TRƯỜNG
ĐẠI
HỌC NGOẠI
THƯƠNG
KHOA
KINH
TẾ VÀ
KINH
DOANH
QUỐC TẾ
CHUYÊN NGÀNH
KINH
TÊ ĐÔI
NGOẠI
£Q
KHÓA
LUẬN
TỐT
NGHIỆP
Đề tài:
HOẠT
ĐỘNG NHƯỢNG
QUYÊN THƯƠNG
MẠI
TẠI VIỆT
NAM
MỘT SÔ VÂN ĐÊ TỔN
TẠI
&
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN
4
1.1.
Định nghĩa 4
1.2.
Nguồn
gốc và quá trình phát
triển
8
1.3. Phân
loại
10
Ì.3.Ì.
Theo bản
chất
của
hoạt
động nhượng
quyền
lo
1.3.2.
Phân
loại
theo
cách
thức
tiến
hành nhượng
quyền
11
1.4. Ưu
quyền
thương mại
với
chuyển
giao
công
nghệ
22
1.5.3.
Nhượng
quyền
thương mại
với
Li-xăng 23
1.5.4.
Nhượng
quyền
thương mại
với
đại
lý thương mại 25
1.5.5.
Nhượng
quyền
thương mại
với
ủy thác mua bán hàng hóa 26
1.6. Các văn bản pháp
luựt
điều chỉnh Nhượng quyền thương mại ở
ĐỘNG
NHƯỢNG
QUYỀN
THƯƠNG
MẠI
TẠI VIỆT
NAM 35
2.1. Tổng
quan
về
hoạt
động nhượng quyền thương mại
tại
Việt
Nam35
2.1.1.
Hệ
thống
nhượng
quyền
thương mại của các
doanh
nghiệp
Việt
Nam
36
2.1.2.
Hệ
thống
nhượng
tồn tại
50
2.2.1.Tồn
tại
về mặt Pháp lý
50
2.2.1.1
Nhũng quy
định
chưa hợp
lý.
51
2.2.1.2.
Những quy
định
chưa được đê cập
55
2.2.1.3.
Những quy
định
đôi
kháng
giữa
các văn bản pháp
luật
56
2.2.1.4.
Những quy
định liên
quan đèn vân đê sở hữu
chế
trong
khả năng
tời
chính
và quản
lý
hệ thống của các
doanh
nghiệp Việt
Nam 61
CHƯƠNG
HI:
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỀN
HOẠT
ĐỘNG
NHƯỢNG
QUYỀN
THƯƠNG
MẠI
TẠI VIỆT
NAM 66
3.1. Nhóm
giải
pháp từ phía nhà nước
66
3.1.1.
Hoàn
thiện
môi trường pháp lý
3.2.1.
Giải
pháp
đối
với
bên
nhượng
quyền
71
3.2.1.1.
Xây
dụng
và
phát
triển thươìig hiệu,
bào hộ nhãn
hiệu
72
3.2.1.2.
Phát
triển đội
ngũ nhân sự cho
hoạt
động nhượng quyên
73
3.2.1.3.
Nghiên cứu soạn
thảo
hợp đồng Nhượtig quyển thương
mại
79
3.2.2.3.
Phân
tích,
đánh
giá thị
trường
80
3.2.2.4.
Hợp
tác cht
chẽ
với
bên nhượng quyển
80
KÉT
LUẬN
83
TÀI
LIỆU
THAM KHẢO 85
Ấm nqãư ngũ
c/^võ
riẴỹ fẨr
^
7]
iị
'* ịầĩi
LỜI
MỞ ĐẦU
trên
khắp
thế
giới.
Ngày
nay,
hình
thức
kinh
doanh
này đã được sử
dụng
rộng
rãi,
phổ
biến
ữ châu Âu, châu Mỹ và đang phát
triển
mạnh
mẽ ữ các
quốc
eia
châu Á.
Tại Việt
Nam, nhượng
quyền
thương mại mới chỉ
xuất
hiện trong
hơn lo
gia
nhập
WTO và
Luật
thương mại năm
2005
được ban hành.
Tuy
nhiên,
tại
Việt
Nam, do vẫn là một hình
thức
kinh
doanh
khá mới mẻ nên
hoạt
động
nhượng
quyền
thương mại còn một số vấn đề
tồn
tại
trên các phương
diện
như
pháp lý, môi trường
kinh
doanh,
triển
viết
quyết
định
chọn
đề tài:
"Hoạt
động
nhượng
quyền
thương mại
tại Việt
Nam - Một số vấn đề
tồn
tại
&
Giải
pháp phát
triền"
đê nghiên cứu
trong
khoa
luận
của mình
với
hy
vọng
sẽ đưa
ra
cái nhìn cụ
thể
nhượng
quyền
thương mại đã được áp
dụng
thành công trên
thế
giới
từ
những
thập
niên
60,
70 nên có khá
nhiều
đề tài nghiên
cứu,
sách
báo, tạp
chí
và các
website
về nhượng
quyền
thương mại trên phạm
vi thế
giới.
Tuy nhiên
tại
Việt
Nam, đề tài này vẫn còn
mới dành cho các
doanh
nghiệp
Việt
Nam"
Ì
của
TS Lý Quí
Trung.
Ngoài
ra,
lĩnh
vực này còn được tìm
hiểu trong
đề tài của các
giảng
viên,
sinh
viên các trường
đại
học cả nước và
trong
một số sách, báo
tạp
chí
chuyên ngành.
3.
Mục đích nghiên cứu
- Hệ
thống
- Đề
xuất
một số
giải
pháp nhằm
khấc
phục
những
mặt
tặn
tại
và nâng cao
hiệu
quả ứng
dụng
hình
thức
nhượng
quyền
thương mại
tại Việt
Nam
trong
thời
gian
tới.
4. Đối
tượng và phạm
vi
nghiên cứu
tại
các
doanh
nghiệp
Việt
Nam,
kết
họp phân tích
hoạt
động nhượng
quyền
thương mại của
doanh
nghiệp
nước
ngoài.
Đề
tài
không đi sâu nghiên cứu một hệ
thống
cụ
thể
nào.
5.
Phương pháp nghiên cứu
Đe
đạt
được mục đích nghiên
cứu,
tác đã sử
từ
các
cơ
quan
chính
phủ,
doanh
nghiệp
và từ các phòng vấn cán bộ phụ trách
lĩnh
vục
nhượng
quyền
của các
doanh
nghiệp.
- Phương pháp phân
tích,
tổng hợp,
so sánh
Dựa trên
nguặn
tài
liệu
thu thập
được,
tác
giả
tiến
hành
Ngoài
phần
mở đầu và
kết
luận,
kết
cấu của
khoa
luận
gồm 03 chương:
Chương
ì:
Cơ sở
lý luận về
nhượng
quyền
thương mại
Chương
li:
Một
so
vấn đề
tồn tại trong hoạt
động nhượng quyền thương
mại
tại Việt
Nam.
Chương IU: Giải pháp
phát triển
nhượng
thương
hiệu,
Từ
khi ra đời
cho đến
nay
có
rát nhiêu
định
nghĩa
về
phương
thức
kinh
doanh
này do các cơ
quan,
tố
chức,
hiệp
hội
hoặc
các
văn bản
luật
các
nước
đưa
ra.
Dưới
là
một mồi
quan
hệ
liên
tục,
một
thoa thuận
hoặc
một
cách
gọi
khác
mà
trong
đó hợp
đồng hoặc
bán
chào hàng
đã
quy
định,
hoặc
người
nhượng
quyền
đã
hứa
hoặc tuyên
bố
phân
phoi
những
hàng
hoa
dịch
vụ
gắn
với
nhãn hiệu
cắa
bên
nhượng
quyên;
(2)
Bên
nhượng
quyền
sẽ có
sự
kiểm soát
hay có
quyển kiêm soát
ở
một
mức
độ đáng
kể đổi với
phương
thức
sẽ
phải
trả
một
khoản
tiền
hoặc
cam
kết trà
một
khoản tiền
cho bên
nhượng
quyền hoặc
cho
người
đại
diện
cắa
bên
nhượng
quyển.
Định
nghĩa
trên
khá
chi
tiết
và chù
yếu
Association-
IFA):
Nhượng quyền thương
mại là mồi
quan
hệ
liên
tục
trong
đó bên bán
ỷranchise
cấp
cho bén
mua/ranchise quyền
được
kinh doanh
(sản
phẩm/dịch
vụ cắa
4
doanh
nghiệp),
cộng
với
những ho
trợ
về
tổ
chức,
đào
người
bán íranchise
không châm
dứt
sau
khi
hợp
đồng nhượng
quyền
ký
kết
mà liên
tục
được
duy trì
trong
suốt
quá trình
hoạt
động của
các đơn
vị
nhận
quyền
và
chỉ
chởm
dứt
cho đến
khi
trên
sự
tồn
tại
và
phát
triển
kinh
doanh.
*
Theo
định
nghĩa
của
Luật
thương mại
Việt
Nam
2005
- văn bản
luật
chính
thức
điều
chỉnh
hoạt
động nhượng
quyền
thương mại
tại
hoa,
cung
ứng
dịch
vụ
theo
hai
điều kiện chính
như
sau:
Ị.
Việc
mua bán hàng
hoa,
cung ứng
dịch
vụ được
tiến
hành
theo cách thức
tô
chức kinh
doanh do
bên
nhượng
quyền
quy
định
và được gắn
với
Nam
2005
Định
nghĩa
này
cũng
bao quát các
nội
dung
đã
được
đề
cập
ở các
định
nghĩa
trên về
hoạt
động nhượng
quyền
thương
mại.
Điểm
khác
biệt
lớn
nhởt
là
Luật
thương
mại"
bao
gôm
một,
một
so
hoặc toàn
bộ
các
quyền
sau đây:
a) Quyền được Bén nhượng
quyền
cho
phép và yêu cầu Bên nhộn quyền tắ
mình
tiến
hành công
việc kinh
doanh cung cấp hàng hoa hoặc
dịch
vụ
theo
một hệ
thống
do Bên nhượng
quyển
quy
định
và được gắn
quyền thương
mại
chung;
ả) Quyền được Bên nhượng
quyền
cấp cho Bển nhận quyền quyền thương
mại
theo
hợp đong
phát triển quyền thương
mại.
"
Từ
những
định
nghĩa
trên,
chúng
ta
có
thể
khái quát nhượng
quyền
thương
mại
có 4 đặc
điểm
sau:
Thứ
nhất,
và được
hưởng
lợi
ích từ thương
hiệu
của
người
nhượng
quyền
trong
một
khoảng
thời
gian
nhứt
định.
Chúng
ta
thường sử
dụng
thuật
ngữ "nhượng
quyền"
nhưng
thuật
ngữ
'cứp quyền"
mới mô
tả
chính xác hơn
Tương
tự
như
vậy,
trong tiếng
Anh.
thuật
ngữ
"huy a íranchise" (mua
íranchise)
tuy
rứt
thông
dụng
nhưng
thuật
ngữ chính
xác hơn có
lẽ phải
là
'"lease
a íranchise" (thuê
íranchise).
Trên
thực
tế người
ta
thường
chỉ
tiến
hiệu
chưa có thành công
hay
uy
tín đặc
biệt.
Thứ
hai,
trong
quá
trình tiến
hành phương thức kinh doanh nhượng
quyền,
bên nhượng
quyền
có sự hỗ
trợ
và
giám
sát
đáng kể
về
nhiều
phương
diện
đối
vi
bên nhận
quyển.
Yêu
hệ
thống.
Bởi
chì cần một mắt xích
trong
hệ
thống
vận hành không
theo
quy
định,
một đơn vị
6
nhận quyền cung
cấp sàn phẩm,
dịch
vụ không
đạt
tiêu
chuẩn cũng
có
thế
gây ra
cho
khách hàng
những
cảm
nhận
và đánh giá
sai lệch
hệ
kinh
doanh
toàn
diện,
trong
đó các cam
kết
đưa
ra
không đơn
thuớn
chỉ
bao gồm
sản
phẩm,
dịch
vụ,
nhãn
hiệu
hay khu vực
kinh
doanh
mà còn bao gồm toàn bộ mô hình
kinh
doanh
như quy trình
hoạt
động,
công
cam
kết
này được
thực hiện hiệu
quà và nghiêm
túc,
bên nhượng
quyền
phải
cung cấp những
hỗ
trợ
cớn
thiết
đồng
thời
giám
sát
chặt
chẽ
tới
hoạt
động
của
bên
nhận
quyền.
Cuốn sách
"Pranchising
and
mức độ "đáng
kể"
có
thế
bao gồm
những
hành động hỗ
trợ,
kiểm
soát
khác
nhau
nhưng có
thể hiểu rằng,
trong
hợp đồng
kinh
doanh
nhượng
quyền,
ta
có
thể
tìm
thấy
những
hình
thức
hỗ
trợ
động thuê
mượn.
Người
nhượng
quyền
cho
người nhận quyền
thuê
sử
dụng
thương
hiệu,
nhãn
hiểu,
công
thức
kinh
doanh
của
mình,
đổi
lại
sẽ
nhận
được
một
khoản phí
tù
người
nhận quyền.
này
với
các hình
thức
gớn
giống
khác như
đại
lý,
chi
nhánh thương
mại, chuỗi
cửa
hàng.
Tuy
trong
hệ
thống
nhượng
quyền
thương mại có sự hỗ
trợ
và giám sát một cách đáng kể của bên nhượng
quyền
cho
bên
nhận quyền
nhưng
theo
luật
niệm
nhượng
quyền
thương mại
(íranchise) đã
xuất hiện
từ
rất
lâu, vào
khoảng
thế
kờ 17-18
tại
châu Âu. Từ
"íranchise" có
nguồn
gốc
từ
tiếng
Pháp cổ và có
nghĩa
là
nắm
giữ
một
quyền
hoặc
đặc
quyền
nào
bia hay
xây
đường.
Đen
những
năm
1840,
một
số
nhà ủ
bia
Đức cho phép một sổ quán
trọ
được
bán
loại
bia
do mình làm
ra.
Đây chính là
điểm
khơi đầu cho
loại
hình nhượng
quyền
thương
mại
mà chúng
ta biết
đến
hợp đồng nhượng
quyền
kinh
doanh
đầu
tiên
cho
đối
tác.
Theo hợp đồng
này,
nhà máy
trao
quyền
phân
phối sản
phẩm cho
những
đại
lý
muốn
bán
sản
phẩm của
Singer
tại
những
khu vực
địa
lý
thời
gian
dài
sau đó,
vào
khoảng
đầu
thế
kờ
20,
các công
ty lọc
dầu và
các hãng chế
tạo
sản
xuất
ô tô đã liên
tiếp
trao
quyền
bán sàn phẩm của mình đi
khấp
nơi.
Nhưng ờ
thời
điểm
này,
khái
niệm
kết
thúc),
với
sự
ra đời của
hàng
loạt
hệ
thống
nhà
hàng,
khách
sạn
và
các hệ
thống
phân
phối theo
kiểu
bán
lẻ.
Từ
những
năm
60,
nhượng
quyền
thương
mại
trờ
doanh
thức
ăn
nhanh,
khách sạn-nhà hàng đã góp
phần
"truyền
bá" và phát
triển
nhượng
quyền
thương mại trên
khắp
thế
giới.
Nhận
thấy
lợi
ích,
hiệu
quà của phương
thức
kinh
doanh
này,
nhiều
quôc
gia
đã có các chính sách
khuyến
cũng
ban hành các chính sách
thúc
đằy,
phát
triển
hoạt
động nhượng
quyền
thương
mại, khuyến
khích và hỗ
trợ
cho doanh
nghiệp
trong
việc
bán íranchise ra nước ngoài.
Nhiều
trung
tâm học
thuật,
nghiên cứu chính sách về nhượng
quyền
thương mại của các chính
phủ,
tư
nhân
lằn lượt
ra
kinh
tế
quốc
dân là
quan
trọng
và là xu
thế
tất
yếu của toàn cầu
hóa,
vì vậy
nhiều
chính sách,
giải
pháp
phát
triển
kinh
tế
liên
quan
đến nhượng
quyền
thương mại đã được nghiên
cứu,
ứng
dụng
và
khuyến
phương
thức
nhượng
quyền,
thúc đằy và phát
triển
việc
bán íranchise ra bên
ngoài
quốc
gia. Singapore
cũng
có các chính sách tương tự nhằm thúc đằy, phát
triển
hoạt
động nhượng
quyền
trong
lĩnh
vực đào
tạo,
y
tế,
du
lịch,
khách sạn-nhà
hàng
Kể
từ
năm
mục tiêu hỗ
trợ
và thúc đằy sự
phát
triển
của nhượng
quyền
thương mại đã được thành
lập
như Hội đồng Nhượng
quyền
Thế
giới
(World Franchise Council,
ra
đời
vào năm
1994, với
thành viên là
các
hiệp
hội
íranchise cùa
nhiều
quốc
gia)
và
Hiệp
hội
Nhượng
eia
đã
được
thực hiện
như:
-
Tổ
chức
các
hội
chợ
ửanchise
quốc
tế.
-
Xây
dựng
niên giám íranchise
khu
vực,
và
trên
toàn
thế
giới.
- Hợp tác
xuất
bản các ấn phẩm chuyên ngành, các
website
để
của
hoạt
động nhượng
quyền
Theo
tiêu chí phân
loại
này,
nhượng
quyền
thương mại được phân thành
hai
loại:
nhượng
quyền
phân
phối (Product
distribution
Franchise)
và nhượng
quyền
công
thức
kinh
doanh
(Business
íòrmat
Franchise).
• Nhượng
quyền
dụng
tên nhãn
hiệu,
thương
hiệu,
biểu
tượng,
logo,
khau
hiệu,
và phân
phối
sàn phẩm hay
dịch
vụ của bên nhượng
quyền
trong
một
phạm
vi
địa
lý và
trong
một
thời
hạn
nhất
định
thì
bên
thức
nhượng
quyền
này thường được sử
dụng
trong
việc
phân
phối
nước
ngằt (Coca-cola, Pepsi),
các
đại
lý bán ô tô
(Ford
motor
Company),
các
trạm
xăng dầu
(Exxon
Mobile).
Tuy mô hình nhượng
quyền
phàn
phối
được sử
dụng
khá phổ
biến
xuất
sàn
phẩm,
dịch
vụ
theo
chỉ
dẫn
của
bên nhượng
quyền
và bán
những
sản
phẩm đó
dưới
LO
nhãn
hiệu
của
bên nhượng
quyền.
Bên nhượng
quyền
sẽ
chuyến
giao
cho bên
nhận
quyền bí
Thực
chất
nhượng quyên
công
thức
kinh
doanh
là
bước phát triển
cao hơn của nhượng
quyền
phân
phôi
sản
phẩm, nó
thể
hiện
đầy đủ
nhất
các bản
chất
cũng
như đặc
điểm
của các mô hình
nhượng
quyền
thương mại
nổi
tiếng
thức
tiến
hành nhượng
quyền
•
Sạ/
lý/ranchise
độc
quyền (Master Franchise)
- Bên nhượng
quyển:
là chủ
thương
hiệu.
- Bên nhận
quyền:
còn được
gọi
là
đại
lý íranchise độc
quyền,
thường
là
các
công
ty
hay
tổ
chức
quyền
kinh
doanh
trong
phạm
vi
khu vực địa lý
rộng,
có
thể
là một
quốc gia
hoặc
một khu
vực. Đại
lý
íranchise độc
quyền
được
chủ
động mờ thêm
nhiều
các đơn
vị
nhượng
quyền
đơn
lẻ
mà không
phải
kiểm
soát
dưới
hình
thức
nhượng
quyền
trực
tiếp,
riêng
lẻ
hoặc
nhượng
quyền
phát
triển
khu vực nhỏ
hơn và
trực
tiếp
ký
kết
hợp đồng
với họ.
Đại
lý íranchise độc
quyền sẽ
đại
diện
chủ
Đại
lý íranchise độc
quyền
có trách
nhiệm
và
phải
cam
kết
với
chủ thương
hiệu
về số
lượng
đơn
vị
nhận
quyền
tối
thiểu
được thành
lập
trong
một
khoảng
thời
aian
nhất
định,
nếu không
- Phí nhượng
quyền:
Phí nhượng
quyền
ban đầu cao hơn gấp
nhiều
lần
so
vói phí nhượng
quyền
riêng
lẻ,
trực
tiếp.
Đối với
phí
nhượng
quyền
thu
được
từ
bên
nhận quyền
thứ cấp,
chủ
thương
hiảu
và
đại
lý íranchise độc
hỗ
trợ
phát
triển
hả
thống
trong
khu vực
mình
quản
lý.
-
Thời gian
hợp
đồng:
thường đủ dài
khoảng
từ 10 đến 20 năm để
đại
lý
íranchise độc
quyền
có
thể
phát
triển
được
hết
hả
thống,
thống
nhượng
quyền sang
cho
đại
lý íranchise độc
quyền
trong
phạm
vi
lãnh
thổ đại
lý íranchise độc
quyền quản
lý.
-
Hạn
chế: Đại
lý íranchise độc
quyền
phải
đầu
tư một
khoản vốn
lòn để mua
quyền
nên thường
chịu
áp
lực phải thu hồi
quy
định.
Chính vì vậy,
trong
một
số
trường
hợp,
nhàm
thu
hút các
đối
tác nhận quyền
thứ cấp,
họ
cỏ
thể
bỏ
qua
các
tiêu
chuẩn
về
chất
lượng
hoặc
nới lỏng
các quy
định
về
tác
nhận quyền
thích
hợp. Đối
tác này
phải
hội
đủ
những
điều
kiản
như khả
năng
tài
chính
lớn
mạnh,
am
hiểu thị
trường
địa
phương,
có
kinh
nghiảm
trong
lĩnh
vực
kinh
doanh
- Bẽn nhận
quyền:
thường
là
các công
ty lớn,
có
tiềm lực
tài
chính
mạnh,
có
kinh
nghiảm
kinh
doanh
và am
hiểu thị
trường.
12
- Đặc
điểm:
Bên
nhận quyền
được độc
quyền
kinh
doanh
trên một phạm
vi
dịch
vụ hỗ
trợ
thay thế
chù thương
hiệu
cho
bất
kỳ
đối
tác nào.
Bên
nhận quyền
thường
phải
phát
triển
hệ
thống
đến một số
lượng
cụ thê
trong
một
thời
gian nhất
định,
nếu không
sẽ
mất
triển
khu vực
có
thể
xin
chuyển sang
hợp đồng nhượng
quyền
độc
quyền.
- Phí nhượng
quyển:
Phí nhượng
quyền
ban đầu tương
đối
cao hơn so
với
nhượng
quyền
trực
tiếp,
riêng
lẻ
nhưng
thấp
hơn so
với
phí
đại
theo
đó,
bên
nhận quyền
ký
kết
hợp đồng
trực
tiếp
với
bên nhượng
quyền cho
từng
cơ sờ
nhượng
quyền
và không thông qua
trung
gian.
Hình
thức
này phù hợp
khi
bên
nhượng
quyền
và
đối
tác
tiềm
động
của
bên
nhận quyền
với chi
phí
thấp
hơn,
hiệu
quả cao hơn so
với
hai
hình
thức
trên.
Một
số hệ
thống
nhượng
quyền
theo
hình
thức
này
là
:
Hilton
Hotel,
Phở
24,.
Bên
nhận quyền chỉ
có
thể
sở hữu một đơn
vị nhận quyền
duy
nhất,
không được phép nhượng
quyền
lại
cho
người
khác và không được
tự
ý mở
thêm
nếu
không có
sự
đồng ý
của
bên nhượng
quyền
13
-
Lợi
thế:
Bên nhượng
quyền
đơn
vị
nhỏ
lẻ
nên hình
thức
này đòi
hỏi
nhượng
quyền
phải
thiết
lập
một
đội
ngũ nhân sự khá
lớn,
vờng
mạnh,
có trình độ
để chuyên trách
việc
kiểm
soát
hệ
thống.
- Mức
phí
nhượng
quyền:
(Joint Venture)
Liên
doanh
là hình
thức
nhượng
quyền
thương
mại,
theo
đó,
chủ thưuơng
hiệu
sẽ liên
doanh
với
một
đối
tác
địa
phương ờ nước ngoài và liên
doanh
này sẽ
đóng
vai
trò của một đai lý
ờanchise
độc
quyền
thay
ở nước ngoài.
-
Đặc
điểm:
Hai
bên góp
vốn
vào
liên
doanh.
Thông
thường,
chủ
thương
hiệu
sẽ
góp vốn
bang
thương
hiệu nổi tiếng,
bí
quyết
kinh
doanh
và một số lượng
tiền
mặt,
phía
đối
tác nước ngoài đóng góp chủ yếu bàng
có
thể
tiếp
cận
và nấm
bắt thị
trường
ờ nước ngoài dễ dàng
hơn,
tận
dụng
được
nguồn vốn
do
đối
tác góp vào liên
doanh,
trong khi
vẫn
giờ
quyền
kiểm
soát,
đặc
biệt
được
chia
lợi
nhuận
nhiều
doanh
(vì nếu
chọn
nhầm
đối
tác,
cả
thị
trường xem như bế
tắc),
rủi
ro tài
chính
khi
liên
doanh
thất
bại;
quyền
kiểm
soát
trong
liên
doanh;
trách
nhiệm
và
quyền
hạn mỗi
bên
vị
thế
của
mình
trong
sự phát
triển
kinh
tế
của
mỗi quốc
gia.
Nhượng
quyền
thương
mại là
lựa
chọn
hàng đầu cho
nhiều
doanh
nghiệp
bời
đây
là
phương
thức
kinh
doanh
có
kinh
doanh của minh
khi
nó đã được
chứng minh là
thành
công.
Khó khăn
lớn
nhất
thường liên
quan
đến ngân sách hay
khả
nâng
tài
chính,
vì
doanh
nghiệp
nào dù thành công đến đâu
cũng
có một
giới
hạn,
đặc
biệt
là
khi
muốn
kinh
doanh
sẽ
giúp
doanh
nghiệp
chủ thương
hiệu chia
sẻ
những
khó khăn trên
với
bên
nhớn
quyên.
Và
khi
mô hình
kinh
doanh
của
doanh
nghiệp
được nhân
rộng
nhanh
chóng
thì giá
trị
của công
phải
bỏ vốn
mà
lại
bảo hộ và
quảng
bá được thương
hiệu
của minh
- Tăng doanh
thu:
Chủ thương
hiệu
hoàn toàn có
thể cải
thiện
được
doanh
thu
cùa mình
bằng
phương
thức
kinh
doanh
này
bời
thông qua
việc
nhượng
khoản
phí hành
chính,
đào
tạo,
chuyển
giao
công
thức
kinh
doanh cho
bên
nhớn quyền.
+ Phí hàng tháng
(monthly
fee):
là khoản
phí mà bên
nhớn quyền sẽ
phải trả
cho
việc
duy trì sử
dụng
nhãn
hiệu,
thương
hiệu
của bên nhượng
quyền
là một
khoản
phí cố định
theo
thoa
thuần
của
hai
bên
hoặc
tính
theo
phần
trăm trên
doanh
số
của bên
nhần quyền
và thường dao động
trung
bình từ 3-6%
tuy
vào
loại
sản
phẩm, mô hình và
lĩnh
vực
kinh
doanh.
phải
mua một số nguyên
liệu
đặc thù do mình
cung
cấp,
vừa đê đảm
bảo
tính đồng bộ của
sản
phẩm hay mô hình
kinh
doanh,
vừa
mang
lại
một nguôn
lợi
nhuần
phát
triển
song song
với
lợi
nhuần
thu
được
từ
hoạt
động
thức
nhượng
quyền
đều
có ưu
thế
mua hàng giá
rẻ
hơn do mua
với
số
lượng
lớn
hơn (để phân
phối
cho các
cửa
hàng
nhần
nhượng
quyền
trong
một
số
trường
hợp).
í*Đối
với
bên
nhận quyển
là
30-65%.
Nói khác
đi,
xác
suất
rủi
ro
của các
doanh
nghiệp
mua
íranchise
thấp
hơn
rất nhiều
so
với
các
doanh
nghiệp
mới
bắt
đầu
thử
nghiệm
mô
hình
kinh
doanh
thời
gian,
tiền
của để có được sự
tin
cầy,
yêu mến
của
khách hàng
đối với
sản
phẩm,
dịch
vụ mà
cửa
hàng
cung cấp.
Nhiều
cuộc thử nghiệm
mù đã
chứng minh
ràng
người
tiêu dùng bị ảnh
hưởng
rất lớn bời
thương
hiệu,
thầm
chí hơn cả
thực
tế
Coca vẫn là thương
hiệu
được
ưa
chuộng
hàng đầu
Tương
tự đối
vắi
cuộc thử nghiệm
về vị của
sản
phẩm bơ
lạc
đắt
tiền
và
loại
rẻ
tiền.
Người
ta
bí mật bỏ bơ
lạc
rẻ
tiền
vào hũ
vắi
nhưng đựng
trong
hũ có thương
hiệu
nổi
tiếng
là
ngon hơn.
[l,tr.20]
Hai
ví dụ trên đã
chứng minh
sức
mạnh
của thương
hiệu,
nhãn
hiệu trong
quyết
định mua hàng của khách
hàng.
Nói cách
khác,
khi gia
nhập
vào một hệ
thống
nhượng
quyền
có thương
đặt phòng
(reservation
system).
Thật
vậy,
khách hàng có
thể
đặt
phòng thông qua văn phòng
đật
phòng
trung
tâm của
tập
đoàn
chủ
thương
hiệu
hay
tại
bất
cứ khách sạn nào có cùng thương
hiệu trong
hệ
thống.
Do đó,
đổi vắi
một khách sạn mắi thành
lập
thì
20%.
Nghĩa
là một khách sạn đang
kinh
doanh
độc
lập
vắi
công
suất
chiếm dụng
phòng là 50% thì
khi
mua íranchise
tỉ lệ
này sẽ tăng lên
70%.[1,
tr.20
]
- Thuận
lợi
trong việc
huy động
vốn:
Do xác
suất
thành công cao hơn nên các
ngân hàng thường
tin
tường
lãi
suất
thấp.
Như
vậy,
chủ thương
hiệu
thường đóng
vai
trò cầu
nối
giúp
người
mua íranchise vay
tiền
ngân hàng
hoặc
chính mình đứng ra cho vay,
nhằm phát
triển
và nhân
rộng
mô hình
kinh
doanh.
Tuy
nhiên,
điều
này chưa xảy ra
17
trước và sau
khi
cửa hàng nhượng
quyền
khai
trương. Đây là mầt
lợi
thế lớn,
đặc
biệt
đối với
những người
mới
tự
kinh
doanh lần
đầu. Trong
thời
gian
trước
khai
trương,
đối
tác mua íranchise thường được hỗ
trợ
về
đào
tạo,
thiết
kế, chọn
nhượng
quyền
không
phải
tốn
nhiều chi
phí
quảng
cáo cho thương
hiệu
như
đối
với
trường
hợp
đứng
ra
kinh
doanh
đầc
lập.
Chi phí
quảng
cáo thường được chủ thương
hiệu
và
tất
cả các đơn vị
trong
hệ
nhiều
nước nên
người nhận quyền
có
thể
yên
tâm
kinh
doanh
hàng
hoa, dịch
vụ
dưới
sự bảo hầ của pháp
luật.
Hơ
nữa,
khi
có
ai
đó
vi
phạm
quyền
sờ hữu trí
tuệ
liên
quan
đến sản phẩm của hệ
thống
chính. Do
đó, người
nhận quyền
tương
lai
phải
kiểm
tra
trước
khi
quyết
định ký vào hợp đồng nhượng
quyển.)
•Dơ/ với
xã hội và người
tiêu
dùng
- Tạo ra
nhiều việc
làm: Khi các
doanh
nghiệp
mới mở ra
dưới
hình
thức
nhượng
quyền
thương mại sẽ có nhu cầu
tuyển
hội,
và nếu
kinh
doanh
có
lãi,
họ sẽ đóng góp một
phần
thu
nhập
đáng kể vào ngân sách nhà nước thông
qua việc
nộp
thuế.
- Góp
phần
chuyển
giao
công
nghệ,
học
hỏi kiến thức, kinh
nghiệm
kinh
doanh
từ
các nước phát
triển.
Thông thường các thương
hiệu lớn
có cơ
hội
tiếp
cận
công
nghệ
tiên
tiến,
học
hỏi
phương
thức
quản
lý
của
các nước phát
triển.
- Tạo cơ
hội
cho
người
tiêu dùng
tiếp
cận
sàn phẩm
của
các thương
hiệu nổi
tiếng:
các cửa hàng nhượng
kém gì ờ chính
hãng.
1.4.2.
Nhược
điểm
Bên
cạnh
những
ưu
điểm
đã phân tích ạ
trên,
phương
thức kinh
doanh
nhượng
quyền
còn
chứa
đựng một
số
nhược
điểm.
•
£>ớ/ với bên
nhượng
quyền
- Nguy cơ giảm uy
tín
về
hiệu,
các bên
tham
gia
hệ
thống
nhượng
quyền
cần
phải
tuân
thủ
nghiêm
ngặt
các
quy
định về
chất
lượng
sản
phẩm và
dịch
vụ nhượng
quyền.
Chỉ cần một
trong
số
các đơn
vị
nhận
đến công tác dám
sát,
hỗ
trợ
bên
nhận
quyền.
Và
điều
này khôna hề
đơn aiàn
đối với
những
doanh
nghiệp
có hệ
thốna
nhượng
quyền
đang ngày càng
phát
triển tới
số
lượng
lớn.
19
- Tạo nên
đối thủ
cạnh
tranh tiềm năng:
vị nhận quyền
cùng
những
hiểu
biết
về phương
thức
kinh
doanh
của
nhượng
quyền,
họ có
thể
nghiên
cứu,
phát
triển
lên,
tìm
ra
phương
thức
kinh
doanh
mới
hiệu
quả hơn
trong lĩnh
vực của bên nhượng
doanh: Do bên
nhượng
quyền chỉ
có
quyền
giám
sát,
hỗ
trợ
về mặt tiêu
chuẩn
kỹ
thuật
mà không
được
can
thiệp
sâu vào công tác
quản
lý của bên
nhận quyền
nên khó
kiểm
soát
được
doanh
thu
cụ
thể
của
đáng kể
của
nhà nhượng
quyền.
•£>ớỉ
với
bên
nhận
quyền
- Bị
ràng buộc trong kinh doanh:
Do quy định
của
hợp đỉng nhượng
quyền,
bên
nhận quyền
không có
quyền tự
chủ hoàn toàn
trong
hoạt
động sản
xuất kinh
doanh ngay cả
khi
đã bỏ
100% vốn đầu
tư.
Họ không được
lại
cơ
sờ của
mình
cho người
khác,
trừ khi
có sự đỉng ý
của
bên nhượng
quyền.
- Lợi nhuận
bị
chia
sẻ.
Do sử
dụng
thương
hiệu
của bên nhượng
quyền
nên
lợi
nhuận
thu
được
của
bên
nhận quyền sẽ
phải chia
cao
từ
vài
trâm đến vài ngàn đô
la
Mỹ. Ngoài
ra,
họ
có
thể phải
đóng thêm một số
khoản
phí khác
theo
quy định như phí hàng tháng
(royalty fee),
phí
tiếp
thị (marketing
fee).
.
.
Do
đó,
nếu
kinh
doanh
không
thực
sự