Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu - Pdf 22

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐỖ TUẤN LÂM
THỎA THUẬN HẠN CHẾ CẠNH TRANH
TRONG LĨNH VỰC KINH DOANH XĂNG DẦU
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ

Hà Nội , năm 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi: Đỗ Tuấn Lâm, học viên lớp cao học luật kinh tế, xin cam đoan đây
là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu nêu trong luận văn là
trung thực. Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố
trong bất kỳ công trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Đỗ Tuấn Lâm
2
MỤC LỤC
3
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Từ khi Đảng và Nhà nước ta khởi xướng, lãnh đạo thực hiện việc chuyển
đổi và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chủ
động hội nhập kinh tế với khu vực và thế giới, nền kinh tế Việt Nam đã đạt
được những thành tựu đáng khích lệ. Tuy nhiên, khi chuyển đổi nền kinh tế
sang vận hành theo cơ chế thị trường, Việt Nam phải thừa nhận những quy
luật, thuộc tính vốn có và nguyên tắc hoạt động của nó. Trong đó, cạnh tranh
là một quy luật, là thuộc tính của kinh tế thị trường. Xét ở mặt tích cực, cạnh
tranh là động lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Song ở phương diện khác,
chính bản thân tự do cạnh tranh cũng là yếu tố đưa đến những hậu quả tiêu

84/2009/NĐ-CP quy định thương nhân đầu mối được quyền quyết định giá
bán lẻ xăng dầu tại các cửa hàng xăng dầu thuộc hệ thống phân phối của
thương nhân, theo những nguyên tắc và trình tự được xác định tại Nghị định;
thương nhân cũng có trách nhiệm tham gia bình ổn giá theo quy định của
pháp luật và được bù đắp những chi phí hợp lý khi tham gia bình ổn giá.
Về thực hiện cơ chế thị trường, Nghị định số 84/2009/NĐ-CP cho phép
doanh nghiệp các thành phần được tham gia kinh doanh xuất nhập xăng dầu
(thay vì chỉ có doanh nghiệp nhà nước như trước đây), kinh doanh nhiêu liệu
bay nhằm tạo tiền đề cho môi trường kinh doanh xăng dầu ngày càng mang
tính cạnh tranh hơn; mở rộng quyền kinh doanh cho doanh nghiệp trong các
hoạt động xuất nhập khẩu xăng dầu (xuất khẩu sản phẩm, nguyên liệu xăng
dầu nhập khẩu và sản xuất trong nước; tạm nhập tái xuất, chuyển khẩu, gia
công xuất khẩu xăng dầu); cho phép áp dụng các công cụ phòng vệ giá phù
hợp với thông lệ quốc tế để mua bán xăng dầu với các đối tác nước ngoài; quy
định về sử dụng biển hiệu, lô gô trong hệ thống phân phối phù hợp với pháp
luật về Sở hữu trí tuệ và đặc biệt là làm rõ nguyên tắc, căn cứ, điều kiện,
quy trình, biên độ điều chỉnh làm cơ sở như đã nêu ở trên để doanh nghiệp tự
quyết định giá bán xăng dầu trong nước.
Về quản lý Nhà nước, Nghị định số 84/2009/NĐ-CP đã làm rõ ở các nội
5
dung và phân cấp quản lý về quy hoạch phát triển hệ thống kinh doanh xăng
dầu, trong đó có quy hoạch cửa hàng xăng dầu gắn với công tác đấu tranh
chống buôn lậu xăng dầu qua biên giới; quy định về nhập khẩu và sản xuất
xăng dầu phục vụ cho nhu cầu sử dụng của nền kinh tế; về tổ chức hệ thống
phân phối; về dự trữ lưu thông và đặc biệt là công khai minh bạch công thức
tính giá, phương thức điều hành, quản lý quá trình thực hiện điều chỉnh giá
bán xăng dầu của doanh nghiệp, góp phần thực hiện chức năng giám sát của
xã hội.
Tuy nhiên, sau 3 năm thực hiện Nghị định số 84/2009/NĐ-CP, việc điều
hành giá bán các mặt hàng xăng vẫn do Nhà nước quy định trên cơ sở đề nghị

Cạnh tranh” của TS. Lê Hoàng Oanh năm 2005; “Phân tích và luận giải các quy
định của Luật Cạnh tranh về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí
độc quyền đề HCCT” của PGS.TS. Nguyễn Như Phát và ThS. Nguyễn Ngọc
Sơn… Các công trình này cũng chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu các quy định của
pháp luật cạnh tranh nói chung, về cạnh tranh không lành mạnh và chống hạn
chế cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam nói riêng.
Sau khi Luật Cạnh tranh ra đời, một số công trình nghiên cứu đã đề cập đến
thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, theo đó những ví dụ, kinh nghiệm điều tra xử lý
các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh của một số nước trên thế giới cũng được đề
cập. Có thể kể đến một số công trình tiêu biểu như “Hành vi hạn chế cạnh tranh -
Một số vụ việc điển hình của Châu Âu” - tài liệu tham khảo thuộc khuôn khổ
Dự án hỗ trợ thương mại đa biên (MULTRAP) và Bộ Công Thương Việt
Nam phối hợp thực hiện. Cục Quản lý cạnh tranh - Bộ Công Thương đã chủ
trì xây dựng Báo cáo đánh giá cạnh tranh trong 10 lĩnh vực, trong đó có kinh
doanh xăng dầu. Một số chuyên gia, báo chí cũng có bài viết nghiên cứu đề
cập đến thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong hoạt động kinh doanh xăng dầu ở
một số góc độ nhất định nhưng chưa có công trình nào đề cập một cách toàn
diện và chi tiết về vấn đề này. Cho đến nay, đây là đề tài thạc sĩ đầu tiên
nghiên cứu về vấn đề thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực kinh
doanh xăng dầu ở Việt Nam.
7
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
* Mục đích của Luận văn này là làm sáng tỏ những vấn đề chung về thỏa
thuận hạn chế cạnh tranh và pháp luật về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong
lĩnh vực kinh doanh xăng dầu; phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về thỏa
thuận hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu và thực tiễn áp
dụng pháp luật về chống hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu
ở Việt Nam hiện nay, từ đó đề xuất một số phương hướng và giải pháp nhằm
hoàn thiện pháp luật về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực kinh doanh
xăng dầu ở Việt Nam trong thời gian tới.

quản và vận chuyển xăng dầu. Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực
kinh doanh xăng dầu ở nước ta chủ yếu xảy ra ở lĩnh vực phân phối xăng dầu
tại thị trường trong nước. Đây cũng chính là lý do Luận văn tập trung nghiên
cứu hoạt động kinh doanh xăng dầu trong giai đoạn phân phối.
5. Phương pháp nghiên cứu của luận văn
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở vận dụng những quan điểm của chủ
nghĩa Mác - Lênin về Nhà nước và pháp luật, đường lối, quan điểm, định hướng
của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường trong
bối cảnh hội nhập.
Bên cạnh đó,Luận văn này cũng sử dụng các phương pháp nghiên cứu
như thống kê, tổng hợp, so sánh, phân tích, … nhằm phục vụ cho nhiệm vụ
và mục đích nghiên cứu của đề tài nghiên cứu này.
6. Những đóng góp mới về khoa học của Luận văn
Kết quả của việc nghiên cứu đề tài: "Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh
trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu ở Việt Nam hiện nay" có thể đem lại
những điểm mới sau đây:
Thứ nhất: Luận văn tập trung phân tích và xác định nhu cầu điều chỉnh
bằng pháp luật đối với các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực kinh
doanh xăng dầu.
Thứ hai: Luận văn nhận dạng và đánh giá các hình thức thể hiện thỏa thuận
hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu ở nước ta hiện nay.
Thứ ba: Luận văn nghiên cứu và chỉ ra thị trường liên quan trong lĩnh
vực kinh doanh xăng dầu để làm cơ sở xác định hành vi thỏa thuận hạn chế
9
cạnh tranh trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu.
Thứ tư: Luận văn đánh giá thực trạng pháp luật về thỏa thuận hạn chế
cạnh tranh để từ đó rút ra những bất cập trong thực hiện pháp luật về thỏa
thuận hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu.
Thứ năm: Luận văn mạnh dạn đề đề xuất một số phương hướng và giải
pháp hoàn thiện pháp luật về thoả thuận hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực

Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh (cartel) là một trong những hình thức
biểu hiện của hạn chế cạnh tranh, có thể gây nguy hại đến động lực phát triển
kinh tế của xã hội và vi phạm tới lợi ích chính đáng của người tiêu dùng. Do
đó, pháp luật của các quốc gia có nền kinh tế thị trường đều trừng phạt
nghiêm khắc các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh. Những tiền đề để
xuất hiện cạnh tranh cũng là những tiền đề để những thỏa thuận hạn chế cạnh
tranh tồn tại. Trước đây, trong thời kỳ kinh tế kế hoạch hoá tập trung, sự can
thiệp của Nhà nước vào các hoạt động kinh tế là một trong những lý do không
cho cạnh tranh tồn tại, điều đó cũng đồng nghĩa với việc không cần có thỏa
thuận hạn chế cạnh tranh.
Nền kinh tế thị trường là môi trường của cạnh tranh, với sự ghi nhận
quyền tự do kinh doanh, nguyên tắc tự do thương mại là điểm tựa, là môi
trường của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh. Không thể phủ nhận rằng cạnh
tranh với các hiệu ứng tích cực của nó đối với nền kinh tế, khiến các quốc gia
đã và đang phát triển luôn luôn khuyến khích cạnh tranh. Trong quan hệ cạnh
tranh thì việc thành công hay thất bại luôn luôn là kết quả mà các đối thủ
tham gia đều nhận thấy, mặc dù trước khi tham gia họ không chắc chắn.
Chính từ yếu tố không muốn phải chịu rủi ro về phía mình, các đối thủ trong
quan hệ cạnh tranh có thể có sự thoả thuận, hay nói cách khác đây chính là
nguồn gốc của sự tự do khế ước và sự thoả thuận về điều kiện kinh doanh của
các đối thủ cạnh tranh, để mục tiêu đều là những người thắng cuộc. Để đạt
được điều này đòi hỏi họ phải có sự hợp tác, phải có sự thoả thuận.
Mọi vấn đề trong xã hội, từ lớn đến nhỏ đều dựa trên nền tảng khế ước,
11
Nhà nước chỉ can thiệp vào sự thoả thuận, sự tự do khế ước chừng nào sự tự
do đó xâm phạm các lợi ích công cộng hoặc xâm phạm tới các quyền và lợi
ích hợp pháp của người khác.
Xét cho cùng, thỏa thuận hạn chế cạnh tranh được thực hiện giữa các
doanh nghiệp nên nó phải được hình thành trên nền tảng của nguyên tắc tự do
khế ước. Các doanh nghiệp có quyền tự do thể hiện ý chí của mình trong việc

Tuy nhiên, như đã phân tích ở trên, hoạt động của bất kỳ một hiệp hội
nào cũng phải được tiến hành trong khuôn khổ của Hiến pháp, pháp luật và
đặc biệt là không được ảnh hưởng tới lợi ích của những hội khác, những
người khác. Trong trường hợp này, nếu các doanh nghiệp liên kết với nhau
nhằm thiết lập các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh thì sự liên kết đó là những
liên kết bất hợp pháp.
Về nguyên tắc, với mục tiêu nhằm loại bỏ, thủ tiêu sức ép cạnh tranh nên
các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh sẽ bị coi là vô hiệu và chủ thể thực
hiện hành vi nói trên sẽ phải gánh chịu những hậu quả pháp lý bất lợi nhất
định. Tuy nhiên, trước các mục tiêu của chính sách cạnh tranh, việc áp dụng
pháp luật đối với các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh cần phải thực hiện một
cách thận trọng, đặc biệt khi lợi ích của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh lớn hơn
so với hậu quả của nó mang lại cho thị trường. Theo đó, các tiêu chí thuộc
“lợi ích công” sau đây có thể được vận dụng để thực hiện miễn trừ việc áp
dụng pháp luật đối với các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh:
- Lợi ích của thị trường như: tăng cường sức cạnh tranh của các doanh
nghiệp vừa và nhỏ, tăng cường sức cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước
trên thị trường quốc tế.
- Lợi ích của chính doanh nghiệp đó như: hợp lý hoá cơ cấu tổ chức, mô
hình kinh doanh, nâng cao hiệu quả kinh doanh.
- Lợi ích của người tiêu dùng như: việc áp dụng thống nhất các tiêu
chuẩn chất lượng, định mức kỹ thuật của chủng loại sản phẩm; thống nhất các
điều kiện kinh doanh, giao hàng, thanh toán nhưng không liên quan đến giá và
các yếu tố của giá.
Qua đó, cho thấy lợi ích công chính là tiêu chuẩn xác định tính hợp pháp
13
của các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh. Một số quốc gia đưa ra tiêu chuẩn để
xác định những giới hạn đối với phạm vi áp dụng quy định cấm thoả thuận
phản cạnh tranh, theo đó “giới hạn” được thừa nhận ở một số quốc gia thuộc
Liên minh Châu Âu, Cộng hoà Pháp thừa nhận: có thể coi là thỏa thuận hạn

1.1.2. Khái niệm và đặc điểm pháp lý của các thỏa thuận hạn chế
cạnh tranh
1.1.2.1. Khái niệm thỏa thuận hạn chế cạnh tranh
Trong kinh tế học, hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh được nhìn
nhận là sự thống nhất hành động của nhiều doanh nghiệp nhằm giảm bớt hoặc
loại bỏ sức ép của cạnh tranh hoặc hạn chế khả năng hành động một cách độc
lập giữa các đối cạnh tranh. Từ điển Chính sách thương mại quốc tế định
nghĩa Cartel là một thỏa thuận chính thức hoặc không chính thức để đạt được kết
quả có lợi cho các mặt hàng có liên quan nhưng có thể có hại cho các bên khác.
Khoản 1 Điều 81 Hiệp ước Rome nghiêm cấm mọi thỏa thuận giữa các
doanh nghiệp, mọi quyết định của hiệp hội doanh nghiệp và mọi hành động
phối hợp có khả năng ảnh hưởng đến trao đổi thương mại giữa các quốc gia
thành viên và có mục đích hoặc hệ quả phản cạnh tranh.
Luật Cạnh tranh Việt Nam không đưa ra khái niệm mà sử dụng phương
pháp liệt kê các thỏa thuận bị coi là thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, bao gồm:
thỏa thuận ấn định hàng hóa, dịch vụ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp; thỏa
thuận phân chia thị trường tiêu thụ, nguồn cung cấp hàng hóa, cung ứng dịch
vụ; thỏa thuận hạn chế hoặc kiểm soát số lượng, khối lượng sản xuất mua
bán, hàng hóa, dịch vụ; thỏa thuận hạn chế phát triển kỹ thuật, công nghệ, hạn
chế đầu tư; thỏa thuận áp đặt cho các doanh nghiệp khác điều kiện ký kết hợp
đồng mua bán hàng hóa, dịch vụ hoặc buộc doanh nghiệp khác chấp thuận các
nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng; thỏa thuận
ngăn cản, kìm hãm không cho doanh nghiệp khác tham gia thị trường hoặc
phát triển kinh doanh; thỏa thuận loại bỏ khỏi thị trường những doanh nghiệp
không phải là các bên của thỏa thuận; thông đồng để một hoặc các bên của
thỏa thuận thắng thầu trong việc cung cấp hàng hóa, cung ứng dịch vụ. Tuy
nhiên theo cách tiếp cận của khoản 3 Điều 3 Luật cạnh tranh, thỏa thuận hạn
chế cạnh tranh có thể được hiểu là thỏa thuận giữa hai hoặc nhiều doanh
15
nghiệp nhằm mục đích làm giảm, sai lệch, cản trở cạnh tranh trên thị trường.

16
Như vậy, dựa vào khái niệm mà kinh tế học đưa ra và những thỏa thuận
hạn chế cạnh tranh được quy định trong Luật Cạnh tranh, có thể nhìn nhận và
phân tích chúng có 3 đặc trưng sau đây:
Thứ nhất: về chủ thể - thỏa thuận hạn chế cạnh tranh diễn ra giữa các
doanh nghiệp là đối thủ cạnh tranh của nhau.
Để xác định dấu hiệu này phải chứng minh được những điểm sau:
- Các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận cùng trên thị trường liên quan.
- Các doanh nghiệp phải hoạt động độc lập với nhau, không phải là
những người liên quan của nhau theo pháp luật doanh nghiệp, không cùng
trong một tập đoàn kinh doanh, không cùng là thành viên của tổng công ty.
Những hành động thống nhất của tổng công ty, của một tập đoàn kinh tế hoặc
của các công ty mẹ, con không được pháp luật cạnh tranh coi là thỏa thuận
bởi thực chất các tập đoàn kinh tế nói trên cho dù bao gồm nhiều thành viên
cũng chỉ là một chủ thể thống nhất.
Thứ hai: về hình thức - thỏa thuận là sự thống nhất cùng hành động
giữa các doanh nghiệp có thể công khai hoặc không công khai.
Để xác định các hành động của một nhóm doanh nghiệp độc lập là thỏa
thuận, cơ quan có thẩm quyền phải có đủ bằng chứng kết luận rằng giữa họ đã
tồn tại một hợp đồng, bản ghi nhớ, các cuộc gặp mặt cho thấy đã có thỏa
thuận công khai hoặc ngầm đồng ý về giá, về hạn chế sản lượng, phân chia thị
trường. Một khi chưa có sự thống nhất cùng hành động giữa các doanh nghiệp
tham gia thì chưa thể kết luận có sự tồn tại của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh.
Một thỏa thuận hạn chế cạnh tranh phải được hình thành từ sự thống
nhất ý chí của các doanh nghiệp tham gia về việc thực hiện một hành vi hạn
chế cạnh tranh. Hình thức pháp lý của sự thống nhất ý chí không ảnh hưởng
đến việc định danh thỏa thuận hạn chế cạnh tranh. Do đó, chỉ cần hội đủ hai
điều kiện là có sự thống nhất ý chí và các doanh nghiệp đã cùng thống nhất
thực hiện một hành vi hạn chế cạnh tranh là có thể kết luận đã có thỏa thuận
hạn chế cạnh tranh cho dù thỏa thuận đó bằng văn bản hay lời nói, thỏa thuận

không độc lập về ý chí nếu thuộc một trong những trường hợp: các bên đang
chịu sự ràng buộc của một văn bản luật, dưới luật nên đã thực hiện hành vi
gây ra hậu quả làm hạn chế cạnh tranh (ví dụ: có quyết định của Chính phủ
buộc các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu buộc phải giảm giá bán nhằm ổn
18
định thị trường. Trong trường hợp này, cho dù mức giá bán được đặt ra đã tạo
nên rào cản cho việc gia nhập thị trường của các doanh nghiệp tiềm năng thì
các doanh nghiệp tham gia vào việc ấn định giá không vi phạm Luật Cạnh
tranh; các doanh nghiệp trong cùng một tập đoàn hoặc có quan hệ kiểm soát
lẫn nhau, quan hệ trong nội bộ tập đoàn hoặc quyền kiểm soát của một doanh
nghiệp đối với các doanh nghiệp khác có thể làm cho các doanh nghiệp thành
viên hoặc các doanh nghiệp bị kiểm soát không thực sự độc lập về ý chí khi
thực hiện hành vi hạn chế cạnh tranh. Vì thế, pháp luật cạnh tranh của các
nước đều ghi nhận nguyên tắc “không thể có thỏa thuận phản cạnh tranh giữa
hai doanh nghiệp trong đó doanh nghiệp này kiểm soát doanh nghiệp kia hoặc
giữa những doanh nghiệp cùng đặt dưới sự kiểm soát chung của một doanh
nghiệp thứ ba, hoặc giữa các doanh nghiệp hợp thành một thể kinh tế”.
Tuy nhiên, nguyên tắc này không được áp dụng một cách cứng nhắc mà
cần có những phân tích và đánh giá thực tế trong từng vụ việc cụ thể. Theo
đó, trong những trường hợp trên, cơ quan có thẩm quyền cần đánh giá tác
động của các yếu tố tác động đến ý chí của các doanh nghiệp. Nếu các doanh
nghiệp tham gia không còn sự lựa chọn nào khác ngoài việc phải thực hiện
hành vi hạn chế cạnh tranh thì kết luận họ không độc lập về ý chí. Ngược lại,
nếu có một văn bản luật hoặc dưới luật hoặc quan hệ kiểm soát, quan hệ tập
đoàn đã buộc các doanh nghiệp phải thực hiện một hành vi gây ra hậu quả hạn
chế cạnh tranh thì hành vi tập thể của các doanh nghiệp đó không cấu thành
nên thỏa thuận hạn chế cạnh tranh. Cơ quan có thẩm quyền dễ dàng tìm ra
được những bằng chứng về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh đối với các thỏa
thuận công khai, song tìm kiếm bằng chứng không đơn giản đối với các thỏa
thuận ngầm. Trong thực tế, để đối phó với pháp luật cạnh tranh, các doanh

tranh là có thể kết luận về sự tồn tại của một thỏa thuận hạn chế cạnh tranh.
Thứ tư: hậu quả của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, dấu hiệu chung cho
cả ba loại hành vi hạn chế cạnh tranh là làm giảm, sai lệch và cản trở cạnh
tranh trên thị trường.
Sự thống nhất ý chí đã liên kết các doanh nghiệp độc lập với nhau nhằm
tạo nên sức mạnh chung trong quan hệ khách hàng hoặc trong quan hệ cạnh
tranh với những doanh nghiệp không tham gia thỏa thuận. Vì vậy, hậu quả
đầu tiên của thỏa thuận gây ra cho thị trường là xóa bỏ cạnh tranh giữa các
20
doanh nghiệp tham gia. Khi nội dung thỏa thuận được hình thành, tạo ra
những tiêu chuẩn chung về giá, về kỹ thuật, về công nghệ, về điều kiện giao
kết hợp đồng, các doanh nghiệp đang từ đối thủ cạnh tranh của nhau sẽ
không còn cạnh tranh với nhau nữa. Bằng sức mạnh chung (nếu sự liên kết
tạo nên sức mạnh thị trường) và bằng việc thực hiện hành vi hạn chế cạnh
tranh, các doanh nghiệp tham gia có thể gây thiệt hại cho khách hàng khi đặt
ra các điều kiện giao dịch bất lợi cho họ hoặc gây thiệt hại cho các doanh
nghiệp không tham gia thỏa thuận [45].
1.2. Nhu cầu điều chỉnh bằng pháp luật đối với các thỏa thuận hạn
chế cạnh tranh trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu
1.2.1. Điều kiện gia nhập thị trường kinh doanh xăng dầu
Ngày 15/9/2009 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 84/2009/NĐ-CP
về kinh doanh xăng dầu. Theo đó, kinh doanh xăng dầu bao gồm các hoạt
động: xuất khẩu (xăng dầu, nguyên liệu sản xuất trong nước và xăng dầu,
nguyên liệu có nguồn gốc nhập khẩu), nhập khẩu, tạm nhập tái xuất, chuyển
khẩu, gia công xuất khẩu xăng dầu, nguyên liệu; sản xuất và pha chế xăng
dầu; phân phối xăng dầu tại thị trường trong nước; dịch vụ cho thuê kho,
cảng, tiếp nhận, bảo quản và vận chuyển xăng dầu. Văn bản này cũng quy
định các điều kiện cụ thể để được kinh doanh xăng dầu. Theo đó:
* Điều kiện kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu xăng dầu:
Để được kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu xăng dầu, doanh nghiệp phải

xăng dầu sản xuất theo các quy định hiện hành.
* Điều kiện làm tổng đại lý kinh doanh xăng dầu:
Để được làm tổng đại lý kinh doanh xăng dầu, phải đáp ứng đủ các điều
kiện sau:
- Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật, trong Giấy
chứng nhận đăng ký kinh doanh có đăng ký kinh doanh xăng dầu;
- Có kho, bể dung tích tối thiểu năm ngàn mét khối (5.000 m
3
), thuộc sở
hữu doanh nghiệp hoặc đồng sở hữu hoặc thuê sử dụng dài hạn từ năm (05)
năm trở lên để bảo đảm cung ứng ổn định cho hệ thống phân phối xăng dầu
của mình;
- Có hệ thống phân phối xăng dầu, bao gồm tối thiểu năm (05) cửa hàng
bán lẻ thuộc sở hữu doanh nghiệp hoặc đồng sở hữu và tối thiểu hai mươi (20)
đại lý bán lẻ xăng dầu. Hệ thống phân phối này phải nằm trong hệ thống phân
phối của thương nhân đầu mối và chịu sự kiểm soát của thương nhân đó;
22
- Có phương tiện vận tải xăng dầu chuyên dụng thuộc sở hữu doanh
nghiệp hoặc đồng sở hữu hoặc thuê sử dụng dài hạn từ năm (05) năm trở lên;
- Cán bộ quản lý, nhân viên trực tiếp kinh doanh phải được đào tạo
nghiệp vụ về kỹ thuật an toàn phòng cháy, chữa cháy và bảo vệ môi trường
theo quy định hiện hành.
* Điều kiện làm đại lý bán lẻ xăng dầu:
Để được làm đại lý bán lẻ xăng dầu phải đáp ứng đủ các điều kiện sau:
- Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật, trong Giấy
chứng nhận đăng ký kinh doanh có đăng ký kinh doanh xăng dầu;
- Có cửa hàng bán lẻ xăng dầu thuộc sở hữu doanh nghiệp hoặc đồng sở hữu;
- Cán bộ quản lý, nhân viên trực tiếp kinh doanh phải được đào tạo
nghiệp vụ về kỹ thuật an toàn phòng cháy, chữa cháy và bảo vệ môi trường
theo quy định hiện hành.

cơ đốt trong, bao gồm động cơ 4 thì và động cơ 2 thì. Các loại máy móc, thiết
bị vận hành bằng động cơ đốt trong đều có thể sử dụng xăng RON 90, RON
92 và RON 95 làm nhiên liệu.
Bên cạnh đó, giá cả của hai loại xăng được bán phổ biến tại thị trường
Việt Nam là RON 95 và RON 92 chênh lệch nhau không đáng kể. Theo dõi
thống kê về biến động giá các loại xăng, dầu cho thấy giá 2 loại xăng này
thường xuyên ở mức chênh lệch khoảng 3% - 4%. Hai loại xăng này có thể
thay thế cho nhau về giá cả. Tương tự khi lập luận về tính thay thế cho nhau
về giá cả giữa các loại xăng RON 90 và RON 92; RON 90 và RON 95.
Căn cứ vào các tiêu chí đã được phân tích ở trên, cho phép Luận văn
nhóm các sản phẩm xăng thành một thị trường sản phẩm liên quan, có đặc
tính, mục đích sử dụng và giá cả tương đối khác biệt với thị trường các sản
phẩm xăng dầu khác. Việc xác định thị trường sản phẩm liên quan cụ thể còn
tùy thuộc vào từng trường hợp [13].
- Dầu Diesel
Về đặc tính: Dầu Diesel là một loại nhiên liệu lỏng, nặng hơn dầu hỏa và
xăng. Nhiên liệu diesel được sản xuất chủ yếu từ phân đoạn gasoil và là sản
phẩm của quá trình chưng cất trực tiếp dầu mỏ, có đầy đủ những tính chất lý
24
hóa phù hợp cho động cơ diesel mà không cần phải áp dụng những quá trình
biến đổi hóa học phức tạp.
Theo tiêu chuẩn TCVN 5689:2005, căn cứ vào hàm lượng lưu huỳnh có
trong dầu diesel, tại thị trường Việt Nam hiện nay lưu thông phổ biến 2 loại
dầu diesel: loại dầu diesel có hàm lượng lưu huỳnh là 500 mg/kg, ký hiệu là
DO 0.05S và loại dầu diesel có hàm lượng lưu huỳnh 2500 mg/kg, ký hiệu là
DO 0.25S.
Về cơ bản, các loại nhiên liệu diesel có thể được sử dụng thay thế cho
nhau tùy vào mục đích của người sử dụng cân nhắc giữa độ bền của thiết bị,
động cơ và chi phí, giá cả nhiên liệu.
Về mục đích sử dụng và giá cả: nhiên liệu diesel được sử dụng cho động


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status