUYỀN THƯƠNG MẠI .............................................................................. 63
3.1.1. Hoàn thiện pháp luật trên cơ sở ghi nhận quy luật khách quan của cạnh tranh và tính
đặc thù của hoạt động nhượng quyền thương mại................................................................... 63
3.1.2. Hoàn thiện pháp luật phải đảm bảo tính phù hợp giữa pháp luật cạnh tranh và pháp
luật về nhượng quyền thương mại............................................................................................... 64
3.1.3. Hoàn thiện pháp luật phải đảm bảo sự phù hợp với pháp luật quốc tế....................... 65



Nhượng quyền thương mại

NQTM

Pháp luật cạnh tranh

PLCT

Sở hữu trí tuệ

SHTT

Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh

TTHCCT


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cạnh tranh là động lực phát triển xã hội, thúc đẩy đổi mới trên mọi lĩnh
vực, là nhân tố làm lành mạnh hóa các quan hệ xã hội khi Nhà nước bảo đảm sự
bình đẳng trước pháp luật của các chủ thể kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh
tế. Đồng thời, Nhà nước cũng phải có chính sách thích hợp nhằm ngăn chặn
nguy cơ làm biến dạng cạnh tranh. Nội dung quan trọng nhất của pháp luật cạnh
tranh (PLCT) là quy định về những hành vi cạnh tranh bị cấm, bị kiểm soát.
PLCT phân chia các hành vi bị cấm thành hai nhóm: nhóm các hành vi cạnh
tranh không lành mạnh và nhóm các hành vi hạn chế cạnh tranh.
Ba nhóm hành vi chủ yếu của hạn chế cạnh tranh là thỏa thuận hạn chế
cạnh tranh; lạm dụng vị trí thống lĩnh/vị trí độc quyền và tập trung kinh tế. Tuy

trong quan hệ NQTM trong mối quan hệ với PLCT.
Luật Thương mại và Luật Cạnh tranh của Việt Nam không có những quy
định cụ thể điều chỉnh các TTHCCT trong hoạt động thương mại nói chung và
hoạt động nhượng quyền thương mại nói riêng. Điều này dẫn đến những tác
động tiêu cực đối với nền kinh tế từ các hành vi TTHCCT không được kiểm soát
trên mọi phương diện và trong từng hoạt động thương mại riêng biệt.
Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu để tìm hiểu rõ hơn về các hành vi
TTHCCT trong hoạt động NQTM ở Việt Nam và việc điều chỉnh, kiểm soát nó
bằng pháp luật hiện nay như thế nào là yêu cầu có tính cần thiết. Đây cũng là lý
do mà học viên lựa chọn đề tài “Pháp luật về kiểm soát thỏa thuận hạn chế
cạnh tranh trong hoạt động nhượng quyền thương mại ở Việt Nam” để làm
Luận văn Thạc sĩ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu
Ở Việt Nam, pháp luật về cạnh tranh và pháp luật về NQTM đều là hai
mảng pháp luật tương đối mới mẻ, hiện nay đang được nhiều nhà khoa học quan
tâm và đi vào nghiên cứu. Mặc dù cùng nằm trong tổng thể pháp luật thương mại
nói chung, song hai lĩnh vực cạnh tranh và NQTM vẫn được quy định và có
những điều chỉnh riêng, đặc thù, do đó, khi đề cập đến TTHCCT trong
HĐNQTM thì đây được coi là một vấn đề khá lạ lẫm và có nhiều nội dung cần
nghiên cứu, phân tích. Cho đến nay, nghiên cứu về pháp luật điều chỉnh các
TTHCCT và hoạt động NQTM đã có các công trình như:

2


(i) Cạnh tranh và xây dựng pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam hiện nay,
Viện Nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2001;
(ii) Các vấn đề pháp lý và thể chế về chính sách cạnh tranh và kiểm soát
độc quyền kinh doanh, Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương, Nxb, Giao
thông vận tải, Hà Nội, 2002;

Bên cạnh đó, còn có công trình đi sâu vào nghiên cứu lý luận, các quy
định hiện hành, phương thức kiểm soát và những vấn đề thực tiễn về các
TTHCCT trong hợp đồng NQTM như: “Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong
hợp đồng nhượng quyền thương mại” của ThS. Hằng Nga, Nxb. Tổng hợp TP.
Hồ Chí Minh, năm 2009. Tuy nhiên, tác phẩm này có phạm vi bao quát khá rộng
các vấn đề liên quan đến TTHCCT trong hợp đồng NQTM ở cả hệ thống pháp
luật thế giới và Việt Nam, tập trung vào phân tích các điều khoản ghi nhận cụ thể
trong hợp đồng NQTM. Do đó, dựa trên cơ sở tình hình nghiên cứu này, Luận
văn sẽ kế thừa một số luận điểm nghiên cứu, phân tích chuyên sâu pháp luật về
TTHCCT trong toàn bộ HĐNQTM nói chung, tập trung vào nghiên cứu hệ thống
pháp luật và thực tiễn thi hành ở Việt Nam.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm rõ các vấn đề lý luận và thực
tiễn của pháp luật về kiểm soát thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong HĐNQTM ở
Việt Nam, từ đó, kiến nghị giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu
quả thực thi pháp luật về kiểm soát TTHCCT trong HĐNQTM tại Việt Nam.
Để đạt được mục đích nghiên cứu ở trên, Luận văn đặt ra các nhiệm vụ
nghiên cứu cụ thể như sau:
- Thực hiện nghiên cứu những vấn đề lý luận của pháp luật về kiểm soát
TTHCCT trong hoạt động nhượng quyền thương mại;
- Nghiên cứu, đánh giá thực trạng pháp luật và thực thi pháp luật về kiểm
soát TTHCCT trong HĐNQTM ở Việt Nam hiện nay, chỉ ra những bất cập, tồn
tại của hệ thống pháp luật cũng như thực tiễn quá trình áp dụng.
- Đề xuất, kiến nghị giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu
quả thực thi pháp luật về TTHCCT trong HĐNQTM ở Việt Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hệ thống các quy định pháp luật
điều chỉnh hành vi TTHCCT trong HĐNQTM được quy định trong Luật Cạnh
tranh năm 2004, Luật Thương mại năm 2005 và các văn bản liên quan như: Luật
Sở hữu trí tuệ năm 2005, Nghị định số 35/2006/NĐ-CP ngày 31/3/2006 của

pháp luật về vấn đề này nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho sự vận hành phương
thức kinh doanh NQTM, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế ở
Việt Nam hiện nay.
Luận văn có thể là tài liệu tham khảo có giá trị cho nghiên cứu, giảng dạy
và học tập về pháp luật kiểm soát TTHCCT trong HĐNQTM.

5


7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu của
luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận pháp luật về kiểm soát thỏa thuận hạn
chế cạnh tranh trong hoạt động nhượng quyền thương mại.
Chương 2: Thực trạng pháp luật về kiểm soát thỏa thuận hạn chế cạnh
tranh trong hoạt động nhượng quyền thương mại ở Việt Nam hiện nay.
Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về kiểm soát
thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong hoạt động nhượng quyền thương mại ở Việt
Nam.

6


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ
KIỂM SOÁT THỎA THUẬN HẠN CHẾ CẠNH TRANH
TRONG HOẠT ĐỘNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI

1.1. KHÁI QUÁT VỀ HÀNH VI THỎA THUẬN HẠN CHẾ CẠNH
TRANH TRONG HOẠT ĐỘNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI

nếu sự thỏa thuận ấy vượt qua giới hạn mà pháp luật cho phép. Đặc điểm của sự
thỏa thuận này là hợp đồng được thống nhất ý chí giữa các bên một cách không
công khai nhằm tránh sự phát hiện và trừng phạt của pháp luật (những thỏa thuận
ngầm trên thị trường). Trên cơ sở mối quan hệ giữa các chủ thể tham gia thỏa
thuận và tác động của những hành vi này đối với cạnh tranh trên thị trường,
người ta chia hành vi TTHCCT làm hai loại: (i) TTHCCT theo chiều ngang là
thỏa thuận giữa các chủ thể kinh doanh nằm ở vị trí ngang nhau trong quá trình
sản xuất hoặc phân phối; (ii) TTHCCT theo chiều dọc là thỏa thuận giữa các chủ
thể kinh doanh ở các khâu khác nhau của cùng một quá trình sản xuất và phân
phối lưu thông. Với mỗi hành vi TTHCCT cụ thể này, tùy theo mức độ ảnh
hưởng của nó đối với nền kinh tế, PLCT sẽ có những phương thức kiểm soát
khác nhau, nhằm đảm bảo triệt tiêu tác động tiêu cực của chúng trên thị trường.
1.1.1.2. Đặc điểm
TTHCCT là một hành vi thuộc nhóm các hành vi HCCT, do vậy, nó mang
những đặc điểm chung của các hành vi HCCT, đồng thời có những đặc điểm
riêng biệt nhằm phân biệt với các hành vi cạnh tranh khác. Nhìn dưới góc độ cấu
trúc thì đó cũng được coi là những yếu tố hợp thành một hành vi TTHCCT trên
thị trường. Cụ thể:
(i) Về chủ thể: TTHCCT diễn ra giữa các doanh nghiệp hoạt động độc lập
trên thị trường [6]. Vậy hiểu thế nào là một doanh nghiệp được coi là chủ thể
thực hiện hành vi TTHCCT? Theo Điều 2 của Luật Cạnh tranh năm 2004, doanh
nghiệp bao gồm tổ chức, cá nhân kinh doanh [4], quy định này có phần khác biệt
với quan niệm về doanh nghiệp theo Luật Thương mại năm 2005, khi luật này
chỉ doanh nghiệp chỉ có thể là tổ chức, không công nhận cá nhân có thể được gọi
là doanh nghiệp [3].
Theo PLCT, các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận có thể là đối thủ cạnh
tranh của nhau hoặc không phải là đối thủ cạnh tranh của nhau tùy thuộc vào
thỏa thuận dọc hoặc thỏa thuận ngang. Ngoài ra, các doanh nghiệp tham gia thỏa

8

cùng hành động giữa các doanh nghiệp. Sự thống nhất ở đây được hiểu là sự
thống nhất về mặt ý chí của các bên tham gia thỏa thuận. Cần phân biệt sự thống
nhất về ý chí với sự thống nhất về mục đích của các doanh nghiệp khi tham gia

9


TTHCCT. Khi thống nhất thực hiện hành vi HCCT, các doanh nghiệp có thể
cùng hoặc không cùng theo đuổi một mục đích. Các doanh nghiệp có thể thực
hiện vì những mục đích khác nhau như trường hợp: Hai doanh nghiệp A, B cùng
thỏa thuận thực hiện một hành vi HCCT, doanh nghiệp A có mục đích mở rộng
thị trường, doanh nghiệp B muốn loại bỏ doanh nghiệp C và D là đối thủ cạnh
tranh trên thị trường liên quan. Tuy không cùng mục đích, nhưng khi cùng nhau
tham gia vào TTHCCT, ý chí của hai doanh nghiệp này là thống nhất với nhau
và sự thống nhất đó gây ra hậu quả HCCT là đủ để được coi là một hành vi
TTHCCT và chịu sự kiểm soát, xử lý của cơ quan có thẩm quyền theo quy định
của pháp luật. Khi các doanh nghiệp có sự thống nhất cùng thực hiện các hành
động gây kìm hãm, bóp méo hoặc HCCT trên thị trường hàng hóa hoặc dịch vụ
một cách trực tiếp hay gián tiếp thì đã có nguy cơ làm giảm cạnh tranh trên thị
trường và hành vi đó có thể bị cấm mà không cần xem xét thỏa thuận đó đã được
thực hiện chưa, đã gây thiệt hại như thế nào cho thị trường.
Sự thống nhất cùng hành động giữa các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận
được thể hiện công khai hoặc không công khai (ngầm định, ngầm hiểu, ngầm
thực hiện giữa các thành viên tham gia thỏa thuận) hoặc nửa kín, nửa công khai.
Dấu hiệu quan trọng nhất của TTHCCT là có sự thống nhất ý chí cùng hành
động của các bên tham gia thỏa thuận để gây HCCT với những nội dung theo
quy định của pháp luật. Các hành vi giống nhau của các doanh nghiệp chưa đủ
để chứng minh có thỏa thuận giữa họ. Để xác định hành vi hoặc tập hợp các
hành vi của nhóm doanh nghiệp độc lập cấu thành TTHCCT, cơ quan có thẩm
quyền phải có đủ bằng chứng kết luận giữa họ đã tồn tại thỏa thuận chính thức

chia thị trường tiêu thụ, hạn chế nguồn cung, loại bỏ khỏi thị trường hoặc ngăn
cản các doanh nghiệp tiềm năng,… Trong những thỏa thuận này thì thỏa thuận
về giá là dễ xảy ra nhất, do các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận không phải
tăng chi phí để nâng cao chất lượng cạnh tranh mà vẫn thu được lợi nhuận siêu
ngạch. Các thỏa thuận khác cũng đồng thời được sử dụng khi số lượng các đối
thủ cạnh tranh gia tăng trong một thị trường ngày càng mở.
Theo pháp luật cạnh tranh của Việt Nam, chỉ các thỏa thuận sau đây mới
bị coi là TTHCCT, bao gồm:
- Thoả thuận ấn định giá hàng hoá, dịch vụ một cách trực tiếp hoặc gián
tiếp;
- Thoả thuận phân chia thị trường tiêu thụ, nguồn cung cấp hàng hoá,
cung ứng dịch vụ;

11


- Thoả thuận hạn chế hoặc kiểm soát số lượng, khối lượng sản xuất, mua,
bán hàng hoá, dịch vụ;
- Thoả thuận hạn chế phát triển kỹ thuật, công nghệ, hạn chế đầu tư;
- Thoả thuận áp đặt cho doanh nghiệp khác điều kiện ký kết hợp đồng
mua, bán hàng hoá, dịch vụ hoặc buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa
vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng;
- Thoả thuận ngăn cản, kìm hãm, không cho doanh nghiệp khác tham gia
thị trường hoặc phát triển kinh doanh;
- Thoả thuận loại bỏ khỏi thị trường những doanh nghiệp không phải là
các bên của thoả thuận;
- Thông đồng để một hoặc các bên của thoả thuận thắng thầu trong việc
cung cấp hàng hoá, cung ứng dịch vụ [4].
(iv) Về hậu quả: TTHCCT làm giảm sức ép cạnh tranh, làm sai lệch hoặc
cản trở cạnh tranh trên thị trường [4]. Hậu quả của TTHCCT gây ra cho thị

duy trì sự quan tâm liên tục tới doanh nghiệp của bên nhận quyền trên các khía
cạnh như: Bí quyết kinh doanh, đào tạo nhân viên. Bên nhận quyền hoạt động
dưới nhãn hiệu hàng hóa, phương thức, phương pháp kinh doanh do bên nhượng
quyền sở hữu hoặc kiểm soát; và bên nhận quyền đang hoặc sẽ tiến hành đầu tư
đáng kể vốn vào doanh nghiệp bằng nguồn lực của mình” [27]. Theo đó, vai trò
của bên nhận quyền kinh doanh trong việc đầu tư vốn và điều hành doanh nghiệp
được đặc biệt nhấn mạnh so với trách nhiệm của bên giao quyền.
Trong khi đó, Cộng đồng chung Châu Âu EC (nay là Liên minh Châu Âu
EU) lại định nghĩa nhượng quyền kinh doanh theo hướng nhấn mạnh tới quyền
của bên nhận, khi sử dụng một tập hợp quyền SHTT. Mặc dù ghi nhận vai trò
của thương hiệu và hệ thống, bí quyết kinh doanh của bên giao quyền, định
nghĩa này không đề cập tới những đặc điểm khác của việc nhượng quyền kinh
doanh. Cụ thể, EC định nghĩa nhượng quyền kinh doanh là một “tập hợp những
quyền sở hữu công nghiệp và SHTT liên quan tới nhãn hiệu hàng hóa, tên
thương mại, biển hiệu cửa hàng, giải pháp hữu ích, kiểu dáng, bản quyền tác giả,
bí quyết, hoặc sáng chế sẽ được khai thác để bán sản phẩm, hoặc cung cấp dịch
vụ tới người sử dụng cuối cùng” [27]. Nhượng quyền kinh doanh có nghĩa là
việc chuyển nhượng quyền kinh doanh được định nghĩa ở trên.
Luật Sở hữu Công nghiệp của Mêhicô có hiệu lực từ tháng 6 năm 1991
quy định: “Nhượng quyền kinh doanh tồn tại khi với một li-xăng cấp quyền sử
dụng một thương hiệu nhất định, có sự chuyển giao kiến thức công nghệ hoặc hỗ
trợ kỹ thuật để một người sản xuất, chế tạo, hoặc bán sản phẩm, hoặc cung cấp

13


dịch vụ đồng bộ với các phương pháp vận hành (operative methods), các hoạt
động thương mại, hoặc hành chính đã được chủ thương hiệu (brand owner) thiết
lập, với chất lượng (quality), danh tiếng (prestige), hình ảnh của sản phẩm, hoặc
dịch vụ đã tạo dựng được dưới thương hiệu đó” [12]. Định nghĩa này phản ánh


Như vậy, dựa trên quan điểm cụ thể của các nhà làm luật tại mỗi nước lại
đưa ra định nghĩa khác nhau về NQTM. Tuy nhiên, dựa trên bản chất được rút ra
trong các định nghĩa, có thể đưa định nghĩa chung nhất về NQTM như sau:
“NQTM là một quan hệ pháp luật được thiết lập trên cơ sở hợp đồng giữa các
bên, trong đó, bên NQTM cho phép bên nhận quyền thương mại sử dụng một
nhóm các quyền thương mại của mình mà chủ yếu là các quyền liên quan đến
đối tượng của quyền SHTT để tiến hành kinh doanh với tư cách pháp lý độc lập.
Đổi lại, bên nhận quyền phải trả phí nhượng quyền cho bên NQTM, phí này có
thể bao gồm phí nhượng quyền ban đầu và phí nhượng quyền định kỳ trả dựa
trên doanh thu hàng tháng, hàng năm của bên nhận quyền thương mại. Ngoài ra,
bên NQTM có thể ràng buộc bên nhận quyền thương mại bởi các thỏa thuận
nhằm duy trì tính hệ thống hoặc để kiểm soát hoạt động của bên nhận quyền
thương mại trên cơ sở có hỗ trợ về mặt kỹ thuật và đào tạo nhân lực cũng như
một số cơ sở vật chất cần thiết cho bên nhận quyền thương mại”.
Có thể nói, hoạt động NQTM được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác
nhau, ở những quốc gia khác nhau, hoạt động này được gọi bằng những thuật
ngữ không giống nhau, tuy nhiên NQTM luôn được xác định với những đặc
trưng cơ bản trong các vấn đề cụ thể sau:
Một là, trong quan hệ NQTM, tính chất độc lập của các bên nhượng
quyền và nhận quyền được thể hiện rõ nét. Mặc dù, có sự hỗ trợ và kiểm soát
qua lại giữa các bên, nhưng tư cách pháp lý và trách nhiệm tài chính của các bên
luôn độc lập với nhau. Theo đó, bên nhượng quyền đồng ý trao cho bên nhận
quyền quyền khai thác các nội dung chủ yếu của “quyền thương mại” và thực
hiện quyền kiểm soát đối với bên nhận quyền. Bên nhận quyền trả phí nhượng
quyền cho bên nhượng quyền và tuân thủ những quy định cũng như chịu sự giám
sát của bên này.
Hai là, sự thống nhất, đồng bộ về mặt hình thức biểu hiện đối với cách
thức tiến hành hoạt động thương mại của bên nhượng quyền và bên nhận quyền,
hay rộng hơn, trong cả hệ thống nhượng quyền là đặc điểm không thể thiếu ở

(i) Về chủ thể hoạt động NQTM: Chủ thể của hoạt động NQTM bao gồm
bên nhượng quyền và bên nhận quyền. Trong đó, bên nhượng quyền trong hoạt
động NQTM là thương nhân cấp quyền thương mại, bao gồm cả bên nhượng
quyền thứ nhất và bên nhượng lại quyền; Bên nhận quyền là thương nhân nhận
quyền thương mại để khai thác, kinh doanh, bao gồm cả bên nhận quyền thứ
nhất (bên nhận quyền sơ cấp) và bên nhận quyền thứ hai (bên nhận quyền thứ
cấp). Như vậy, một đặc trưng nổi bật về chủ thể của hoạt động NQTM đó là cả

16


hai bên chủ thể tham gia vào thỏa thuận bắt buộc đều phải là thương nhân theo
quy định của Luật Thương mại năm 2005. Sở dĩ có đặc điểm này là bởi để đáp
ứng điều kiện thực tế nhằm làm cho việc nhượng quyền có tính khả thi, bên
nhượng quyền bắt buộc phải có một hệ thống, cơ sở kinh doanh có lợi thế cạnh
tranh trên thị trường. Hệ thống kinh doanh này phải có sự trải nghiệm thị trường
đủ để tạo ra một giá trị “quyền thương mại” hợp lý và tạo niềm tin cho bên nhận
quyền. Mặt khác, dưới góc độ pháp luật, để đáp ứng yêu cầu của pháp luật, bên
nhận quyền là một doanh nghiệp độc lập về mặt pháp lý, tài chính và đầu tư,
đồng thời chấp nhận rủi ro đối với vốn bỏ ra để thực hiện việc tham gia vào hệ
thống nhượng quyền của bên nhượng quyền. Hơn nữa, NQTM là một hoạt động
đặc trưng của thương mại, vì vậy, hầu như hoạt động này chỉ dành riêng cho các
thương nhân.
Pháp luật thương mại Việt Nam chỉ ra các đối tượng có thể trở thành chủ
thể của một quan hệ NQTM, bao gồm: Bên nhượng quyền, bên nhận quyền, bên
nhượng quyền thứ cấp, bên nhận quyền sơ cấp và bên nhận quyền thứ cấp
(khoản 1, 2, 3, 4, 5 Điều 3 Nghị định số 35/2006/NĐ-CP) [8]. Theo đó, hoạt
động NQTM có thể được thực hiện dưới nhiều hình thức. Hình thức cơ bản nhất,
tồn tại các bên nhượng quyền và bên nhận quyền; hình thức phức tạp hơn, các
bên nhận quyền sơ cấp có thể được thực hiện việc nhượng lại quyền thương mại

hoạt động cùng liên quan tới quyền SHTT. Trong bối cảnh chung là chưa có một
khái niệm chính thức nào về “quyền thương mại” thì nội dung của “quyền
thương mại” sẽ phụ thuộc vào sự giải thích và thỏa thuận của các bên trong từng
quan hệ NQTM cụ thể. Tóm lại, đối tượng của HĐNQTM là một chỉnh thể thống
nhất bao gồm nhiều yếu tố kết hợp liên quan đến quyền SHTT, đặc biệt đối với
tên thương mại hoặc nhãn hiệu hàng hóa, dịch vụ thuộc sở hữu của thương nhân
nhượng quyền.
Tuy nhiên, tất cả những đối tượng kể trên là những tài sản vô hình. Vì
vậy, rất khó để kiểm tra chất lượng cũng như giá trị trên thực tế. Có thể yêu cầu
bên nhượng quyền cung cấp thông tin để bên nhận quyền đánh giá, song cũng
không có cách gì kiểm soát được hành vi của bên nhượng quyền hay các bên
nhận quyền khác sau khi ký hợp đồng NQTM khi những hành vi này ảnh hưởng
đến uy tín của cả hệ thống nhượng quyền. Việc nhượng quyền thành công hay
không phụ thuộc vào việc bên nhượng quyền có quảng cáo hay phát triển hệ
thống nhượng quyền hay không.

18


(iv) Tính chất của hoạt động nhượng quyền: NQTM mang tính đồng bộ và
tính hệ thống. Đây là đặc trưng không thể thiếu của quan hệ NQTM. Mục đích
chính của bên nhượng quyền, khi chấp nhận nhượng lại “quyền thương mại” của
mình cho người khác, sau đó tiếp tục cùng kinh doanh với “quyền thương mại”
ấy là để mở rộng hệ thống sản xuất, phân phối hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ.
Sở dĩ, có thể gọi đó là hệ thống, bởi hầu hết các cơ sở nhượng quyền dù ở vị trí
địa lý nào đều phải đạt tiêu chuẩn theo một mô hình đã được thiết kế trước với ý
tưởng của bên nhượng quyền. Sự giống nhau trong chất lượng và hình thức của
hàng hóa, dịch vụ, cách thức phục vụ của nhân viên khi cung ứng các sản phẩm
trên thị trường tạo nên tính hệ thống của quan hệ NQTM. Bằng cách này hay
cách khác, những đặc trưng cơ bản nhất của hàng hóa, dịch vụ và cách thức cung


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status