Quản lý nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh
xăng dầu ở Việt Nam Nguyễn Quang Tuấn Trường Đại học Kinh tế
Luận văn ThS. ngành: Kinh tế Chính trị; Mã số: 60 31 01
Người hướng dẫn: PGS.TS. Phạm Văn Dũng
Năm bảo vệ: 2008 Abstract. Hệ thống hóa một số lý luận chung về quản lý nhà nước trong lĩnh vực
kinh doanh xăng dầu. Khảo sát quản lý nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh xăng
dầu ở Trung Quốc, rút ra bài học kinh nghiệm về nâng cao vai trò của quản lý nhà
nước trên lĩnh vực này. Phân tích, đánh giá năng lực quản lý nhà nước trong kinh
doanh xăng dầu ở Việt Nam, chỉ ra những điểm yếu và hạn chế về năng lực quản lý
nhà nước hiện nay. Đề xuất quan điểm và những giải pháp cơ bản, cụ thể là tạo lập
môi trường kinh doanh bình đẳng cho doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế;
chuyển dần các doanh nghiệp xăng dầu sang kinh doanh theo cơ chế thị trường; quản
lý chặt chẽ chất lượng xăng dầu cung ứng cho thị trường và có các chính sách hỗ trợ,
điều tiết thị trường, nhằm nâng cao quản lý nhà nước trong kinh doanh xăng dầu khi
tham gia hội nhập kinh tế quốc tế.
Keywords. Kinh doanh; Năng lượng; Quản lý nhà nước; Xăng dầu Content
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu ở Việt Nam” làm đề tài luận văn của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Trong cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hoá tập trung-hành chính-bao cấp, nhà nước là
người cung ứng duy nhất sản phẩm xăng dầu cho nền kinh tế. Do đó, hoạt động cung ứng loại
sản phẩm này chủ yếu xuất phát từ yêu cầu của kế hoạch hoá nền kinh tế quốc dân. Bởi vậy,
các công trình nghiên cứu về lĩnh vực này không nhiều.
Trong quá trình đổi mới kinh tế, phát triển kinh tế thị trường, xăng dầu trở thành hàng
hoá và có thị trường riêng. Hiện nay, trên thị trường xăng dầu nội địa đã và đang phát triển
các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu.
Tuy nhiên, kinh doanh xăng dầu và quản lý kinh doanh xăng dầu vẫn là vấn đề mới
đối với Việt Nam. Do đó, những công trình nghiên cứu về lĩnh vực này chưa nhiều.
3. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
Luận văn nghiên cứu quản lý nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu dưới góc
độ Kinh tế chính trị. Do đó, luận văn đặc biệt quan tâm phân tích hoạt động kinh doanh xăng
dầu dưới sự tác động của môi trường thể chế, các chính sách của nhà nước…
- Phạm vi nghiên cứu:
Luận văn nghiên cứu quản lý nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu Việt Nam
từ khi Việt Nam nộp đơn xin gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (năm 1994) đến nay.
4. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích:
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận chung về quản lý nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh
xăng dầu, phân tích thực trạng quản lý nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu ở Việt
Nam để đưa ra quan điểm và những giải pháp cơ bản nhằm nâng cao vai trò quản lý nhà nước
trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
- Nhiệm vụ:
Hệ thống hóa một số lý luận chung về quản lý nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh
xăng dầu.
Khảo sát quản lý nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu ở Trung Quốc và rút
ra bài học kinh nghiệm về nâng cao vai trò quản lý nhà nước trong lĩnh vực kinh
vực kinh doanh xăng dầu ở Việt Nam trong thời gian tới CHƢƠNG 1:
QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC TRONG LĨNH VỰC KINH DOANH XĂNG DẦU: CƠ SỞ LÝ
LUẬN VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ
1.1. KHÁI LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG LĨNH VỰC KINH DOANH
XĂNG DẦU
1.1.1. Thị trƣờng xăng dầu
1.1.1.1. Sản phẩm xăng dầu
Sản phẩm xăng dầu có những đặc điểm quan trọng sau:
Thứ nhất, xăng dầu là chất lỏng, nguy cơ cháy nổ cao. Do đặc tính lý hóa, xăng dầu
dễ bắt lửa, thậm chí những va chạm mạnh cũng có thể gây cháy nổ. Thứ hai, xăng dầu
là loại sản phẩm dễ bị hao hụt do khả năng bốc hơi rất mạnh. Đồng thời, việc đo lường, tính
toán khối lượng sản phẩm qua thời gian cần có phương pháp khoa học.
Thứ ba, xăng dầu là loại sản phẩm độc hại. Quá trình khai thác, chế biến cũng như
vận chuyển, phân phối, bảo quản có thể gây rò rỉ hoặc tai nạn, ảnh hưởng xấu đến môi
trường, đến sức khỏe con người.
Thứ tƣ, xăng dầu là nguồn nhiên liệu của nhiều ngành kinh tế, tức là đầu vào không
thể thiếu được của nhiều ngành kinh tế. Khi lượng xăng dầu không đáp ứng được nhu cầu,
đương nhiên, quy mô các hoạt động kinh tế bị suy giảm. Khi giá xăng dầu tăng cao, chi phí
sản xuất nhiều loại hàng hoá, dịch vụ khác cũng tăng lên.
1.1.1.2. Vai trò của thị trƣờng xăng dầu
Thị trường xăng dầu - cũng như các thị trường khác - có những ưu điểm chủ yếu sau:
- Năng động. Bất cứ nhu cầu nào về xăng dầu xuất hiện, lập tức thị trường hướng tới thoả
mãn các nhu cầu đó. Thị trường xăng dầu cho phép người tiêu dùng tiếp cận được với những
sản phẩm xăng dầu của thế giới phù hợp với nhu cầu của họ về cả số lượng và chất lượng.
- Hiệu quả. Thị trường xăng dầu góp phần phân bổ các nguồn lực một các hiệu quả. Khi giá
xăng dầu tăng lên, một mặt nó sẽ làm tăng chi phí sản xuất của nhiều loại sản phẩm, ảnh
mang tính cạnh tranh ở các vùng, địa phương. Ngày nay, thị trường xăng dầu thế giới đang bị
những tập đoàn dầu mỏ khổng lồ chi phối.
1.1.2. Nội dung của quản lý nhà nƣớc trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu
1.1.3.1. Quản lý các chủ thể kinh doanh
Do đặc điểm của thị trường xăng dầu, khả năng gia nhập thị trường của doanh nghiệp
rất hạn chế. Trong điều kiện thị trường xăng dầu thế giới bị chi phối bởi các tập đoàn dầu mỏ
khổng lồ, các doanh nghiệp xăng dầu của các nước đang phát triển không dễ tồn tại và phát
triển. Do đó, nhà nước có vai trò quan trọng trong việc tạo lập các doanh nghiệp trong lĩnh
vực này.
Sản phẩm xăng dầu có vai trò rất quan trọng với sản xuất và đời sống nhưng lại có thể
gây cháy nổ, ô nhiễm môi trường Do đó, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp kinh doanh
xăng dầu rất cao. Trong khi đó, mục tiêu của doanh nghiệp là lợi nhuận nên không phải lúc
nào doanh nghiệp cũng chú ý đầy đủ trách nhiệm của mình.
1.1.3.2. Quản lý giá cả
Do đặc điểm của sản phẩm xăng dầu, thị trường xăng dầu mang tính độc quyền rất rõ
rệt. Mặc dù trên thị trường xăng dầu không phải chỉ có một doanh nghiệp hoạt động nhưng số
lượng doanh nghiệp không nhiều, họ biết nhau và có thể thỏa thuận với nhau để chi phối thị
trường. Đây là hiện tượng độc quyền nhóm. Chống độc quyền là chức năng của nhà nước
trong cơ chế thị trường.
1.1.3.3. Quản lý số lƣợng, chất lƣợng
Do đặc điểm của sản phẩm xăng dầu, người tiêu dùng không đủ thông tin về sản
phẩm. Trên thị trường xăng dầu, người mua không đủ điều kiện kiểm định về số lượng, chất
lượng sản phẩm. Sự không đảm bảo về số lượng, chất lượng sản phẩm xăng dầu không chỉ
làm tổn hại lợi ích người tiêu dùng, mà còn làm tổn hại lợi ích xã hội. Bảo vệ quyền lợi người
tiêu dùng là chức năng của nhà nước.
1.1.3.4. Các chính sách điều tiết, hỗ trợ
Trƣớc hết, tạo lập môi trường cạnh tranh trên thị trường xăng dầu. Đây là chính sách
quan trọng nhất để chống độc quyền trên thị trường xăng dầu. Để tạo lập môi trường này, nhà
nước cần tạo điều kiện cho tất cả các thành phần kinh tế tham gia kinh doanh trên thị trường
xăng dầu và cạnh tranh với nhau thật sự bình đẳng.
Trung Quốc đã nhập khẩu hơn 40,5% tổng lượng dầu tiêu thụ trong cả nước. Nhập khẩu dầu
của Trung Quốc đang tăng lên mức quá cao. Theo Trung tâm nghiên cứu phát triển của Hội
đồng Quốc gia, nhu cầu về dầu thô đã đạt tới 318 triệu thùng cho cả năm 2005, trong đó 135
triệu thùng hay 42,5% là được nhập khẩu.
1.2.2. Quản lý nhà nƣớc đối với thị trƣờng xăng dầu
Nền kinh tế Trung Quốc những năm qua tăng trưởng rất cao nên để đảm bảo tốc độ
tăng trưởng kinh tế bền vững, đến nay Trung Quốc vẫn thực hiện cơ chế quản lý đối với giá
bán lẻ xăng dầu, mặc dù họ đang tìm thời điểm thích hợp đó tự do hóa giá xăng dầu.
Chính phủ Trung Quốc đã xây dựng và dựa vào hai doanh nghiệp kinh doanh xăng
dầu lớn nhất của Trung Quốc là Tổng Công ty xăng dầu Quốc gia Trung Quốc và Tổng Công
ty xăng dầu và hóa chất Trung Quốc để duy trì sự ổn định của thị trường. Chính phủ tuyên
bố thực hiện hai giải pháp để giải quyết vấn đề xăng dầu. Trước tiên nhiều kênh cung cấp dầu
thô hơn sẽ được mở, đặc biệt là dầu Diezel; Thứ hai, công suất sản xuất và sản lượng của dầu
thô, dầu tinh chế trong nước sẽ tăng lên. Hai Tổng công ty nhà nước nêu trên đã nỗ thực hiện
các yêu cầu của nhà nước.
Các giải pháp này sự hỗ trợ làm giảm bớt tình trạng căng thẳng về xăng dầu trên thị
trường và nhận được sự ủng hộ không những của dân chúng và nhiều nhà kinh tế, nhà quản
lý. Nhưng nhiều người cho rằng cơ chế định giá hiện tại phải thay đổi nếu Chính phủ muốn
giải quyết vấn đề dầu mỏ và thị trường cần phải được coi là hướng giải quyết chính.
Vì Trung Quốc còn có nhiều cải tổ khác nên họ vẫn đang bước tiếp theo hướng thận
trọng. Tháng 6 năm 1998, Chính phủ Trung Quốc đã loại bỏ chính sách ấn định giá dầu mỏ
trong nhiều thập kỷ và thiết lập "giá định hướng của Nhà nước", giá bán lẻ được phép giao
động trong khoảng + 5% so với giá định hướng của Nhà nước. Năm 2000, Chính phủ bắt đầu
liên kết việc định giá với thị trường quốc tế, sử dụng giá dầu trên thị trường Singapore như là
một tham chiếu trong việc thiết lập “giá định hướng” đối với thị trường nội địa. Nguyên tắc là
khi giá cả tại Singapore giao động vượt khoảng +8% so với “giá định hướng” thì Trung Quốc
sẽ điều chỉnh giá định hướng. Đến tháng 11 năm 2001, Trung Quốc bắt đầu quan sát không
phải với một thị trường Singapore mà là 3 thị trường nước ngoài - Singapore, Rotterdam,
New York – và sử dụng giá bình quân gia quyền của ba thị trường này như một giá tham
chiếu cho việc định giá nội địa. Đến năm 2006, giá bán lẻ xăng dầu được các doanh nghiệp
3. Do tính chất đặc biệt của sản phẩm xăng dầu và thị trƣờng xăng dầu, cần phải có
công cụ phòng ngừa rủi ro. CHƢƠNG 2:
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC TRONG LĨNH VỰC KINH DOANH XĂNG
DẦU Ở VIỆT NAM
2.1. KHÁI QUÁT VỀ THỊ TRƯỜNG XĂNG DẦU Ở VIỆT NAM
ở nước ta, được sự quan tâm của Đảng và Chính phủ, ngành năng lượng đã có sự phát
triển mạnh trong thời gian qua: Tốc độ tăng trưởng năng lượng so với tăng trưởng GDP trong
các năm 1990 - 2002 là 1,4 lần, đã đáp ứng nhu cầu năng lượng cho phát triển kinh tế xã hội
của đất nước, trong đó trên 90% là năng lượng hoá thạch. Năm 2003 tiêu thụ năng lượng cuối
cùng bình quân là: 204kg TOE/người, mới chỉ bằng 20% mức bình quân thế giới, thấp hơn
các nước trong khu vực. Hiệu suất sử dụng năng lượng ước khoảng 35%, do công nghệ và
thiết bị khai thác, chế biến cũng như sử dụng còn lạc hậu. Từ nước xuất khẩu năng lượng
(dầu thô, than), Việt Nam sẽ thiếu hụt và phải nhập khẩu năng lượng trước năm 2020. Cột
mốc thời gian thả nổi các mặt hàng xăng dầu được đề nghị là cuối năm 2008. Giá xăng dầu
thả nổi theo giá thế giới có thể ảnh hưởng xấu đến chi phí kinh doanh của các doanh
nghiệp Việt Nam và tạo ra cơ hội để lạm phát tiếp tục đe dọa nền kinh tế mỗi khi giá xăng
dầu thế giới tăng lên và từ đó sự ảnh hưởng đến đời sống của người dân.
Theo cam kết, khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Việt Nam chưa mở
cửa thị trường xăng dầu ngay mà thực hiện theo từng giai đoạn, đến năm 2009 sẽ mở cửa
hoàn toàn. Trong quá trình đàm phán với các đối tác, Việt Nam đã phải chấp nhận nhượng bộ
không ít để giữ được ngành hàng quan trọng này. Như vậy, ngành xăng dầu Việt Nam đã đến
lúc phải hội nhập thị trường xăng dầu thế giới.
2.2. TÌNH HÌNH QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG LĨNH VỰC KINH DOANH XĂNG
DẦU Ở VIỆT NAM
2.2.1. Quản lý các chủ thể kinh doanh xăng dầu
Việt Nam hiện có 11 đầu mối nhập khẩu xăng dầu, trong đó Tổng Công ty Xăng dầu
Thương) đưa ra. Song trên thực tế, từ khi thực hiện Quyết định 187, gần như tất cả các quyết
định về điều chỉnh giá xăng dầu đều do liên bộ quyết định. Sau một thời gian thực hiện, cơ
chế điều hành, quản lý xăng dầu theo Quyết định 187 đó được thay thế bằng Nghị định 55.
Cơ chế mới cho phép doanh nghiệp tự quyết định giá bán lẻ xăng dầu, khắc phục tình trạng
giá dầu thế giới tăng - giảm đột biến nhưng giá bán lẻ trong nước không theo kịp, gây thiệt
hại đến quyền lợi của người tiêu dùng, doanh nghiệp cũng như Nhà nước.
Để tránh tình trạng tùy tiện tăng giá, các doanh nghiệp muốn tăng giá phải báo cáo
mức giá tăng với liên bộ Tài chính – Công Thương. Nếu thấy bất hợp lý, yêu cầu này sẽ
không được chấp nhận. Nhiều doanh nghiệp đánh giá đây sẽ là bước đột phá trong việc điều
hành, kinh doanh xăng dầu. Thế nhưng, cùng với việc giá dầu thô trên thế giới tăng liên tục
trong thời gian gần đây khiến doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu đều kêu lỗ. Cơ quan quản lý
cũng thừa nhận là doanh nghiệp đang kinh doanh… lỗ nhưng vẫn không đồng ý cho tăng giá
vì lý do kiềm chế giá cả.
Tuy nhiên, thả nổi giá bán lẻ xăng dầu sẽ kéo theo sự bùng nổ giá của nhiều mặt hàng
thiết yếu khác, làm tăng chỉ số giá tiêu dùng (CPI), gây tác động xấu đến mức tăng trưởng
kinh tế. Từ nay đến cuối năm, Việt Nam phải bù lỗ xăng dầu 8.000 tỷ – 9.000 tỷ đồng và tiền
này được trích từ ngân sách. Bộ Tài chính cho rằng, một số nước trong khu vực Đông Nam Á
như Indonesia hay Philippin vẫn trợ giá cho ngành xăng dầu nội địa. Việt Nam cũng sự duy
trì ở mức độ cần thiết, nhưng theo cam kết, phải dần xóa bỏ hoàn toàn.
Việc chính phủ ban hành Nghị định số 55/2207/NĐ-CP về kinh doanh xăng dầu đã
nhận được sự hoan nghênh, ủng hộ rộng rãi của dư luận, nhưng cũng có lo ngại về một số
nguy cơ gây tổn hại lợi ích của người tiêu dùng và cạnh tranh không lành mạnh, đặc biệt là
nguy cơ xuất hiện các liên minh độc quyền để thao túng thị trường. Vì vậy, cùng với việc trao
quyền tự quyết định giá bán xăng dầu theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước,
Nghị định 55 nghiêm cấm các hành vi đầu cơ, trục lợi, liên kết tăng giá bán làm mất ổn định
thị trường và các quy định khá cụ thể về thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm của các doanh
nghiệp tham gia thị trường. Hơn nữa, Luật cạnh tranh cũng xử lý rất nghiêm khắc hành vi
này.
Đặc biệt, xăng dầu là mặt hàng thiết yếu có ảnh hưởng to lớn tới nhiều ngành, nhiều
lĩnh vực của nền kinh tế, Cục Quản lý cạnh tranh sẽ đặc biệt quan tâm tới vấn đề này. Là cơ
bán xăng pha kém chất lượng diễn ra khá phổ biến. Một số cửa hàng, đại lý kinh doanh xăng,
dầu còn pha trộn xăng A83 hay dầu KO hoặc dầu DO vào xăng A92 để bán theo giá xăng
A92.
Để chấn chỉnh tình trạng này, đã đến lúc cần có những biện pháp mạnh ngoài xử phạt
vi phạm hành chính các doanh nghiệp cố tình vi phạm nhiều lần.
2.2.4. Các hỗ trợ khác của nhà nƣớc
Nhà nước chủ trương xây dựng Tổng Công ty Xăng dầu Việt Nam thành trụ cột của
ngành xăng dầu Việt Nam trong cạnh tranh và hội nhập quốc tế và đã tập trung mọi nguồn
lực để thực hiện chương trình hiện đại hóa cơ sở hạ tầng nhằm tạo ra cốt vật chất kỹ thuật
hiện đại theo tiêu chuẩn của hãng xăng dầu quốc gia. Trong 10 năm qua, Tổng Công ty Xăng
dầu Việt Nam đã thực hiện giá trị đầu tư 3.781 tỷ đồng, bình quân 378 tỷ đồng/năm nên đã
tạo ra hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật lớn nhất trong các đơn vị kinh doanh xăng dầu ở Việt
Nam, cấp độ hiện đại và đồng bộ đạt tiêu chuẩn khu vực đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Ngoài ra, nhà nước còn hỗ trợ thị trường xăng dầu bằng giảm hoặc miễn thuế khi giá
xăng dầu thế giới tăng cao.
2.3. ĐÁNH GIÁ CHUNG
2.3.1. Những thành tựu
2.3.1.1. Ổn định giá cả xăng dầu, từ đó góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, chống lạm phát.
Nhờ sự can thiệp của nhà nước, đặc biệt sự kiểm soát giá xăng dầu của nhà nước, mặc
dù giá xăng dầu trên thị trường thế giới biến động rất mạnh nhưng giá xăng dầu ở Việt Nam
khá ổn định và thấp hơn khá nhiều so với giá xăng dầu thế giới. Điều đó đã góp phần ổn định
chi phí đầu vào của nhiều ngành sản xuất, từ đó góp phần hạn chế tốc độ tăng giá. Điều này
góp phần thực hiện chính sách chống lạm phát của chính phủ.
Nhờ giá xăng dầu khá ổn định, đời sống của một bộ phận người nghèo: lái xe ôm, tắc
xi, nuôi trồng, đánh bắt thuỷ sản… được ổn định.
2.3.1.2. Tạo lập đƣợc những tiền đề quan trọng cho việc chuyển sang kinh doanh xăng dầu
theo cơ chế thị trƣờng.
Trước hết, hàng loạt những văn bản pháp luật được ban hành đã tạo ra hành lang pháp
lý cho việc chuyển hoạt động kinh doanh xăng dầu sang cơ chế thị trường. Hành lang pháp lý
trọng cần phải làm để nền kinh tế nước ta thực sự hội nhập với nền kinh tế thế giới. Vấn đề
quan trọng là phải tuỳ vào tình hình cụ thể, từ đó đưa ra lộ trình thực hiện hợp lý, đảm bảo
hài hoà lợi ích của người dân, doanh nghiệp và Nhà nước.
2.3.2.2. Sự chuẩn bị những điều kiện cần thiết cho việc kinh doanh xăng dầu theo cơ chế thị
trƣờng còn rất chậm chạp.
Hiện nay, thị trường xăng dầu Việt Nam vẫn đang dựa vào 11 doanh nghiệp xăng dầu
nhà nước, trong đó riêng Tổng công ty xăng dầu Việt Nam (Petrolimex) đã chiếm tới 60% thị
phần. Do đó, nguy cơ độc quyền trên thị trường xăng dầu Việt Nam khi nhà nước bỏ can
thiệp theo kiểu hành chính bao cấp là rất cao.
Minh bạch thông tin về hoạt động của các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu là rất
cần thiết cho việc xây dựng thị trường xăng dầu mang tính cạnh tranh. Tuy nhiên, đến tận
thời điểm này, điều đó vẫn chỉ là dự kiến và chưa biết đến bao giờ mới trở thành hiện thực.
Các cơ quan chức năng cũng như dư luận xã hội khá đồng thuận trong việc xây dựng
quỹ bình ổn thị trường xăng dầu. Tuy nhiên, cho đến thời điểm này, quỹ bình ổn thị trường
xăng dầu chưa biết đến bao giờ mới được triển khai thực hiện. Trong khi đó, chính phủ lại
chủ trương trợ cấp do giá xăng dầu tăng cho người nghèo, cho ngư dân… Điều này cho thấy
chính phủ đang lúng túng trong quá trình xây dựng thị trường xăng dầu. Hơn nữa, biện pháp
này có thể nảy sinh nhiều tiêu cực và trái với quy định của WTO. CHƢƠNG 3:
CÁC QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO VAI TRÒ QUẢN LÝ NHÀ
NƢỚC TRONG LĨNH VỰC KINH DOANH XĂNG DẦU Ở VIỆT NAM TRONG
THỜI GIAN TỚI
3.1. BỐI CẢNH MỚI ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG LĨNH VỰC
KINH DOANH XĂNG DẦU Ở VIỆT NAM
3.1.1. Bối cảnh quốc tế
3.1.1.1. Nền kinh tế thế giới tiếp tục tăng trƣởng, nhu cầu xăng dầu tiếp tục tăng cao
Trong 5 năm qua, kinh tế thế giới đã đạt tốc độ tăng trưởng cao, từ 3,1% (2002) đến
và quyết liệt, không một nền kinh tế nào đứng ngoài sự vận động này. Quá trình này thúc đẩy
mạnh hơn công nghiệp hoá, hiện đại hoá các nền kinh tế còn lại của thế giới, làm tăng nhu
cầu tiêu dùng dầu mỏ lên mức cao hơn. Ở các nước đang phát triển, đời sống của một bộ
phận dân cư (nhất là bộ phận công chức, quan chức) tăng lên nhanh chóng là cho nhu cầu
năng lượng, trong đó có xăng dầu tăng lên nhanh chóng.
Thứ ba, thời tiết biến đổi khác thường, trái quy luật gây tác động xấu vào đời sống
kinh tế - xã hội và dân sinh. Vì vậy, nhu cầu về năng lượng (xăng dầu) để khắc phục hậu quả
của thiên tai là rất lớn.
Mặc dù nhu cầu về xăng dầu là rất cao song khả năng cung ứng có hạn. Tình trạng
mất cân đối cung cầu ở mức cao thường xuyên diễn ra do các yếu tố sau:
- Dầu mỏ đã được khai thác hàng trăm năm, tới nay đã bắt đầu vào thời kỳ suy kiệt.
- Công nghệ khai thác và hoá dầu lạc hậu, năng suất khai thác chế biến thấp đã giảm
đáng kể lượng cung trên thị trường.
- Dầu trở thành công cụ phục vụ mục tiêu chính trị. Do vị trí của dầu ngày càng quan
trọng, tác động nhiều mặt và sâu sắc tới đời sống kinh tế - xã hội như vậy nên bằng nhiều
giải pháp, các cường quốc thế giới và khu vực tranh nhau gây ảnh hưởng giành quyền chi
phối nguồn dầu mỏ.
3.1.1.3. Thị trƣờng xăng dầu thế giới tiếp tục chịu ảnh hƣởng mạnh mẽ của các nhân tố:
chính trị, xã hội
Mâu thuẫn giữa một số nước, các khu vực, đặc biệt là mâu thuẫn giữa các nước
Phương Tây và một số nước Hồi giáo gây tác động xấu đến đời sống kinh tế, chính trị trên
phạm vi toàn cầu, trong đó có thị trường xăng dầu. Khi giá dầu thế giới trong vài tuần qua
đang trên đà giảm do nhu cầu có xu hướng giảm, Iran, nước sản xuất dầu đứng thứ hai trong
Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) lập tức đề nghị OPEC phải bàn đến việc kiểm
soát hạn ngạch của các nước thành viên trong cuộc họp vào tháng 9 năm 2008. Trong trường
hợp giá dầu thô vẫn tiếp tục chiều hướng giảm, một trong những vấn đề quan trọng mà OPEC
phải họp bàn chính là vấn đề áp đặt hạn ngạch. Với vai trò điều phối thị trường, OPEC cần
phải kiểm soát hạn ngạch các nước thành viên một cách chặt chẽ”, hãng thông tấn IRNA đã
trích lời của Bộ trưởng Năng lượng Iran Gholam Hossein Nozari.
Tổng thống Venezuela, đồng thời cũng là một nhân vật quan trọng của OPEC– Ông
ta phải chịu một tác động không nhỏ từ sự tăng, giảm của giá dầu thế giới. Trong năm nay,
các chuyên gia kinh tế hàng đầu trên thế giới đều có chung nhận định rằng giá dầu thế giới sự
biến đổi rất khó lường, điều này được minh chứng khi giá dầu trên thế giới đó có lúc vượt
ngưỡng 100 USD/thùng ngay trong những ngày đầu năm. Thậm chí, tập đoàn tài chính hàng
đầu thế giới Goldman Sachs còn đưa ra dự đoán rằng giá dầu thế giới vào cuối năm 2008 có
thể lên tới 150 USD. Và với những diễn biến khó lường như thế này thì lộ trình thực hiện
quản lý giá xăng dầu theo cơ chế thị trường sự cần phải tính toán kỹ lưỡng, nếu không sự gây
áp lực rất lớn đối với nền kinh tế trong nước.
Cũng cần lưu ý rằng, thị trường hoá xăng dầu phải đặt trong bối cảnh Việt Nam đang
phải giải quyết nhiều vấn đề kinh tế vĩ mô quan trọng khác, trong đó nổi bật là chống lạm
phát, ổn định kinh tế vĩ mô. Nếu thị trường hoá xăng dầu không có lộ trình hợp lý có thể ảnh
hưởng xấu đến thực hiện các mục tiêu kinh tế vĩ mô quan trọng này.
3.1.2. Nhà nƣớc chỉ làm những gì thị trƣờng không làm đƣợc hoặc không hiệu quả
Do những đặc điểm của thị trường xăng dầu, nhà nước có vai trò đặc biệt quan trọng đối
với sự phát triển của thị trường: khắc phục các khuyết tật. Ngoài những khuyết tật chung của
cơ chế thị trường, thị trường xăng dầu còn có thêm các khuyết tật như: thông tin không cân
xứng giữa người mua và người bán; khó xác định giá cả Những khuyết tật này nếu không
được khắc phục sẽ cản trở sự vận hành, phát triển của chính thị trường.
Không những thế, nhà nước còn phải tạo lập điều kiện và thúc đẩy thị trường xăng dầu
phát triển. Để có thể phát triển được thị trường xăng dầu, nhà nước cần đa dạng hoá các chủ
thể và tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể tham gia vào các hoạt động trên thị trường
này. Nhờ đó, các thành phần kinh tế sẽ đóng góp vào các hoạt động nghiên cứu, ứng dụng
tiến bộ khoa học-công nghệ, hợp tác quốc tế về khoa học-công nghệ
Nhà nước còn có vai trò to lớn trong việc đào tạo nguồn nhân lực cho ngành xăng dầu.
Để có được nguồn nhân lực phục vụ quá trình phát triển thị trường xăng dầu thì các chính
sách phát triển giáo dục& đào tạo, chính sách “trọng dụng nhân tài”, các chính sách sử dụng
và đãi ngộ các nhà khoa học, những chuyên gia đầu ngành là điều có ý nghĩa quyết định.
Nhà nước phải có được cơ chế chính sách phù hợp để thu hút được những nhà khoa học giỏi,
cả trong và ngoài nước, để họ phát huy được tài năng đồng thời đóng góp cho sự phát triển
khoa học-công nghệ nước nhà nói chung, ngành xăng dầu nói riêng.
bước đi bắt buộc.
Để ổn định giá bán và điều hành thị trường trong nước, các doanh nghiệp kinh doanh
xăng dầu phải xây dựng giá đăng ký với liên bộ trong từng chu kỳ, có thể là 3 tháng, 6 tháng
hoặc 9 tháng để hạn chế việc tăng giá, tránh gây sốc cho người tiêu dùng. Song song với việc
hạn chế tăng giá thì việc giảm giá sẽ phải thực hiện khi giá thế giới giảm. Việc giảm giá
không bắt buộc phải theo tần suất, nhưng việc tăng giá thì phải có tần suất, có điều kiện, tiêu
chí rõ ràng.
3.3.4. Quản lý chặt chẽ chất lƣợng xăng dầu cung ứng cho thị trƣờng
Thứ nhất, cần quản lý chặt chẽ về nhãn hiệu và mẫu mã vì xăng dầu là loại hàng hóa
đặc biệt (không bao bì, nhãn mác như các loại hàng hóa thông thường). Ngay cơ quan chức
năng cũng khó nhận biết chính xác mẫu mã, chủng loại, màu sắc của hàng hoá. Vì vậy, các
nhà nhập khẩu phải công khai và có hướng dẫn rõ ràng về đặc điểm để phân biệt chủng loại
xăng dầu, phải đăng ký với cơ quan chức năng để có cơ sở kiểm tra theo dõi.
Thứ hai, tăng cường quản lý trong quá trình giao nhận ở những nơi cấp phát (cảng,
kho) tuân thủ nghiêm ngặt các quy định đo lường và chất lượng
Thứ ba, việc kiểm tra và đánh giá chất lượng xăng dầu phải được trang bị phương tiện
hiện đại mới ngăn chặn được tình trạng pha nước và các loại tạp chất khác.
3.3.5. Các chính sách hỗ trợ, điều tiết
Để tăng trưởng kinh tế, ổn định, cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân, trước hết phải
đảm bảo được những hàng hoá thiết yếu. Khi thị trường xăng dầu đã phát triển, thị trường sẽ
có khả năng đáp ứng yêu cầu này. Trong điều kiện thị trường chưa phát triển, nhà nước
không chỉ phải kiểm soát giá, mà còn phải đảm lượng xăng dầu cần thiết cho nhu cầu của nền
kinh tế.
Các cơ quan chức năng nghiên cứu và triển khai hoạt động quỹ bình ổn xăng dầu
trong năm nay.
Tóm lại, thả nổi giá xăng dầu là tất yếu trong điều kiện hội nhập, nhưng đối với Việt
Nam, để thả nổi giá xăng dầu, nhà nước còn rất nhiều việc phải làm.
KẾT LUẬN
Nước, số 18. 5/2007.
3. Thái Dương: Thị trường hoá giá xăng dầu - Cần chống liên minh độc quyền. Tạp chí
Thuế Nhà Nước, số 16-17. 5/2007.
4. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII,
IX, X. NXB Chính trị Quốc gia.
5. TS. Lê Quý Độ (Chủ biên): Trật tự kinh tế quốc tế 20 năm đầu thế kỷ XXI. NXB Thế
giới. Hà Nội - 2004.
6. Trần Văn Đức: Quản lý nhà nước đối với mặt hàng xăng dầu trong điều kiện hội nhập
kinh tế quốc tế. Tạp chí Quản lý kinh tế, 5/2006.
7. Bùi Ngọc Hiền: Quản lý nhà nước đối với lĩnh vực phân phối bán lẻ xăng dầu. Tạp
chí quản lý kinh tế, 3/2006.
8. Thanh Hoa: Thị trường xăng dầu - một năm nhìn lại. Tạp chí Thương mại số
1+2/2005.
9. Liên Bộ Tài chính và Thương mại (nay là Bộ Công Thương): Quyết định 187/2003.
10. Nguyễn Văn Nam: Quản lý kinh doanh xăng dầu trong điều kiện hội nhập kinh tế
quốc tế. Tạp chí Quản lý kinh tế, 5/2007.
11. PGS.TS. Lưu Văn Nghiêm: Cung – cầu dầu mỏ thế giới và chiến lược phát triển năng
lượng của Việt Nam. Tạp chí Kinh tế và Dự báo, 3/2006.
12. Nghị định 55/2007.
13. PGS. TS. Kim Ngọc: Triển vọng kinh tế thế giới 2020. NXB Lý luận chính trị. Hà
Nội-2005.
14. Niên giám Thống kê Việt Nam 2006. NXB Thống kê. Hà Nội – 2007.
15. Võ Trí Thành, Nguyễn Ánh Dương: Tác động của biến động giá dầu và thị trường
xăng dầu Việt Nam. Tạp chí Quản lý kinh tế, 4/2006.
16. Võ Tấn Phong: Một số vấn đề về môi trường hoạt động và cấu trúc ngành của ngành
xăng dầu Việt Nam. Tạp chí Phát triển kinh tế, số 102/1999.
17. Nguyễn Tiến Thoả: Tác động của giá xăng dầu đến chỉ số giá cả. Tạp chí quản lý kinh
tế, 1/2007.
18. GS.TS. Hồ Sĩ Thoảng: Dầu khí Việt Nam. Tạp chí Thương mại số 12/2003.
19. Viện Kinh tế thế giới: Một số xu hướng phát triển chủ yếu hiện nay của nền kinh tế