Quản lý nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu ở Việt Nam - Pdf 25



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
************
NGUYỄN QUANG TUẤN
QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC TRONG LĨNH VỰC
KINH DOANH XĂNG DẦU Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kinh tế Chính trị
Mã số : 60 31 01 LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS. PHẠM VĂN DŨNG

HÀ NỘI-2008


cao vai trò quản lý nhà n-ớc trong lĩnh vực
kinh doanh xăng dầu ở Việt Nam trong thời gian
tới

60
3.1. Bi cnh mi nh hng n qun lý nh nc trong lnh vc kinh
doanh xng du Vit Nam

60
3.2. Cỏc quan im
75
3.3. Cỏc gii phỏp ch yu
77
KT LUN
87
DANH MC TI LIU THAM KHO
88

2 DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

APEC
: Diễn đang kinh tế Châu Á - Th¸i B×nh D-¬ng
ASEAN
: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á


3
phÇn më ®Çu
1. Tính cáp thiết của đề tài
Nhờ đổi mới, Việt Nam đã đạt được những tiến bộ về kinh tế-xã hội rất
quan trọng. Cuộc sống của người dân Việt Nam ngày một nâng cao, nhu cầu mọi
mặt của con người ngày càng tăng thêm. Những phương tiện giao thông hiện đại
như máy bay, ô tô, xe gắn máy trở thành quen thuộc và cần thiết trong đời sống
của mỗi gia đình. Đồng thời, tăng trưởng kinh tế cao cũng làm cho nhu cầu sử
dụng các nguồn năng lượng, trước hết là xăng dầu tăng nhanh.
Là mặt hàng vật tư thiết yếu và mang tính chiến lược đối với sự phát triển
của đất nước, những năm qua, Nhà nước Việt Nam thực hiện quyền kiểm soát
của mình đối với xuất nhập khẩu xăng dầu thông qua quản lý quyền trực tiếp
xuất nhập khẩu của doanh nghiệp và quy định hạn ngạch nhập khẩu. Trên cơ sở
cân đối nhu cầu xăng dầu hàng năm của nền kinh tế quốc dân, Nhà nước giao
hạn ngạch nhập khẩu cho 11 doanh nghiệp đầu mối. Để bảo đảm xăng dầu cho
sự phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm an ninh quốc phòng, bình ổn giá cả xăng
dầu trên thị trường nội địa và phục vụ đắc lực, có hiệu quả vào sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nhà nước can thiệp rất mạnh vào thị trường
này. Nhà nước thực hiện việc kiểm soát giá đối với xăng dầu. Khi giá xăng dầu
trên thị trường thế giới tăng lên, Nhà nước có thể bình ổn giá bằng việc giảm

đã và đang phát triển các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu.
Tuy nhiên, kinh doanh xăng dầu và quản lý kinh doanh xăng dầu vẫn là
vấn đề mới đối với Việt Nam. Do đó, những công trình nghiên cứu về lĩnh vực
này chưa nhiều.
3. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
Luận văn nghiên cứu quản lý nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh xăng
dầu dưới góc độ Kinh tế chính trị. Do đó, luận văn đặc biệt quan tâm phân tích
hoạt động kinh doanh xăng dầu dưới sự tác động của môi trường thể chế, các
chính sách của nhà nước…
- Phạm vi nghiên cứu:
Luận văn nghiên cứu quản lý nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh xăng
dầu Việt Nam từ khi Việt Nam nộp đơn xin gia nhập Tổ chức Thương mại Thế
giới (năm 1994) đến nay.
4. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 5
- Mục đích:
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận chung về quản lý nhà nước trong lĩnh vực
kinh doanh xăng dầu, phân tích thực trạng quản lý nhà nước trong lĩnh vực kinh
doanh xăng dầu ở Việt Nam để đưa ra quan điểm và những giải pháp cơ bản
nhằm nâng cao vai trò quản lý nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu Việt
Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
- Nhiệm vụ:
 Hệ thống hóa một số lý luận chung về quản lý nhà nước trong lĩnh vực
kinh doanh xăng dầu.
 Khảo sát quản lý nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu ở Trung
Quốc và rút ra bài học kinh nghiệm về nâng cao vai trò quản lý nhà nước
trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu cho Việt Nam.

7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm
có 3 chương:
Chương 1: Quản lý nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu: cơ sở lý luận
và kinh nghiệm quốc tế
Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu ở
Việt Nam
Chương 3: Các quan điểm và giải pháp nhằm nâng cao vai trò quản lý nhà nước
trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu ở Việt Nam trong thời gian tới
7
CHƢƠNG 1:
QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC TRONG LĨNH VỰC
KINH DOANH XĂNG DẦU: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ


Tên chỉ tiêu
Xăng không chì
Phương pháp thử
90
92
95
1
Trị số ốc tan, min
- theo phương pháp nghiên cứu (RON)
- theo phương pháp môtơ (MON)
90
79
92
81
95
84
TCVN 2703:2002
(ASTM D 2699)
ASTM D 2700
2
Hàm lượng chì, g/l, max
0,013
TCVN 7143:2002
(ASTM D 3237)
3
Thành phần cất phân đoạn:
- Điểm sôi đầu,
o
C
- 10% thể tích, max

TCVN 6778:2000
(ASTM D 525)
7
Hàm lượng lưu huỳnh, mg/kg, max
500
TCVN 6701:2000
(ASTM D 2622)/
ASTM D5453
8
Áp suất hơi (Reid) ở 37,8
o
C, kPa
43 - 75
TCVN 7023:2002
(ASTM D 4953)/
ASTM D 5191
9
Hàm lượng benzen, %thể tích, max
2,5
TCVN 6703:2000/
(ASTM D 3606)/
ASTM D4420
10
Hydrocacbon thơm, %thể tích, max
40
TCVN 7330:2003
(ASTM D1319)
11
Olefin, %thể tích, max
38

9
Bảng số 2: Chỉ tiêu chất lƣợng của nhiên liệu Điêzen (TCVN 5689:2005)
TT
Tên chỉ tiêu
Mức
Phƣơng pháp thử
1
Hàm lượng lưu huỳnh, mg/kg,
max.
500
2500
TCVN 6701:2002
(ASTM D 2622)/
ASTM D 5453
2
Chỉ số xêtan, min.
46
ASTM D4737
3
Nhiệt độ cất,
o
C, 90% thể tích,
max.
360
TCVN 2698:2002/
(ASTM D 86)
4
Điểm chớp cháy cốc kín,
o
C,

Hàm lượng tro, %khối lượng,
max.
0,01
TCVN 2690:1995/
ASTM D 482
9
Hàm lượng nước, mg/kg, max.
200
ASTM E203
10
Tạp chất dạng hạt, mg/l, max.
10
ASTM D2276
11
Ăn mòn mảnh đồng ở 50
o
C, 3
giờ, max.
Loại 1
TCVN 2694: 2000/
(ASTM D 130-88)
12
Khối lượng riêng ở 15
o
C, kg/m
3

820 - 860
TCVN 6594: 2000
(ASTM D 1298)/

doanh tăng, lợi nhuận giảm. Và gánh nặng đó chỉ đổ lên vai người tiêu dùng cuối
cùng.
Giá dầu thô cùng các sản phẩm của nó có vị trí hết sức quan trọng. Mức độ ảnh hưởng
của dạng năng lượng này, theo dự báo của Tổ chức Năng lượng thế giới (IEA) còn
kéo dài trong thế kỷ XXI. Giá dầu vẫn cứ là một biến số kinh tế vĩ mô quan trọng.
Khi giá dầu lên cao có thể gây thiệt hại to lớn cho nền kinh tế các nước nhập khẩu dầu
và tác động đến nền kinh tế toàn cầu nói chung, làm cho thương mại quốc tế và đầu tư
suy giảm.
Theo giới chuyên gia quốc tế, giá dầu quá cao gây ra rất nhiều tác động to lớn tới thế
giới. Nhìn chung, đây là điều không có lợi cho tăng trưởng kinh tế toàn cầu, đặc biệt
đối với những nước nhập khẩu nhiều dầu như Mỹ, Trung Quốc, Ấn Độ và những
nước chủ yếu dùng dầu từ nước ngoài như Nhật Bản hay Đức.
Ngân hàng đầu tư Morgan Stanley cảnh báo, nếu giá dầu không giảm bớt, Châu Á có
thể rơi vào tình trạng suy thoái trong thời gian ngắn, do chỉ sản xuất được 10% tổng
nguồn cung dầu thô trên thế giới trong khi lại tiêu thụ tới 24% nên đặc biệt dễ bị tổn
thương trước các cơn sốc giá dầu.
Ngân hàng Phát triển Châu Á tại Manila đã tiến hành điều tra tác động của giá dầu
tăng cao đối với các nền kinh tế trong khu vực. Kết quả cho thấy, giá dầu cứ tăng
thêm 10 USD thì tăng trưởng GDP của khu vực Châu Á sẽ giảm 0,8%.

Nguồn: 11
Xã hội càng phát triển, nhu cầu sử dụng sản phẩm xăng dầu càng tăng.
Việc sử dụng sản phẩm xăng dầu không chỉ đáp ứng nhu cầu sản xuất, mà còn
xuất phát từ nhu cầu nhiều mặt của xã hội: học tập, du lịch, giải trí
1.1.1.2. Vai trò của thị tr-ờng xăng dầu
Trong cơ chế thị tr-ờng, xăng dầu là hàng hoá và sự hình thành, phát triển
của thị tr-ờng xăng dầu - một trong các thị tr-ờng các yếu tố sản xuất là tất

và ng-ời tiêu dùng xăng dầu hiệu quả sẽ nâng cao khả năng cạnh tranh, có cơ hội
phát triển. Loại bỏ đ-ợc nhanh chóng những nhân tố lạc hậu, không hiệu quả;
khuyến khích đ-ợc những nhân tố tích cực hiệu quả sẽ tác động tích cực đến tăng
tr-ởng kinh tế, cải thiện và nâng cao đời sống dân c
Những -u điểm cho thấy, xây dựng, phát triển thị tr-ờng xăng dầu là cần
thiết với tất cả các n-ớc.
1.1.1.3. Các khuyết tật của thị tr-ờng xăng dầu
- Độc quyền. Do tính chất lý hoá của sản phẩm xăng dầu, không phải doanh
nghiệp nào cũng đủ điều kiện kinh doanh. Do đó, số l-ợng doanh nghiệp tham
gia xuất nhập khẩu rất có hạn và hiện t-ợng độc quyền nhóm hoàn toàn có thể
xảy ra. Hơn nữa, địa điểm kinh doanh bán lẻ xăng dầu cũng mang tính độc
quyền. Do đó, khả năng độc quyền giá bán lẻ xăng dầu hoàn toàn có thể xảy ra.
Thậm chí, các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu có thể ngừng cung ứng sản
phẩm cho thị tr-ờng trong một khoảng thời gian nhất định. Khi điều đó xảy ra,
sản xuất và đời sống sẽ bị ảnh h-ởng hết sức mạnh mẽ. Vì vậy, nhà n-ớc phải
can thiệp chống độc quyền, không những về giá cả, mà cả mà cả việc cung ứng
hàng hoá cho thị tr-ờng.
Ngày nay thị tr-ờng xăng dầu mang tính toàn cầu. Trên thị tr-ờng xăng
dầu thế giới, Tổ chức xuất khẩu dầu (OPEC) và các tập đoàn dầu mỏ của thế giới
giữ vai trò chi phối, thao túng giá cả.
Hp s 2: Mu toan ca OPEC qua con bi du m

Cn súng thn ng USD v du khớ ton cu s dn ti s dch chuyn ti sn ln
nht trong lch s ch ngha t bn.
Giỏ du cao k lc hin nay ang mang li hng nghỡn t USD thu nhp cho cỏc thnh
viờn ca T chc Cỏc nc xut khu du m (OPEC) v cỏc nc Arp giu cú
vựng Vnh ang s dng nhng khon li nhun du khng l ny bin cỏc nn
kinh t ca h thnh nhng nn kinh t ln trờn th gii.
Nhng gn õy, nhiu ngun phõn tớch bt u khng nh cỏc nh lónh o th trng


Năm 2008, dựa trên một dự báo mới về giá trung bình 110 USD/thùng của Cơ quan
thông tin về năng lượng của chính phủ Mỹ (EIA), nguồn thu từ dầu của OPEC sẽ tăng
57% lên 1.000 tỷ USD. Thực tế, nhiều nhà phân tích cho rằng, giá dầu sẽ còn cao hơn
dự báo của EIA.
Các nhà phân tích tại Tập đoàn Goldman Sachs Group Inc. cho biết, giá dầu thô có thể
lên tới 150 USD/thùng trong năm nay và lên 200USD/thùng vào năm 2009. Cơn sóng
thần đồng USD dầu khí toàn cầu sẽ dẫn tới sự dịch chuyển tài sản lớn nhất trong lịch
sử chủ nghĩa tư bản.
14

- Ng-ời mua không có khả năng kiểm soát số l-ợng, chất l-ợng sản phẩm. Do
đặc tính lý hoá của sản phẩm xăng dầu, việc thẩm định số l-ợng, chất l-ợng sản
phẩm đòi hỏi phải có những ph-ơng tiện đặc biệt. Nhìn chung, ng-ời tiêu dùng
xăng dầu không đủ khả năng thẩm định số l-ợng, chất l-ợng sản phẩm và lợi ích
của họ bị tổn hại.
- Hoạt động đầu cơ mang tính phổ biến. Nguồn cung về dầu mỏ là có hạn. Trong
khi đó, nhu cầu sử dụng xăng dầu mang tính th-ờng xuyên, thậm chí có thời
điểm tăng đột biến (mùa đông giá lạnh ở một số quốc gia). Ngay hệ thống bán lẻ
xăng dầu cũng không thể trải đều, mang tính cạnh tranh ở các vùng, địa ph-ơng.
Ngày nay, thị tr-ờng xăng dầu thế giới đang bị những tập đoàn dầu mỏ khổng lồ
chi phối.

Hp s 3: Ch tch OPEC: Giỏ du tng do u c

Ch tch T chc cỏc nc xut khu du m (OPEC) Chakib Khelil khng nh, giỏ
du th gii tng cao trong thi gian gn õy khụng liờn quan n cung cu, m do
yu t u c.

nghiệp là lợi nhuận nên không phải lúc nào doanh nghiệp cũng chú ý đầy đủ
trách nhiệm của mình. Quản lý nhà n-ớc đối với các chủ thể kinh doanh xăng
dầu nhằm nâng cao tri thức, hiểu biết, kỹ năng của họ; buộc họ phải thực hiện
các nghĩa vụ, trách nhiệm là rất cần thiết.
1.1.3.2. Quản lý giá cả
Do đặc điểm của sản phẩm xăng dầu, thị tr-ờng xăng dầu mang tính độc
quyền rất rõ rệt. Mặc dù trên thị tr-ờng xăng dầu không phải chỉ có một doanh
nghiệp hoạt động nh-ng số l-ợng doanh nghiệp không nhiều, họ biết nhau và có
thể thỏa thuận với nhau để chi phối thị tr-ờng. Hiện nay ở Việt Nam, nhà n-ớc
giao cho 11 doanh nghip ln cú chc nng nhp khu v phõn phi xng du.
Cỏc doanh nghip ny mc dự cnh tranh vi nhau nhng h hon ton cú th liờn
kt vi nhau chi phi giỏ c th trng. õy l hin tng c quyn nhúm.
Chng c quyn l chc nng ca nh nc trong c ch th trng.
1.1.3.3. Qun lý s lng, cht lng
Do c im ca sn phm xng du, ngi tiờu dựng khụng thụng tin
v sn phm. Trờn th trng xng du, ngi mua khụng iu kin kim nh
v s lng, cht lng sn phm. Ngi tiờu dựng ch cú th kim nh cht 16
lượng xăng dầu trong quá trình sử dụng. Thậm chí, chỉ khi máy móc không hoạt
động do chất lượng xăng dầu không đảm bảo (xăng dầu có nước lã; xăng dầu có
pha a-xê-tôn; xăng dầu có nhiều cặn…) người sử dụng mới biết được chất lượng
xăng dầu. Sự không đảm bảo về số lượng, chất lượng sản phẩm xăng dầu không
chỉ làm tổn hại lợi ích người tiêu dùng, mà còn làm tổn hại lợi ích xã hội. Bảo vệ
quyền lợi người tiêu dùng là chức năng của nhà nước.
1.1.3.4. Các chính sách điều tiết, hỗ trợ
Do những đặc điểm, tầm quan trọng của xăng dầu và các khuyết tật của thị
trường xăng dầu, nhà nước cần có các chính sách điều tiết, hỗ trợ.
Trƣớc hết, tạo lập môi trường cạnh tranh trên thị trường xăng dầu. Đây là

Trước năm 1992, Trung Quốc vẫn tự cân đối được dầu mỏ. Việc sản xuất
dầu mỏ, lọc dầu và bán dầu được độc quyền bởi Chính phủ thông qua các doanh
nghiệp nhà nước. Do đó, Chính phủ giữ vai trò quyết định trong việc xác định
định giá xăng dầu.
Từ năm 1993 Trung Quốc đã trở thành nhà nhập khẩu ròng các sản phẩm
dầu đã qua tinh chế và từ năm 1996 trở thành quốc gia nhập khẩu ròng về dầu
thô, do Trung Quốc có sự tăng trưởng kinh tế nhanh một cách khác thường.
Nhưng sự phát triển kinh tế đi kèm với việc sử dụng năng lượng kém hiệu quả
trong vòng 26 năm qua đã tạo nên một đất nước khát dầu. Trong năm 1990, tiêu
thụ dầu thô của Trung Quốc ước tính chiếm khoảng 3,5% mức tiêu dùng của
toàn thế giới. Nhưng đến năm 2003 sự tiêu thụ này đã tăng hơn gấp đôi chiếm
7,7%, làm cho Trung Quốc trở thành nước lớn thứ hai về tiêu thụ dầu, mặc dầu
vẫn còn cách khá xa so với Mỹ, nước mà chiếm 25,7% sản lượng tiêu thô dầu
mỏ trên toàn thế giới.
Chính vì vậy đến năm 2003, Trung Quốc đó phải nhập khẩu trung bình 1,8
triệu thùng dầu thô mỗi ngày và việc nhập khẩu dầu chiếm 30% tiêu dùng nội
địa. Năm 2004, Trung Quốc đã nhập khẩu hơn 40,5% tổng lượng dầu tiêu thụ
trong cả nước. Nhập khẩu dầu của Trung Quốc đang tăng lên mức quá cao. Theo
Trung tâm nghiên cứu phát triển của Hội đồng Quốc gia, nhu cầu về dầu thô đã
đạt tới 318 triệu thùng cho cả năm 2005, trong đó 135 triệu thùng hay 42,5% là
được nhập khẩu.
1.2.2. Quản lý nhà nƣớc đối với thị trƣờng xăng dầu 18
Trung Quốc là một quốc gia nhập khẩu ròng về dầu thô và dầu tinh chế.
Tuy nhiên, do nền kinh tế Trung Quốc những năm qua tăng trưởng rất cao nên
để đảm bảo tốc độ tăng trưởng kinh tế bền vững, cho đến nay Trung Quốc vẫn
thực hiện cơ chế quản lý đối với giá bán lẻ xăng dầu, mặc dù Bắc Kinh đang tìm
thời điểm thích hợp đó tự do hóa giá xăng dầu.

nhập khẩu và tuyên bố công khai rằng họ tạm thời ngưng việc xuất khẩu dầu tinh
chế.
Các giải pháp này sẽ hỗ trợ làm giảm bớt tình trạng căng thẳng về xăng dầu trên
thị trường và nhận được sự ủng hộ không những của dân chúng và nhiều nhà
kinh tế, nhà quản lý. Nhưng nhiều người cho rằng cơ chế định giá hiện tại phải
thay đổi nếu Chính phủ muốn giải quyết vấn đề dầu mỏ và thị trường cần phải
được coi là hướng giải quyết chính.
Và cơ chế quản lý giá xăng dầu của Trung Quốc bắt đầu có những thay
đổi quan trọng theo hướng thị trường.
Do tiêu thụ dầu khá nhiều mà nền kinh tế Trung Quốc ngày càng dễ bị tổn
thương trước những biến động giá dầu trên thị trường thế giới. Chính phủ Trung
Quốc cũng nhận thấy rằng chế độ định giá cứng nhắc thực hiện trong nền kinh tế
chỉ huy phải thay đổi. Tuy nhiên, vì Trung Quốc còn có nhiều cải tổ khác nên
Bắc Kinh vẫn đang bước tiếp theo hướng thận trọng. Cụ thể như sau:
Vào tháng 6 năm 1998 Chính phủ Trung Quốc đã loại bỏ chính sách ấn
định giá dầu mỏ trong nhiều thập kỷ và bắt đầu trao cho những người bán lẻ
xăng dầu quyền định giá ở một chừng mực nhất định. Trung tâm chính sách mới
này là Bắc Kinh thiết lập "giá định hướng của Nhà nước" và giá bán lẻ được
phép thả nổi trong khoảng +/- 5% so với giá định hướng của Nhà nước.
Hai năm sau, tức là vào năm 2000, Chính phủ bắt đầu liên kết việc định
giá với thị trường quốc tế, sử dụng giá dầu trên thị trường Singapore như là một
tham chiếu trong việc thiết lập “giá định hướng” đối với thị trường nội địa.
Nguyên tắc là khi giá cả tại Singapore giao động vượt khoảng +8% so với “giá
định hướng” thì Trung Quốc sẽ điều chỉnh giá định hướng.
Sau đó, vào tháng 11 năm 2001, Trung Quốc bắt đầu quan sát không phải
với một thị trường Singapore mà là 3 thị trường nước ngoài - Singapore,
Rotterdam, New York – và sử dụng giá bình quân gia quyền của ba thị trường
này như một giá tham chiếu cho việc định giá nội địa.
doanh nghiệp được kinh doanh xăng dầu thì rõ ràng có thể lo ngại xảy ra tình 21
trạng giá dầu thế giới lên thì giá dầu Trung Quốc lên, giá thế giới giảm thì giá
ở Trung Quốc vẫn giữ nguyên. Khi độc quyền ngành tồn tại thì trên thị trường
giao sau các doanh nghiệp này cũng có thể tham gia thao túng giá, khiến giá giao
sau cũng là giá độc quyền.
Như vậy, thả nổi giá xăng dầu theo giá thế giới để giảm gánh nặng ngân
sách nhà nước là một giải pháp cần được ủng hộ. Chưa kể, với tư cách là thành
viên WTO thì việc trợ giá sẽ không được phép.
Nhưng đi kèm với việc thả nổi giá xăng dầu như ở các nước phát triển thì
người dân cũng phải được phòng ngừa rủi ro ở một chừng mực nhất định. Họ có
thể sử dụng phương tiện phòng ngừa rủi ro giá và ngành xăng dầu phải không bị
độc quyền kinh doanh. Đó là những kho dầu dự trữ khổng lồ, là quỹ bình ổn giá
xăng dầu Đồng thời, các thông tin về thị trường xăng dầu đề được công khai,
minh bạch: biến động giá cả thế giới; số lượng xăng dầu xuất nhập khẩu… để
làm cơ sở cho thị trường định giá xăng dầu.
Ở các nước phát triển như Mỹ, hàng ngày trên thị trường giao sau đều
cung cấp đầy đủ thông tin về tình hình hoạt động kinh doanh, trữ lượng dầu ước
tính của các doanh nghiệp xăng dầu và của quỹ dự trữ xăng dầu quốc gia, giá
xăng dầu thế giới và các dự báo cho người dân. Những biến động tăng giảm giá
xăng dầu trong nước mới có thể mang tính “dự đoán được” và nhờ vậy thị
trường giao sau của Mỹ mới hoạt động hiệu quả, giá cả mới thật sự là do cơ chế
thị trường quyết định.
Kinh nghiệm các nước cho thấy, nếu chính phủ chọn con đường chuyển
hoạt động xăng dầu sang kinh doanh theo cơ chế thị trường thì cần phải thiết lập
một hệ thống thị trường và công cụ kinh doanh đầy đủ (bao gồm công cụ phòng
ngừa rủi ro) cho mặt hàng xăng dầu. Tất nhiên, muốn hệ thống thị trường hoạt
động hiệu quả thì nhất thiết phải chống độc quyền ngành và thực hiện minh bạch

Quốc có thể thấy rằng, nhà nước đã có thời gian chuẩn bị hàng chục năm
cho việc chuyển sang cơ chế thị trường. Ở Trung Quốc, doanh nghiệp nhà
nước cung ứng xăng dầu và chính sách của nhà nước đối với thị trường
xăng dầu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào một
số ít doanh nghiệp nhà nước thì việc xây dựng thị trường xăng dầu sẽ diễn
ra rất chậm chạp. 23
3. Do tính chất đặc biệt của sản phẩm xăng dầu và thị trƣờng xăng dầu, cần
phải có công cụ phòng ngừa rủi ro. Điều này xuất phát từ vai trò quan
trọng của sản phẩm xăng dầu đối với nền kinh tế. 24
CHƢƠNG 2:
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC TRONG LĨNH VỰC
KINH DOANH XĂNG DẦU Ở VIỆT NAM

2.1. KHÁI QUÁT VỀ THỊ TRƯỜNG XĂNG DẦU Ở VIỆT NAM
Năng lượng hiện đang là vấn đề thời sự trên toàn cầu. Vì vậy, các quốc gia
đang hướng tới một liên minh toàn cầu mới, nhằm giải quyết vấn đề an ninh
năng lượng, đi đôi với phát triển bền vững. Trong bối cảnh chung này, nước ta
vẫn đang ở vị trí thấp về hiệu suất sử dụng các dạng năng lượng truyền thống,
cũng như phát triển các dạng năng lượng mới, tái tạo.
Do sự tăng trưởng kinh tế và tăng dân số, nhất là ở các nước đang phát
triển, nhu cầu sử dụng năng lượng trên thế giới tăng nhanh. Hiện nay, các nước
đang phát triển với khoảng 3/4 dân số thế giới tiêu thụ khoảng 25% tổng năng
lượng toàn cầu, Bắc Mỹ tiêu thụ cao nhất, khoảng 7,8 tấn dầu quy đổi (TOE/
người/năm), thấp nhất là vùng Nam Á và Châu Phi khoảng 0,5 TOE (năm 1995)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status