Buôn lậu và gian lận thương mại ở Việt Nam, thực trạng và giải pháp - Pdf 23

Lời mở đầu
Buôn lậu và gian lận thơng mại là một trong những mặt trái của nền kinh
tế thị trờng, nó có tác động và ảnh hởng lớn đến kinh tế xã hội. Đây là vấn
đề nóng bỏng, bức xúc và diễn biến ngày càng phức tạp ở nớc ta hiện nay, gây
khó khăn cho sản xuất trong nớc, làm thất thu ngân sách nhà nớc, làm rối loạn
hoạt động thơng mại gây ra những ảnh hởng tiêu cực trong xã hội. vì vậy đòi
hỏi cần phải tích cực phòng chống tình trạng này bằng sự đoàn kết phối hợp
chặt chẽ giữa các ngành, các cấp, giữa nhà nớc và nhân dân.
Dới góc độ quản lý kinh tế, vấn đề này càng đợc xem xét nghiên cứu kỹ
nhằm tìm ra những giải pháp cụ thể để giải quyết. Chính vì vậy mà em đã chọn
đề tài : Buôn lậu và gian lận thơng mại ở Việt Nam, thực trạng và giải
pháp làm đề án môn học chuyên ngành khoa học quản lý. Qua quá trình
nghiên cứu đề tài em đã phần nào hiểu đợc và có cái nhìn rõ ràng hơn về tình
hình buôn lậu và gian lận thơng mại ở nớc ta, đồng thời giúp em trả lời đợc một
số câu hỏi nh: Làm sao để hạn chế buôn lậu và gian lận thơng mại ở Việt
Nam?,Có các giải pháp và công cụ nào?, Ai là ngời có đủ năng lực giải quyết
thực hiện?.
Mặt khác trong qua trình làm đề án môn học em hiểu sâu hơn về chuyên
ngành, cũng nh lĩnh vực mình đang học, tạo điều kiện cho em đợc mở rộng
kiến thức, cả trên lý thuyết lẫn thực tiễn, giúp cho qua trình học tập của em đợc
tốt hơn.
Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn thầy giáo Nguyễn Quang Huy đã h-
ớng dẫn nhiệt tình giúp em hoàn thành đợc đề án .
1

Phần nội dung
Ch ơng I .
Những vấn đề chung về buôn lậu và gian lận
thơng mại
I. kinh tế thị trờng - Vấn đề buôn lậu và gian lận thơng
mại :

sản xuất phải năng động không ngừng nâng cao tay nghề, chuyên môn và tính
toán thực chất hoạt, động kinh doanh, tiết kiệm các nguồn lựu, nâng cao năng
suất lao động. Đó là những nhân tố tác động làm cho lực lợng sản xuất phát
triển. Thơng mại kích thích nhu cầu và luôn tạo ra nhu cầu mới, ngời tiêu dùng
mua hàng hoá không xuất phát từ tình cảm mà bằng lý trí. Lợi ích của sản
phẩm hay mức độ thoả mãn nhu cầu của sản phẩm sẽ tạo ra khả năng tái tạo
nhu cầu. Thơng mại một mặt, làm cho nhu cầu trên thị trợng trung thực hơn,
mặt khác nó làm bộc lộ tính đa dạng, phong phú của nhu cầu. Thơng mại buộc
các nhà sản xuất phải đa dạng về loại hình, phong phú về kiểu dáng, mẫu mã
chất lợng sản phẩm Điều này tác động ngợc lại với ngời tiêu dùng, làm xuất
hiện các nhu cầu tiềm năng. Tóm lại thơng mại làm tăng nhu cầu và là nguồn
gốc cho sự phát triển của sản xuất kinh doanh.
Ngoài ra thơng mại còn góp phần mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế, làm
cho quan hệ thơng mại giữa nớc ta với các nớc không ngừng phát triển. Điều đó
giúp chúng ta tận dụng đợc u thế của thời đại, phát huy đợc lợi thế so sánh,
tứng bớc đa nớc ta hội nhập với kinh tế thế giới, biến nớc ta trở thành bộ phận
của phân công lao động quốc tế.
3
Ngày nay thực hiện công cuộc đổi mới của Đảng và Nhà nớc là xoá bỏ cở
chế quản lý kinh tế tập trung, chuyển sang cơ chế thị trờng, chế độ bao cấp đợc
thay bằng thơng mại. Thơng mại thể hiện sự tự do mua bán theo giá cả mà thị
trờng quy định, ngời mua và ngời bán đợc tự do lựa chọn bạn hàng. Gắn giữa
sản xuất với thơng mại, thơng mại cũng là mọt chức năng của sản xuất hàng
hoá, giữa các doanh nghiệp, các vùng và quốc gia thực hiện cơ chế mở trong
mua bán hàng hoá.
Phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị
trờng, thơng mại phát triển có những mặt tích cực song bên cạnh đó nó lại làm
nảy sinh những tiêu cực ngay trong lòng của nó. Trong kinh tế thị trờng đồng
tiêng trở thành phơng tiện có giá trị làm phát sinh t tởng sùng bái đồng tiền,
chạy theo cuôc sống sa xỉ mà không từ bàn tay mình làm ra, bằng những mánh

Sa . Các mặt hàng bị cấm xuất ra nớc ngoài lúc đó đợc quy định là : Ruộng
đất ,thuốc nổ, vũ khí, sắt, đồng, vàng, da Trâu, gỗ Lim, vỏ Quế, Trân châu, Ngà
voi....những hành vi cụ thể tách biệt nói trên trong tiềm thức xã hội đều đợc
gộp chung lại là hiện tợng buôn lậu chứ không có tội danh buôn lậu.
Trớc năm 1985, thuật ngữ Tội buôn lậuđã đợc đề cập đến trong một số
văn bản pháp luật của nớc ta nh pháp lệnh về nhiệm vụ và quyền hạn cảu lực l-
ợng Cảnh sát Nhân dân (20/7/1962); Pháp lệnh trừng trị các tội đầu cơ, buôn
lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép (10/6/1982). Song về cơ bản tội danh
buôn lậu cha đợc hớng dẫn nhận diện đầy đủ với các yếu tố cấu thành và dấu
hiệu pháp lý đắc trng. Phần lớn ngời ta vẫn chịu ảnh hởng của các quan niệm
truyền thống cho rằng buôn lậu là bao gồm các hành vi kinh doanh trái phép,
trốn thuế, đầu cơ tích trữ buôn bán hàng cấm.
Từ năm 1985 bộ luật Hình sự của nớc CHXHXN Việt Nam ra đời đã
chính thức ghi nhận tội danh buôn lậu: Ngời nào buôn bán trái phép hoặc vận
chuyển trái phép qua biên giới hàng hoá ,tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý,
5
đá quý hoặc vật phẩm thuộc di tích lịch sử, văn hoá thì bị sử phạt.... Bắt đầu từ
đây tội danh buôn lậu đã đợc xác định với 4 yếu tố cấu thành tội phạm và
những dấu hiệu pháp lý đặc trng, nên đã có tác dụng hớng dẫn nhận thức cũng
nh chỉ đạo thực thi pháp luật.
3. Khái niệm về gian lận thơng mại.
Một thuật ngữ nữa luôn gắn liền với buôn lậu là gian lận thơng mại.
Gian lận thơng mại theo tử điển tiếng Việt là dối trá lừa lổctng hoạt động thơng
mại. Ngời có hành vi gian lận thơng mại gại là gian thơng tức là ngời có nhiều
mu mô lừa lọc, kẻ buôn bán gian lận và trái phép. Gian lận đợc coi là hành vi
của con ngời cụ thể có lời nói hoặc cử chỉ, hành động không đúng với bản chất
của sự vật hiện tợng nhằm mục đích đánh lừa ngời khác. Trong dân gian gian
lận thơng mại gắn liền với thành ngữ buôn gian bán lận và dùng để chỉ những
thủ đoạn mánh khoé lừa lọc khách hàng hoặc ngời khác để thu lợi bất chính.
Hành vi buôn gian bán lận trong dân gian đợc hiểu bao gồm mốt số thủ đoạn

những tháy đổi lớn. Vì vậy tại Hội nghị Quốc tế lần V về chống gian lận thơng
mại trong lĩnh vực Hải quan do Tổ chức Hải quan thế giới triệu tập tại Brussels
(Bỉ)từ ngày 13/10/1995 đã xem xét lại đinh nghĩa về gian lận thơng mại trong
lĩnh vực Hải quan và thông nhất đa ra một định nghĩa mới hoàn chỉnh hơn.
Định nghĩa đó đợc phát biểu nh sau:
Gian lận thơng mại trong lĩnh vực hải quan là hành vi vi phạm các điều
khoản pháp quy hoặc luật Hải quan nhằm :
Trốn tránh hoặc cố ý trông tránh việc nộp thuế hải quan , phí và các khoản
thu khác đối với việc di chuyển hàng hóa-dịch vụ thơng mại.
Nhận và có ý định nhận việc hoàn trả trợ cấp hoặc phụ cấp cho hàng hoá
không thuộc đối tợng đó.
Đạt đợc hoặc cố ý đạt đợc lợi thế thơng mại bất hợp pháp gây hại cho các
nguyên tắc và điều lệ cạnh tranh thơng mại chân chính.
7
Tại Hội nghị của tổ chức Hải quan quốc tế về chống gian lận thơng mại
lần V này cũng đã thông nhất phân chia các hình thức gian lận thơng mại thành
16 loại nh sau :
1. Buôn bán hàng cấm qua biên giới hoặc ra khỏi sự kiểm soát của Hải
quan.
2. Khai báo sai chủng loại hàng hoá.
3. Khai tăng, giảm giá trị hàng hoá.
4. Lợi dụng chế độ u đãi xuất xứ hàng hoá.
5. Lợi dụng đối với hàng hoá gia công.
6. Lợi dụng chế độ tạm nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập.
7. Lợi dụng các yêu cầu về giấy phép xuất nhập khẩu.
8. Lợi dụng chế độ quá cảnh đem dùng trong nớc.
9. Khái báo sai về chất lợng, số lợng hàng hoá.
10.Lợi dụng chế độ mục đích sử dụng, buôn bán trái phép hàng hoá đ-
ợc sử dụng nhất định.
11.Vi phạm đạo luật về diễn giải thơng mại hoặc quy định bảo vệ ngời

tế cảu toàn xã hội. Còn chỉ số giá cả, và kèm theo đó là sự biến động của nó là
chỉ tiêu phàn ánh tơng quan giữa hai đại lợng hàng hoá và sức mua. Nói cách
khác đó là chỉ tiêu phản ánh mối quan hệ cung cầu về hàng hoá. Hiểu đợc bản
chất kinh tế của vấn đề này, các nhà sản xuất tìm cách tiết kiệm chi phí, hạ giá
thành trên cơ sở cải tiến kỹ thuật, mẫu mã nâng cao chất lợng sản phẩm, đủ sức
cạnh tranh, tăng doanh thu thơng mại. Để làm đợc điều này không phải là việc
dễ dàng và lại nhất là trong điều kiện cạnh tranh gay gắt hiện nay. Một trong
những hiện tợng cạnh tranh, kinh doanh để kiếm lợi nhuận lớn nhng trái pháp
luật phổ biến hiện nay là hành vi buôn lậu và gian lận thơng mại. Một số cá
nhân buôn bán thuộc mọi thành phần kinh tế, dù ở mức độ khác nhau đã tìm đủ
mọi cách luồn lách để thắng trong cuộc chạy đua một vốn bốn lời. Do chạy
9
theo lối sống giàu sang và sùng bái đồng tiền nhng lại không dùng chính sức
lực của mình để làm giàu mà lại tìm mọi hành vi đểgian thơng, buôn bán bất
hợp pháp để đạt đợc mục đích kiếm lời nhanh và dễ dàng. Lợi ích cá nhân của
họ đặt lên quá cao mà không nghĩ đến lợi ích tập thể, lợi ích quốc gia mà trong
đó họ là một phần tử thuộc nó. Từ đó mà buôn lậu và gian lận thơng mại ngày
càng nảy sinh và phát triển, hành vi buôn lậu và gian lận thơng mại ngày càng
tinh vi, diễn biến phức tạp và đang là vấn nạn không chỉ của một quốc gia mà
trên toàn thế giới hiện nay.
Nhu cầu sử dụng hàng hoá ở các vùng địa lý là khác nhau và hàng hoá có
chất lợng cao, giá thành thấp hơn sẽ có xu hớng chuyển đến những nới nào mà
ở đó giá thành cao. đây cũng là quy luật cạnh tranh trong lu thông hàng hoá.
Tuy nhiên trong một số trờng hợp để bảo vệ sản xuất nội địa thì Nhà nớc phải
dùng đến hàng rào thuế quan. Trong điều kiện đó gian thơng tìm mọi cách, thủ
đoạn để tàng trữ buôn bán, vân chuyển hàng hóa qua biên giới, cũng nh lợi
dụng mọi khe hở để gian lận số lợng, chủng loại, tráo lẫn hàng hoá...để trốn
thuế kiếm lời bất chính. Một số hàng hoá Nhà nớc cấm buôn bán vì những lý
do nh an ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội ... và những hàng hoá buôn
bán phải có giấy phép vẫn bị gian thơng tìm mọi cách đê buôn bán vì ở những

của nớc ta về đấu tranh chống buôn lậu và gian lận thơng mại cha thật sự đi vào
cuộc sống. Nhiều quy định cha chặt chẽ, sơ hở, thậm chí còn chồng chéo gây
khó khăn, cản trở cho công tác kiểm tra xử lý.
Việc các cơ quan bảo vệ pháp luật cha quan tâm đúng mức và xét xử
không kịp thời các vụ án thơng mại. Việc nâng cao chất lợng hàng hoá cùng
loại với hàng hoá nhập khẩu phải tuân thủ những quy định về nhãn mác, chế độ
hoá đơn, chứng từ... cha đợc xem xét chính xác, cụ thể, trung thực. Bên cạnh đó
11
còn có một số cán bộ thoái hoá biến chất từ các ngành chức năng đã tiếp tay,
đồng loã cho những đối tợng buôn lậu và gian lận thơng mại.
12
Ch ơng II .
Thực trạng và những tác động của nạn buôn
lậu và gian lận thơng mại ở Việt Nam.
I. Thực trạng về buôn lậu và gian lận thơng mại ở Việt
Nam
Hiện nay hoạt động buôn lậu và gian lận thơng mại diễn ra ngày càng tinh
vi, số vụ gian lận ngày càng tăng, đặc biệt là trong khấu trừ và hoàn thuế giá trị
gia tăng (GTGT). Các đối tợng buôn lậu thờng lợi dụng danh nghĩa, t cách pháp
nhân của các doanh nghiệp Nhà nớc hoặc các công ty TNHH để làm thủ tục
nhập khẩu hoặc xuất khẩu khống, khai báo sai tên hàng, số lợng chủng loại,
xuất xứ của hàng hoá để hởng thuế suất thấp hoặc thuế suất bằng không để trốn
thuế. Lợi dụng hoàn thuế GTGT để chiếm đoạt thuế hoặc cất giấu những hàng
nhập lậu, hàng cấm nhập trong lô hàng đợc nhập, giấu hàng có giá trị thuế suất
cao trong lô hàng cồng kềnh.
Đặc biệt là trong thời gian qua hành vi gian lận thơng mại trong hoàn
thuế GTGT sau gần 4 năm thực hiện luật thuế GTGT đã liên tục xay ra với
chiều hớng ngày càng ra tăng và đến mức báo động. Lợi dụng sự thông thoáng
của luật doanh nghiệp, hàng loạt các công ty ma ra đời chủ yếu để mua bán hoá
đơn tài chính rồi đem bán lại, tiếp sức cho những đối tợng hoạt động kinh

thuế đối với những mặt hàng máy móc thiết bị, nguyên phụ liệu nhập khẩu, các
loại hàng nhập khẩu dạng gia công...) nhiều doanh nghiệp áp dụng phơng thức
chiếm đoạt tiền thuế bằng cách trốn khỏi địa chỉ kinh doanh, hoặc cố tình nợ
chây ỳ không chịu nộp thuế.
Ngoài ra, cũng có những trờng hợp lợi dụng chíng sách cho phép doanh
nghiệp tự xây dựng và tự quyết toán định mức, nhiều doanh nghiệp đã hạch
14
toán không bằng cách sử dụng hoá đơn của doanh nghiệp ma hoặc không
khai đúng doanh thu để trốn thuế, gây khó khăn cho cơ quan chức năng. Tính
từ đầu năm đến nay, Chi cục quản lý thị trờng Thành phố Hồ Chí Minh phối
hợp các ngành chức năng đã kiểm tra các đơn vị sau đăng ký kinh doanh, phát
hiện hơn 400 công ty TNHH, doanh nghiệp t nhân không có trụ sở hoạt động
nh đăng ký... trong 6 tháng đầu năm ngành Hải quan phát hiện và bắt giữ 4.353
vụ vi phạm( buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới, gian lận th-
ơng mại, vi phạm thủ tục hải quan...) trị giá ớc tính hơn 338 tỷ đồng. Xử lý
hàng hoá vi phạm và thu nộp ngân sách hơn 22,5 tỷ. Trên thực tế, do chính
sách thuế còn nhiều kẽ hở nên việc áp dụng và quản lý giữa các ngành thuế,
Hải quan với doanh nghiệp còn nhiều bất cập. Đó cũng là điều kiện để một số
doanh nghiệp lợi dụng khe hở này chiếm dụng tiền thuế, gây thất thoát ngân
sách nhà nớc.
1. Những phơng thức và thủ đoạn trong buôn lậu
Thủ đoạn và phơng thức hoạt động của bọn buôn lậu hiện nay ngày càng
tinh vi và nguy hiểm hơn, trên rất nhiều lĩnh vực của nền kinh tế nh quay vòng
hoá đơn chứng từ, quay vòng tem hàng xuất khẩu, tờ khai thuế quan, chuyển
đổi phơng thức tử thuê cửu vạn sang cho cửu vạn vay vốn rồi thu mua lại để
ràng buộc với hàng. Mà những ngời phải làm cửu vạn này thờng xuất thân từ
những tầng lớp ngời nghèo trong xã hội.
Bọn buôn lậu còn lợi dụng vận chuyển hàng hoá vào thời gian và địa điểm
ở những nơi mà các lực lợng thanh tra kiểm soát gặp khó khăn hoặc không thể
quản lý đợc. Mặt khác từ hoạt động theo nhóm, bọn buôn lậu lại chuyển sang

chính cho bản thân.
16
2. Một số hình thức gian lận thơng mại phổ biến ở Việt Nam hiện nay
2.1. Gian lận thơng mại qua lợi dụng chính sách thuế của nhà nớc
Trong các hoạt động gian lận thơng mại có lẽ hành vi gian lận qua lợi
dụng chính sách thuế xuất nhập khẩu là loại hình gian lận đặc thù nhất ở Việt
Nam. Vì thuế xuất nhập khẩu ở Việt Nam bao gồm nhiều sắc thuế gộp lại là
thuế quan, thuế doanh thu, thuế phụ thu, thuế thu điều chỉnh bình ồn giá. Nên
thuế xuất nhập khẩu của chúng ta thờng cao nh ô tô du lịch, xe máy, rợi bia
hàng điện tử...do thuế suất cao nên sự chênh lêch giữa giá phải trả cho việc khai
báo đầy đủ, chính xác và xuất trình trung thực cho các cơ quan kiểm tra kiểm
soát nhà nớc với lợi nhuận kiếm đợc do gian lận thơng mại là rất lớn. Thuế suất
là một trong những lĩnh vực hấp dẫn gian thơng, điể hình là trong thời gian gần
đây việc khai thác sơ hở của luật thuế xuất nhập khẩu, các gian thơng đã tìm
mọi cách để biến tớng, gây nhầm lẫn trong khai báo mã hàng để gian lận thơng
mại trốn thuế.
2.2. Gian lận thơng mại qua giá hàng hoá xuất nhập khẩu
Theo tính toán của chính phủ thất thu thuế qua giá là rất lớn, ớc tính thất
thu thuế là khoảng 25% trong tổng số thu thuế xuất nhập khẩu. Chống gian lận
thơng mại qua giá ở nớc ta cũng nh trên thế giới đang là vấn đề đợc hải quan
các nớc đặc biệt quan tâm, vì đây là hoạt động gian lận thơng mại tinh vi nhất,
khó phát hiện nhất.
2.3. Gian lận thơng mại trong việc khai báo sai số lợng trọng lợng, phẩm
cấp của hàng hóa xuất nhập khẩu.
Đây cũng là hình thức gian lận thơng mại xuất nhập khẩu khá phổ biến ở
Việt Nam. Cácchủ hàng thờng lợi dụng chính sách thông thoáng, mở cửa của
nhà nớc thông qua việc cải cách thủ tục hành chính trong ngành hải quan bằng
các biện pháp đơn giản hoá các thủ tục này. do đó đã tạo điều kiện cho hoạt
động xuất nhập khẩu, giải phóng hàng hoá tại cửa khẩu. Các cửa khẩu với lực l-
ợng có hạn, trình độ cán bộ còn hạn chế trong khi đó lợng hàng hoá luân

đồng gia công và văn bản cho phép của Bộ thơng mại cấp cho các đơn vị sản
xuất, Hải quan kiểm tra định mức tiêu dùng nguyên phụ liệu đã nhập cho đến
khi kết thúc hợp đồng, phần thừa không dùng hết mới phải nộp thuế. Song
trong thực tế có những hợp đồng gia công kéo dài từ 5 dến 10 năm, nguyên phụ
liệu nộp vào sản xuất và sản phẩm gia công hoàn chỉnh đợc xuất khẩu phải thực
hiện trong một thời gian dài, bằng rất nhiều chuyến hàng, qua nhiều cửa khẩu.
Đây là kẽ hở để các chủ sản xuất lợi dụng. Thủ doạn của bọn chúng là nhập
nguyên phụ liệu nhiều nhng sử dụng để sản xuất thì không hết, đa số phần lớn
là bán lại cho các cơ sở sản xuất khác trong nớc với giá cao hơn để thu lợi.
Ngoài ra còn rất nhiều thủ đoạn và cách thức mà bon gian lận sử dụng nh
lợi dụng chính sách và cơ chế hoạt động của thuế,qua hoạt động của văn phòng
đại diện các tổ chức kinh tế nớc ngoài tại Việt Nam, gian lận thơng mại qua
hàng kinh doanh chuyển khẩu, hàng tạm nhập tái xuất, hàng đổi hàng...
Nh vậy có thể thấy, gian lận thơng mại ở nớc ta hiện nay hết sức đa dạng
và phức tạp khó kiểm soát với xu hớng ngày càng nhiều các phơng thức gian
lận tinh vi.
II. Những tác động của nạn buôn lậu và gian lận thơng
mại đến kinh tế x hội nã ớc ta
1. Tác động đến các chủ thể kinh tế
Tình trạng buôn lậu và gian lận thơng mại xâm hại đến chế độ chính sách
quản lý xuất nhập khẩu hàng hoá. Nh ta đã biết: thuế quan là các mức thuế
đấnh trên hàng hoá xuất nhập khẩu nhắm mục đích làm tăng giá của hàng nhập
khẩu để làm giảm sức cạnh tranh với các nhà sản xuất trong nớc hoặc kích
19
thích sản xuất tại nội địa. Vì vậy các hành vi buôn lậu,trốn thuế xuất nhập khẩu
thông qua hoạt động gian lận thơng mại, cạnh tranh tiêu cực phi kinh tế đã xâm
haị đến chế độ chính sách quản lý xuất nhập khẩu hàng hoá.
Buôn lậu và gian lận thơng mại gây nhiều thiệt hại cho ngời sản xuất trong
nớc, làm điêu đứng các doanh nghiệp sản xuất cũng nh các doanh nghiệp thơng
mại. đối với các ngời sản xuất trong nớc. Việc hàng ngoại tràn ngập thị trờng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status