Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu ở Việt Nam hiện nay. ThS. Luật - Pdf 28



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THẾ CƯỜNG

THỎA THUẬN HẠN CHẾ CẠNH TRANH
TRONG LĨNH VỰC KINH DOANH XĂNG DẦU
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành : Luật Kinh tế
Mã số : 60 38 50 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS. Bùi Nguyên Khánh

1.4.2. Pháp luật Cộng hòa Liên bang Đức 41
1.4.3. Pháp luật Cộng hòa Pháp 42 1.4.4. Pháp luật Nhật Bản 43
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 45
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ THỎA THUẬN HẠN CHẾ CẠNH
TRANH TRONG LĨNH VỰC KINH DOANH XĂNG DẦU VÀ THỰC TIỄN ÁP
DỤNG PHÁP LUẬT VỀ CHỐNG HẠN CHẾ CẠNH TRANH TRONG LĨNH
VỰC KINH DOANH XĂNG DẦU Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 47
2.1. Thực trạng pháp luật về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong lĩnh
vực kinh doanh xăng dầu 47
2.1.1. Các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm 47
2.1.2. Hậu quả pháp lý đối với các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm 51
2.1.3. Tố tụng cạnh tranh 55
2.1.4. Quy định về phân phối xăng dầu 61
2.2. Thực tiễn áp dụng pháp luật về chống hạn chế cạnh tranh trong lĩnh
vực kinh doanh xăng dầu ở Việt nam hiện nay 62
2.2.1. Trách nhiệm của cơ quan quản lý Nhà nước 62
2.2.2. Tính độc lập và chuyên nghiệp của cơ quan quản lý cạnh tranh 63
2.2.3. Cơ chế điều hành giá xăng dầu ảnh hưởng tiêu cực đến cạnh tranh
trong kinh doanh xăng dầu 65
2.2.4. Tính minh bạch và nhất quán của chính sách 69
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 70
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP
LUẬT VỀ THOẢ THUẬN HẠN CHẾ CẠNH TRANH TRONG LĨNH VỰC
KINH DOANH XĂNG DẦU Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 72
3.1. Phương hướng hoàn thiện 72
3.1.1. Hiệu lực thấp của văn bản về kinh doanh xăng dầu 72
3.1.2. Thiếu công khai, minh bạch trong hoạt động kinh doanh 75

chính bản thân tự do cạnh tranh cũng là yếu tố đưa đến những hậu quả tiêu
cực về kinh tế, đặc biệt là khi cơ chế pháp luật để điều tiết sự tự do đó còn
chưa được chặt chẽ thì tất yếu sẽ dẫn tới các hành vi cạnh tranh không lành
mạnh và hạn chế cạnh tranh xuất hiện. Các hành vi này nảy sinh do các chủ
thể cạnh tranh nhận thấy có thể đem lại lợi nhuận lớn trong kinh doanh, thậm
chí là siêu lợi nhuận do có thể khống chế, loại bỏ đối thủ, vi phạm quyền lợi
của khách hàng Do vậy, các hành vi đó vẫn tiếp tục tồn tại và phát triển.
Cũng giống với các hiện tượng hạn chế cạnh tranh khác, thỏa thuận hạn
chế cạnh tranh là hiện tượng tất yếu trong đời sống kinh tế thị trường ở nước
ta. Trên phương diện kinh tế, thỏa thuận hạn chế cạnh tranh là bước đầu tiên
của giới doanh nhân trong quá trình tích lũy và tập trung tư bản - yêu cầu tập
trung hóa và thống nhất hành động trên thương trường. Từ yêu cầu phát triển thị
trường, quy trình này mang tính tất yếu và cần được khuyến khích trong những
điều kiện nhất định. Những thỏa thuận hạn chế cạnh tranh nhằm thúc đẩy tiến bộ
khoa học kỹ thuật, công nghệ, áp dụng thống nhất các tiêu chuẩn chất lượng,
định mức kỹ thuật của chủng loại sản phẩm, thống nhất các điều kiện kinh 2
doanh, giao hàng, thanh toán… về nguyên tắc cần phải được khuyến khích và
ủng hộ vì nó đem lại lợi ích chung cho toàn xã hội. Tuy nhiên, nếu không được
giám sát, cảnh báo kịp thời từ phía Nhà nước, thỏa thuận hạn chế cạnh tranh sẽ
có xu hướng bóp méo hoặc thủ tiêu cạnh tranh và qua đó đã làm phương hại đến
lợi ích chung của toàn xã hội.
Xăng, dầu là mặt hàng có tầm ảnh hưởng quan trọng đặc biệt trong nền
kinh tế quốc dân. Giá cả của nó ảnh hưởng đến nhiều mặt kinh tế xã hội. Việc
kinh doanh xăng dầu hiện nay ở Việt Nam được quy định tại Nghị định số
84/2009/NĐ-CP của Chính phủ về kinh doanh xăng dầu. Nghị định số
84/2009/NĐ-CP chính là căn cứ pháp lý để quản lý kinh doanh xăng dầu tại
Việt Nam, Nghị định thể hiện một bước tiến mới khi khẳng định rõ kinh

tính giá, phương thức điều hành, quản lý quá trình thực hiện điều chỉnh giá
bán xăng dầu của doanh nghiệp, góp phần thực hiện chức năng giám sát của
xã hội.
Tuy nhiên, sau 3 năm thực hiện Nghị định số 84/2009/NĐ-CP, việc điều
hành giá bán các mặt hàng xăng vẫn do Nhà nước quy định trên cơ sở đề nghị
của các doanh nghiệp kinh doanh mặt hàng này; hệ lụy của quy định đăng ký,
giá bán trong nước thường không bắt kịp giá thị trường; gây bất ổn thị trường
do đầu cơ trước thông tin tăng giá. Theo “Báo cáo kết quả cạnh tranh trong 10
lĩnh vực của nền kinh tế” do Cục Quản lý cạnh tranh - Bộ Công thương công
bố, xăng dầu là một trong những lĩnh vực có hiện tượng thỏa thuận ngầm
nhằm hạn chế cạnh tranh, đầu cơ, nâng giá, lũng đoạn thị trường.
Việc kinh doanh xăng dầu chưa hoạt động theo cơ chế thị trường, có
hiện tượng thỏa thuận hạn chế cạnh tranh để ấn định giá bán làm dư luận bức
xúc, ảnh hưởng đến nền kinh tế và tình hình sản xuất, kinh doanh. Việc áp
dụng Luật Cạnh tranh và kiểm soát các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong
lĩnh vực kinh doanh xăng dầu ở nước ta chưa hiệu quả. 4
Xuất phát từ những vấn đề mang tính chất cấp thiết nêu trên, Học viên
đã lựa chọn đề tài "Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực kinh
doanh xăng dầu ở Việt Nam hiện nay" để làm luận văn thạc sĩ.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến Đề tài
Ở Việt Nam, trong lĩnh vực pháp luật cạnh tranh đã có một số công trình
bước đầu nghiên cứu về cạnh tranh, về các hành vi cạnh tranh không lành mạnh,
về độc quyền và kiểm soát độc quyền như: “Chuyên đề về cạnh tranh, chống
cạnh tranh bất hợp pháp và kiểm soát độc quyền” của Viện Nghiên cứu khoa
học pháp lý, Bộ Tư pháp năm 1996; “Tiến tới xây dựng pháp luật về cạnh tranh
trong điều kiện chuyển sang kinh tế thị trường ở Việt Nam” của PGS.TS.
Nguyễn Như Phát - ThS. Bùi Nguyên Khánh, Nhà xuất bản Công an nhân dân

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của Luận văn
* Mục đích của Luận văn này là làm sáng tỏ những vấn đề chung về thỏa
thuận hạn chế cạnh tranh và pháp luật về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong
lĩnh vực kinh doanh xăng dầu; phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về thỏa
thuận hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu và thực tiễn áp
dụng pháp luật về chống hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu
ở Việt Nam hiện nay, từ đó đề xuất một số phương hướng và giải pháp nhằm
hoàn thiện pháp luật về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực kinh doanh
xăng dầu ở Việt Nam trong thời gian tới.
* Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Với mục đích nghiên cứu trên, luận văn có các nhiệm vụ nghiên cứu cụ
thể sau:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh và
pháp luật về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu.
Để thực hiện được nhiệm vụ này, luận văn đã nghiên cứu bản chất pháp lý
của các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, trong đó tìm hiểu nguồn gốc của thỏa
thuận hạn chế cạnh tranh, khái niệm và các đặc điểm pháp lý của các thỏa 6
thuận hạn chế cạnh tranh; tìm hiểu nhu cầu điều chỉnh bằng pháp luật đối với
các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu;
nguyên tắc và nội dung cơ bản của pháp luật về các thỏa thuận hạn chế cạnh
tranh trong lĩnh vực xăng dầu; nghiên cứu kinh nghiệm điều chỉnh pháp luật
quốc tế đối với các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực xăng dầu.
- Nghiên cứu thực trạng pháp luật về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh
trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu và thực tiễn áp dụng pháp luật về chống
hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu ở Việt Nam hiện nay.
Để thực hiện nhiệm vụ này, Luận văn đã phân tích thực trạng của pháp luật về
thỏa thuận hạn chế cạnh tranh nói chung để từ đó rút ra những ra những bất

Thứ nhất: Luận văn tập trung phân tích và xác định nhu cầu điều chỉnh
bằng pháp luật đối với các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực kinh
doanh xăng dầu.
Thứ hai: Luận văn nhận dạng và đánh giá các hình thức thể hiện thỏa
thuận hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu ở nước ta hiện nay.
Thứ ba: Luận văn nghiên cứu và chỉ ra thị trường liên quan trong lĩnh
vực kinh doanh xăng dầu để làm cơ sở xác định hành vi thỏa thuận hạn chế
cạnh tranh trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu.
Thứ tư: Luận văn đánh giá thực trạng pháp luật về thỏa thuận hạn chế
cạnh tranh để từ đó rút ra những bất cập trong thực hiện pháp luật về thỏa
thuận hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu.
Thứ năm: Luận văn mạnh dạn đề xuất một số phương hướng và giải
pháp hoàn thiện pháp luật về thoả thuận hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực
kinh doanh xăng dầu ở nước ta hiện nay.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận văn
Kết quả đạt được của Luận văn góp phần làm sáng tỏ phương diện lý luận
trong khoa học pháp lý của các thoả thuận hạn chế cạnh tranh áp dụng trong 8
lĩnh vực kinh doanh xăng dầu. Những nhận định về thực trạng thỏa thuận hạn
chế cạnh tranh trong hoạt động kinh doanh xăng dầu và một số giải pháp hoàn
thiện pháp luật có thể để các cơ quan chức năng trong phạm vi, thẩm quyền của
mình sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực quản lý hoạt động
kinh doanh xăng dầu.
Bên cạnh đó, Luận văn sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích không chỉ với cán
bộ giảng dạy, sinh viên mà còn đối với các cán bộ đang làm công tác hoạch định
chính sách và xây dựng pháp luật cạnh tranh tại Việt Nam.
8. Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn

đó, pháp luật của các quốc gia có nền kinh tế thị trường đều trừng phạt
nghiêm khắc các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh. Những tiền đề để
xuất hiện cạnh tranh cũng là những tiền đề để những thỏa thuận hạn chế cạnh
tranh tồn tại. Trước đây, trong thời kỳ kinh tế kế hoạch hoá tập trung, sự can
thiệp của Nhà nước vào các hoạt động kinh tế là một trong những lý do không
cho cạnh tranh tồn tại, điều đó cũng đồng nghĩa với việc không cần có thỏa
thuận hạn chế cạnh tranh.
Nền kinh tế thị trường là môi trường của cạnh tranh, với sự ghi nhận
quyền tự do kinh doanh, nguyên tắc tự do thương mại là điểm tựa, là môi
trường của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh. Không thể phủ nhận rằng cạnh
tranh với các hiệu ứng tích cực của nó đối với nền kinh tế, khiến các quốc gia
đã và đang phát triển luôn luôn khuyến khích cạnh tranh. Trong quan hệ cạnh
tranh thì việc thành công hay thất bại luôn luôn là kết quả mà các đối thủ
tham gia đều nhận thấy, mặc dù trước khi tham gia họ không chắc chắn.
Chính từ yếu tố không muốn phải chịu rủi ro về phía mình, các đối thủ trong
quan hệ cạnh tranh có thể có sự thoả thuận, hay nói cách khác đây chính là
nguồn gốc của sự tự do khế ước và sự thoả thuận về điều kiện kinh doanh của
các đối thủ cạnh tranh, để mục tiêu đều là những người thắng cuộc. Để đạt 10
được điều này đòi hỏi họ phải có sự hợp tác, phải có sự thoả thuận.
Mọi vấn đề trong xã hội, từ lớn đến nhỏ đều dựa trên nền tảng khế ước,
Nhà nước chỉ can thiệp vào sự thoả thuận, sự tự do khế ước chừng nào sự tự
do đó xâm phạm các lợi ích công cộng hoặc xâm phạm tới các quyền và lợi
ích hợp pháp của người khác.
Xét cho cùng, thỏa thuận hạn chế cạnh tranh được thực hiện giữa các
doanh nghiệp nên nó phải được hình thành trên nền tảng của nguyên tắc tự do
khế ước. Các doanh nghiệp có quyền tự do thể hiện ý chí của mình trong việc
lựa chọn đối tác để thiết lập quan hệ, liên kết, hợp tác và đồng thời các doanh

Hội là hoàn toàn phù hợp với quy định của Hiến pháp và pháp luật.
Tuy nhiên, như đã phân tích ở trên, hoạt động của bất kỳ một hiệp hội
nào cũng phải được tiến hành trong khuôn khổ của Hiến pháp, pháp luật và
đặc biệt là không được ảnh hưởng tới lợi ích của những hội khác, những
người khác. Trong trường hợp này, nếu các doanh nghiệp liên kết với nhau
nhằm thiết lập các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh thì sự liên kết đó là những
liên kết bất hợp pháp.
Về nguyên tắc, với mục tiêu nhằm loại bỏ, thủ tiêu sức ép cạnh tranh nên
các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh sẽ bị coi là vô hiệu và chủ thể thực
hiện hành vi nói trên sẽ phải gánh chịu những hậu quả pháp lý bất lợi nhất
định. Tuy nhiên, trước các mục tiêu của chính sách cạnh tranh, việc áp dụng
pháp luật đối với các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh cần phải thực hiện một
cách thận trọng, đặc biệt khi lợi ích của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh lớn hơn
so với hậu quả của nó mang lại cho thị trường. Theo đó, các tiêu chí thuộc
“lợi ích công” sau đây có thể được vận dụng để thực hiện miễn trừ việc áp
dụng pháp luật đối với các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh:
- Lợi ích của thị trường như: tăng cường sức cạnh tranh của các doanh
nghiệp vừa và nhỏ, tăng cường sức cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước 12
trên thị trường quốc tế.
- Lợi ích của chính doanh nghiệp đó như: hợp lý hoá cơ cấu tổ chức, mô
hình kinh doanh, nâng cao hiệu quả kinh doanh.
- Lợi ích của người tiêu dùng như: việc áp dụng thống nhất các tiêu
chuẩn chất lượng, định mức kỹ thuật của chủng loại sản phẩm; thống nhất các
điều kiện kinh doanh, giao hàng, thanh toán nhưng không liên quan đến giá và
các yếu tố của giá.
Qua đó, cho thấy lợi ích công chính là tiêu chuẩn xác định tính hợp pháp
của các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh. Một số quốc gia đưa ra tiêu chuẩn để

nhất hành động. Tuy nhiên, loại hợp đồng này có mục đích và nội dung vi
phạm điều cấm của pháp luật do đi ngược lại lợi ích của cạnh tranh - yếu tố
mà pháp luật khuyến khích. Vì vậy, các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh cần
phải được kiểm soát, chế ước bởi pháp luật thông qua một hệ thống các chế
tài đa dạng và linh hoạt.
1.1.2. Khái niệm và đặc điểm pháp lý của các thỏa thuận hạn chế
cạnh tranh
1.1.2.1. Khái niệm thỏa thuận hạn chế cạnh tranh
Trong kinh tế học, hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh được nhìn
nhận là sự thống nhất hành động của nhiều doanh nghiệp nhằm giảm bớt hoặc
loại bỏ sức ép của cạnh tranh hoặc hạn chế khả năng hành động một cách độc
lập giữa các đối thủ cạnh tranh. Từ điển Chính sách thương mại quốc tế định
nghĩa “Cartel” là một thỏa thuận chính thức hoặc không chính thức để đạt
được kết quả có lợi cho các mặt hàng có liên quan nhưng có thể có hại cho
các bên khác.
Khoản 1 Điều 81 Hiệp ước Rome nghiêm cấm mọi thỏa thuận giữa các
doanh nghiệp, mọi quyết định của hiệp hội doanh nghiệp và mọi hành động
phối hợp có khả năng ảnh hưởng đến trao đổi thương mại giữa các quốc gia 14
thành viên và có mục đích hoặc hệ quả phản cạnh tranh.
Luật Cạnh tranh Việt Nam không đưa ra khái niệm mà sử dụng phương
pháp liệt kê các thỏa thuận bị coi là thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, bao gồm:
thỏa thuận ấn định hàng hóa, dịch vụ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp; thỏa
thuận phân chia thị trường tiêu thụ, nguồn cung cấp hàng hóa, cung ứng dịch
vụ; thỏa thuận hạn chế hoặc kiểm soát số lượng, khối lượng sản xuất mua bán,
hàng hóa, dịch vụ; thỏa thuận hạn chế phát triển kỹ thuật, công nghệ, hạn chế
đầu tư; thỏa thuận áp đặt cho các doanh nghiệp khác điều kiện ký kết hợp
đồng mua bán hàng hóa, dịch vụ hoặc buộc doanh nghiệp khác chấp thuận các

thức như định giá, thương lượng giá và các thoả thuận license. Tuỳ theo từng
mục tiêu, mức độ, các thoả thuận này có tác động khác nhau, thậm chí một số
thoả thuận hoàn toàn có ý nghĩa tích cực cho nền kinh tế và cho xã hội [60].
1.1.2.2. Đặc điểm pháp lý của các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh
Trong thực tiễn phát triển của thị trường, nội dung các hành vi thỏa
thuận cũng rất đa dạng, không thể dự liệu một cách tuyệt đối, đều mang tính
tương đối và luôn được bổ sung cùng với sự sáng tạo của người kinh doanh.
Các thỏa thuận có thể hướng đến sự thống nhất về giá cả hàng hóa, dịch vụ;
có thể là sự thống nhất trong việc phân chia thị trường, phân chia khách hàng,
trong chiến lược marketing; thống nhất trong hành động để tiêu diệt đối thủ
hoặc phát triển khoa học kỹ thuật,
Như vậy, dựa vào khái niệm mà kinh tế học đưa ra và những thỏa thuận
hạn chế cạnh tranh được quy định trong Luật Cạnh tranh, có thể nhìn nhận và
phân tích chúng có 3 đặc trưng sau đây:
Thứ nhất: về chủ thể - thỏa thuận hạn chế cạnh tranh diễn ra giữa các
doanh nghiệp là đối thủ cạnh tranh của nhau.
Để xác định dấu hiệu này phải chứng minh được những điểm sau:
- Các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận cùng trên thị trường liên quan. 16
- Các doanh nghiệp phải hoạt động độc lập với nhau, không phải là
những người liên quan của nhau theo pháp luật doanh nghiệp, không cùng
trong một tập đoàn kinh doanh, không cùng là thành viên của tổng công ty.
Những hành động thống nhất của tổng công ty, của một tập đoàn kinh tế hoặc
của các công ty mẹ, con không được pháp luật cạnh tranh coi là thỏa thuận
bởi thực chất các tập đoàn kinh tế nói trên cho dù bao gồm nhiều thành viên
cũng chỉ là một chủ thể thống nhất [46].
Thứ hai: về hình thức - thỏa thuận thống nhất cùng hành động giữa các
doanh nghiệp có thể công khai hoặc không công khai.

Với nhiệm vụ bảo vệ cạnh tranh, pháp luật về thỏa thuận hạn chế cạnh
tranh chỉ cần phán đoán các thỏa thuận gây ra hoặc có khả năng gây ra hậu
quả phản cạnh tranh trên thị trường. Do đó, nếu có sự thống nhất ý chí và sự
thống nhất ý chí đó gây ra hậu quả phản cạnh tranh là có thể xử lý những
người tham gia thỏa thuận cho dù mục đích tham gia của họ khác nhau.
Trong việc định danh một thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, cơ quan có
thẩm quyền không chỉ kiểm tra có sự tồn tại thực sự của một thỏa thuận hay
sự thống nhất ý chí, mà còn phải khẳng định được rằng thỏa thuận đó chắc
chắn xuất phát từ ý chí độc lập của các bên và không chịu sự ràng buộc từ bên
ngoài. Việc tồn tại các yếu tố khách quan hoặc chủ quan làm cho các doanh
nghiệp không còn độc lập về ý chí cho dù đã hoặc đang cùng thực hiện một
hành vi phản cạnh tranh cũng không tạo nên một thỏa thuận hạn chế cạnh
tranh. Trong trường hợp này, pháp luật cạnh tranh đã sử dụng khái niệm
khiếm khuyết của sự thỏa thuận ý chí trong pháp luật hợp đồng để kết luận về
sự tồn tại của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh. Thông thường, các doanh nghiệp
không độc lập về ý chí nếu thuộc một trong những trường hợp: các bên đang
chịu sự ràng buộc của một văn bản luật, dưới luật nên đã thực hiện hành vi
gây ra hậu quả làm hạn chế cạnh tranh (ví dụ: có quyết định của Chính phủ 18
buộc các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu buộc phải giảm giá bán nhằm ổn
định thị trường). Trong trường hợp này, cho dù mức giá bán được đặt ra đã
tạo nên rào cản cho việc gia nhập thị trường của các doanh nghiệp tiềm năng
thì các doanh nghiệp tham gia vào việc ấn định giá không vi phạm Luật Cạnh
tranh; các doanh nghiệp trong cùng một tập đoàn hoặc có quan hệ kiểm soát
lẫn nhau, quan hệ trong nội bộ tập đoàn hoặc quyền kiểm soát của một doanh
nghiệp đối với các doanh nghiệp khác có thể làm cho các doanh nghiệp thành
viên hoặc các doanh nghiệp bị kiểm soát không thực sự độc lập về ý chí khi
thực hiện hành vi hạn chế cạnh tranh. Vì thế, pháp luật cạnh tranh của các

Khi những nội dung của thỏa thuận được hình thành và thực hiện thì các
yếu tố nói trên sẽ trở thành tiêu chuẩn thống nhất không có cạnh tranh trên thị
trường giữa những người tham gia thỏa thuận. Nói cách khác, nội dung của
thỏa thuận hạn chế cạnh tranh là các doanh nghiệp không thống nhất thực
hiện cùng một hành vi hạn chế cạnh tranh. Dựa vào hành vi, Điều 8 Luật
Cạnh tranh đã liệt kê những thỏa thuận hạn chế cạnh tranh cụ thể. Chỉ khi
thuộc một trong những trường hợp quy định tại Điều 8, thỏa thuận của các
doanh nghiệp mới bị coi là thỏa thuận hạn chế cạnh tranh. Một thỏa thuận hạn
chế cạnh tranh có thể được xác định khi chúng đã hoặc chưa được thực hiện.
Nói cách khác, việc các doanh nghiệp tham gia đã thực hiện hạn chế cạnh
tranh đã thỏa thuận hay chưa thỏa thuận không quan trọng trong việc định
danh thỏa thuận hạn chế cạnh tranh. Có những trường hợp cơ quan có thẩm
quyền phát hiện ra thỏa thuận sau khi các doanh nghiệp thực hiện hành vi và
gây hậu quả cho thị trường, song cũng có trường hợp các doanh nghiệp chỉ
vừa thống nhất sẽ thực hiện một hành vi hạn chế cạnh tranh và bị phát hiện.
Tất cả những trường hợp nêu trên đều cấu thành nên thỏa thuận hạn chế cạnh tranh.
Như vậy, chỉ cần có đủ hai điều kiện sau đây:
- Có bằng chứng về sự thống nhất ý chí giữa các doanh nghiệp. 20
- Các doanh nghiệp thỏa thuận cùng nhau thực hiện hành vi hạn chế
tranh là có thể kết luận về sự tồn tại của một thỏa thuận hạn chế cạnh tranh.
Thứ tư: hậu quả của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, dấu hiệu chung cho
cả ba loại hành vi hạn chế cạnh tranh là làm giảm, sai lệch và cản trở cạnh
tranh trên thị trường.
Sự thống nhất ý chí đã liên kết các doanh nghiệp độc lập với nhau nhằm
tạo nên sức mạnh chung trong quan hệ khách hàng hoặc trong quan hệ cạnh
tranh với những doanh nghiệp không tham gia thỏa thuận. Vì vậy, hậu quả
đầu tiên của thỏa thuận gây ra cho thị trường là xóa bỏ cạnh tranh giữa các

doanh nghiệp hoặc đồng sở hữu hoặc thuê dài hạn từ năm (05) năm trở lên;
- Có kho tiếp nhận xăng dầu nhập khẩu dung tích tối thiểu mười lăm
ngàn mét khối (15.000 m
3
) để trực tiếp nhận xăng dầu từ tầu chở dầu và
phương tiện vận tải xăng dầu khác, thuộc sở hữu doanh nghiệp hoặc đồng sở
hữu hoặc thuê sử dụng dài hạn từ năm (05) năm trở lên;
- Có phương tiện vận tải xăng dầu chuyên dụng thuộc sở hữu doanh
nghiệp hoặc đồng sở hữu hoặc thuê sử dụng dài hạn từ năm (05) năm trở lên
để bảo đảm cung ứng xăng dầu cho hệ thống phân phối của mình;
- Có hệ thống phân phối xăng dầu của mình: tối thiểu mười (10) cửa
hàng bán lẻ thuộc sở hữu hoặc đồng sở hữu và hệ thống đại lý tối thiểu bốn
mươi (40) đại lý bán lẻ xăng dầu;
- Thương nhân kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu nhiên liệu bay không
bắt buộc phải có hệ thống phân phối theo quy định nhưng phải có phương tiện
tra nạp nhiên liệu bay thuộc sở hữu hoặc đồng sở hữu của thương nhân [11].
* Điều kiện sản xuất xăng dầu:
Để được phép sản xuất xăng dầu, phải đáp ứng đủ các điều kiện sau:
- Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật, trong Giấy
chứng nhận đăng ký kinh doanh có đăng ký kinh doanh xăng dầu;

Trích đoạn Tính độc lập và chuyên nghiệp của cơ quan quản lý cạnh tranh Tính minh bạch và nhất quán của chính sách Thiếu công khai, minh bạch trong hoạt động kinh doanh Cơ chế điều hành, quản lý nhà nước Hoàn thiện văn bản pháp luật về kinh doanh xăng dầu
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status