Pháp luật hạn chế cạnh tranh trong hoạt động nhượng quyền thương mại ở việt nam hiện nay - Pdf 48

PHÙNG THỊ NGỌC ÁNH

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

LUẬT KINH TẾ

PHÁP LUẬT HẠN CHẾ CẠNH TRANH TRONG HOẠT ĐỘNG
NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

PHÙNG THỊ NGỌC ÁNH
2014 - 2016
HÀ NỘI – 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ
PHÁP LUẬT HẠN CHẾ CẠNH TRANH TRONG HOẠT ĐỘNG
NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

PHÙNG THỊ NGỌC ÁNH

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 60380107

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. VŨ ĐẶNG HẢI YẾN



NAM...................................................................................................................... 35
2.1. Thực trạng pháp luật thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong hoạt
động nhượng quyền thương mại ở Việt Nam ................................................... 35
2.1.1. Thỏa thuận về giá bán hàng hóa, dịch vụ .................................................. 35
2.1.2. Thỏa thuận phân chia lãnh thổ nhượng quyền ............................................ 41
2.2. Thực trạng pháp luật về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh trong
hoạt động nhượng quyền thương mại ............................................................... 43
2.2.1. Hành vi áp đặt giá bán bất hợp lý gây thiệt hại cho bên nhận quyền................ 43
2.2.2. Hành vi ấn định giá bán lại hoặc ấn định giá bán lại tối thiểu gây thiệt
hại cho khách hàng ................................................................................................ 46
2.2.3. Hành vi buộc bên nhận quyền chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan
trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng ................................................................... 49
CHƯƠNG 3. PHƯƠNG HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN
THIỆN PHÁP LUẬT HẠN CHẾ CẠNH TRANH TRONG HOẠT
ĐỘNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY ..... 54
3.1. Phương hướng hoàn thiện pháp luật hạn chế cạnh tranh trong hoạt
động nhượng quyền thương mại ở Việt Nam hiện nay.................................... 54
3.1.1. Hoàn thiện pháp luật hạn chế cạnh tranh trong hoạt động nhượng
quyền trên cơ sở đảm bảo ghi nhận quy luật khách quan của cạnh tranh trong
quan hệ nhượng quyền thương mại ....................................................................... 54
3.1.2. Hoàn thiện pháp luật hạn chế cạnh tranh trong hoạt động nhượng
quyền trên cơ sở ghi nhận những ngoại lệ hợp lý của pháp luật cạnh tranh
theo hướng phù hợp với bản chất của hoạt động nhượng quyền thương mại ....... 55
3.1.3. Hoàn thiện pháp luật hạn chế cạnh tranh trong hoạt động nhượng quyền
trên cơ sở đảm bảo sự thống nhất, đồng bộ giữa pháp luật điều chỉnh trực tiếp


hoạt động nhượng quyền thương mại (Luật Thương mại) với pháp luật cạnh

Leaf, Cirkle K, Baskin Robbins, Buger King…
Trong khi đó, các doanh nghiệp trong nước cũng bắt đầu tìm cách nhượng
quyền thương hiệu để làm “đòn bẩy” phát triển thị trường, nâng cao giá trị thương
hiệu của mình. Trung Nguyên có thể coi là hình mẫu tiên phong tại Việt Nam áp
dụng hình thức kinh doanh này bằng cách phát triển hệ thống đại lý của mình theo
hình thức nhượng quyền. Đến nay, doanh nghiệp này không những đã mở rộng
chuỗi cửa hàng của mình trên khắp cả nước mà còn mở rộng sang một số nước,

1


như: Nhật Bản, Thái Lan, Trung Quốc, Singapore…Tiếp theo là Phở 24 – một
trong những doanh nghiệp nhượng quyền thành công nhất tại Việt Nam. Bắt đầu
xuất hiện từ năm 2003, chưa đầy 03 năm, Phở 24 đã có trên 20 cửa hàng phở
nhượng quyền trong khắp cả nước, sau đó nhượng quyền sang Phillipine,
Indonesia, Philippines, Hàn Quốc, Australia... Ngoài ra, có thể kể đến Kinh Đô
bakery, thời trang Ninomax, Foci, giày dép T&T... Đặc biệt, T&T là một trong
những doanh nghiệp đầu tiên được Bộ Công Thương cấp phép nhượng quyền sang
Maysia và Australia.
Theo thống kê của Bộ Công Thương, tính đến đầu năm 2016, Việt Nam đã
đón nhận 144 thương hiệu đến từ các quốc gia đăng ký nhượng quyền thương hiệu.
Trong khi đó, chỉ có 5 thương hiệu của Việt Nam đăng ký nhượng quyền thương
hiệu ra nước ngoài ở lĩnh vực cà phê, thời trang như: Trung Nguyên, T&T, Phở
24... Dự báo, thị trường nhượng quyền thương hiệu tại Việt Nam vẫn tiếp tục tăng
trưởng ở mức 25% cùng với sự gia nhập của các thương hiệu quốc tế lớn mạnh và
các thương hiệu đến từ khu vực ASEAN.
Nhượng quyền thương mại là phương thức kinh doanh, theo đó bên nhượng
quyền cấp cho bên nhận quyền quyền độc quyền kinh doanh sản phẩm, dịch vụ của
mình trong một thời gian, dưới nhãn hiệu, kế hoạch kinh doanh của bên nhượng
quyền. Bên nhận quyền là bên sử dụng tên thương mại, bí quyết kinh doanh... của

một phương thức và chất lượng đồng nhất với bên nhượng quyền.
Vì những lẽ trên, khi thiết lập quan hệ nhượng quyền thương mại, các bên
thường có xu hướng thực hiện những hành vi nhằm kiểm soát lẫn nhau do bản chất
vốn có của quan hệ nhượng quyền. Những hành vi này thường chứa đựng yếu tố
hạn chế cạnh tranh, như buộc bên nhận quyền phải mua hàng hóa/nguyên vật liệu
từ một nguồn nhất định hoặc thỏa thuận bên nhận quyền được phép kinh doanh độc
quyền trong một khu vực nhất định (độc quyền lãnh thổ), thỏa thuận cấm cạnh
tranh, thỏa thuận về giá bán hàng hóa/dịch vụ...
Dưới cách nhìn của pháp luật cạnh tranh hiện nay, những hành vi này sẽ bị
cấm khi hội tụ đủ một số điều kiện nhất định. Tuy nhiên, dưới góc nhìn của một
hành vi thương mại, những thỏa thuận này lại không thể không tồn tại trong một
quan hệ nhượng quyền vốn có nhiều tiềm năng cũng như rủi ro phải đối mặt đối với
các bên.
Đặc thù này đòi hỏi pháp luật điều chỉnh trực tiếp hoạt động nhượng quyền
thương mại phải được đặt trong mối quan hệ với pháp luật cạnh tranh. Bởi lẽ, nếu

3


áp dụng các quy tắc chung của pháp luật cạnh tranh để điều chỉnh hoạt động
nhượng quyền thì trong nhiều trường hợp sẽ không phù hợp với bản chất thương
mại của hoạt động nhượng quyền thương mại, không đảm bảo được lợi ích chính
đáng của các bên, từ đó số lượng thương vụ nhượng quyền sẽ ít và lợi ích của nền
kinh tế sẽ bị ảnh hưởng. Ngược lại, nếu pháp luật điều chỉnh hoạt động này
theo đúng bản chất của hoạt động nhượng quyền thương mại thì các chủ thể
tham gia quan hệ sẽ gặp khó khăn trong việc tuân thủ theo những quy định thông
thường của pháp luật cạnh tranh. Điều này sẽ tất yếu dẫn đến việc nhà nước (đặc
biệt là các cơ quan quản lý về cạnh tranh và thương mại) sẽ cảm thấy “bất lực”
trong việc điều hòa lợi ích cạnh tranh và lợi ích kinh tế mà hoạt động nhượng
quyền thương mại mang lại. Chính vì vậy, việc nghiên cứu pháp luật hạn chế

hoạt động nhượng quyền thương mại, từ đó, đưa ra phương hướng và đề xuất giải
pháp hoàn thiện pháp luật hạn chế cạnh tranh trong hoạt động nhượng quyền
thương mại ở Việt Nam.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Thứ nhất, phân tích, làm rõ những vấn đề lý luận về hành vi hạn chế cạnh
tranh trong hoạt động nhượng quyền thương mại. Thông qua đó, làm sáng tỏ cơ
sở phát sinh hành vi hạn chế cạnh tranh trong hoạt động nhượng quyền, lý giải
nguyên nhân của xu hướng thực hiện hành vi hạn chế cạnh tranh trong hoạt động
nhượng quyền và nhận diện các hành vi hạn chế cạnh tranh trong hoạt động
nhượng quyền thương mại.
Thứ hai, phân tích, làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản của pháp luật hạn chế
cạnh tranh trong hoạt động nhượng quyền thương mại như: khái niệm pháp luật
hạn chế cạnh tranh trong hoạt động nhượng quyền thương mại; xác định nội dung
của pháp luật hạn chế cạnh tranh trong hoạt động nhượng quyền thương mại.
Thứ ba, phân tích thực trạng pháp luật hạn chế cạnh tranh trong hoạt động
nhượng quyền thương mại ở Việt Nam hiện nay.
Thứ tư, đề xuất các định hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật hạn
chế cạnh tranh trong hoạt động nhượng quyền thương mại ở Việt Nam hiện nay,
đảm bảo vừa phù hợp với thông lệ quốc tế, vừa phù hợp với đặc thù của Việt
Nam.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận văn

5


- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là pháp luật hạn chế cạnh tranh trong
hoạt động nhượng quyền thương mại.
- Nghiên cứu pháp luật điều chỉnh hành vi hạn chế cạnh tranh diễn ra giữa
các bên nhượng quyền và nhận quyền trong cùng một hệ thống nhượng quyền
thương mại trên thực tế, như: Hành vi thỏa thuận về giá bán hàng hóa, dịch vụ;


CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HẠN CHẾ CẠNH TRANH TRONG
HOẠT ĐỘNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI VÀ PHÁP LUẬT
HẠN CHẾ CẠNH TRANH TRONG HOẠT ĐỘNG NHƯỢNG QUYỀN
THƯƠNG MẠI
1.1. Những vấn đề lý luận chung về hoạt động nhượng quyền thương mại
1.1.1. Khái niệm hoạt động nhượng quyền thương mại
Nhượng quyền thương mại là phương thức kinh doanh hình thành từ khá lâu ở
các quốc gia phát triển và đã được minh chứng tính hiệu quả kinh tế. Nhượng
quyền thương mại tạo điều kiện nhanh nhất cho các doanh nghiệp nhân rộng thành
công, thâm nhập và bành trướng thương hiệu của mình ra thị trường thế giới, đồng
thời các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể tận dụng lợi thế cạnh tranh để làm tiền đề
cho sự phát triển ổn định và lâu dài của mình thông qua hệ thống nhượng quyền.
Như vậy, nhượng quyền thương mại là một hình thức tiếp thị và phân phối hàng
hóa, dịch vụ rất hiệu quả, theo đó, bên nhận quyền được cấp quyền kinh doanh một
loại sản phẩm hoặc dịch vụ phù hợp với các tiêu chuẩn, hệ thống, phương thức đã
được bên nhượng quyền thiết lập với sự trợ giúp, huấn luyện và kiểm soát của bên
nhượng quyền. Đổi lại, bên nhận quyền phải trả phí nhượng quyền và phí bản
quyền cho bên nhượng quyền. Trong hoạt động này, bên nhượng quyền và bên
nhận quyền vẫn duy trì mối quan hệ hợp tác chặt chẽ trong suốt quá trình có hiệu
lực của hợp đồng. Việc hợp tác trong hệ thống được thiết lập nhằm mục đích
hướng người tiêu dùng nhận biết sản phẩm, dịch vụ của bên nhượng quyền và bên

7


nhận quyền như là một phần của hệ thống mà không giống như người bán lẻ độc
lập. Bằng cách này, bên nhượng quyền có thể mở rộng hệ thống phân phối sản
phẩm, sự phát triển thương hiệu của mình thông qua chủ thể đầu tư khác. Về phía

Nhượng quyền thương mại là hoạt động thương mại độc lập với các đặc
điểm sau đây:
Một là, hoạt động nhượng quyền thương mại là hoạt động thương mại được
thiết lập giữa các chủ thể kinh doanh chuyên nghiệp (thương nhân).
Có tư cách thương nhân, đó là một trong những điều kiện tối thiểu để các bên
có thể tham gia quan hệ nhượng quyền theo quy định của pháp luật Việt Nam. Trong
đó:
- Bên nhượng quyền là bên đã xây dựng được một thương hiệu mạnh, đã
được kiểm nghiệm trên thị trường. Pháp luật các nước thường yêu cầu bên
nhượng quyền phải là thương nhân, đã có thời gian hoạt động trong lĩnh vực dự
định kinh doanh nhượng quyền trong một thời gian nhất định, thời gian cụ thể bao
nhiêu tùy theo điều kiện, mục tiêu cũng như chính sách của mỗi nước. Quy định
này được đặt ra nhằm đảm bảo hoạt động nhượng quyền thương mại có khả năng
thành công cao, giảm thiểu rủi ro kinh doanh cho bên nhận quyền sau khi đã đầu
tư một số tiền khá lớn (phí nhượng quyền) để được bên nhượng quyền cấp quyền
thương mại. Ở Việt Nam, theo quy định tại Điều 5, Nghị định 35/2006/NĐ-CP
quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động nhượng quyền thương mại, bên
nhượng quyền chỉ được phép cấp quyền thương mại khi đáp ứng đủ các điều kiện
sau đây:
+ Thứ nhất, hệ thống kinh doanh dự định dùng để nhượng quyền đã hoạt
động được ít nhất 01 năm. Nếu thương nhân Việt Nam là Bên nhận quyền sơ cấp
từ bên nhượng quyền nước ngoài, thương nhân Việt Nam đó phải kinh doanh theo
phương thức nhượng quyền thương mại ít nhất 01 năm ở Việt Nam trước khi tiến
hành cấp lại quyền thương mại;
+ Thứ hai, đã đăng ký hoạt động nhượng quyền thương mại với cơ quan
có thẩm quyền.
Bên cạnh đó, hàng hoá, dịch vụ kinh doanh phải thuộc đối tượng được phép
kinh doanh nhượng quyền thương mại.
- Bên nhận quyền là bên sử dụng quyền thương mại của bên nhượng quyền
để kinh doanh và phải trả một khoản phí nhất định cho việc sử dụng quyền thương

tiết Luật Thương mại về nhượng quyền thương mại, “quyền thương mại” được
hiểu là một, một số hoặc toàn bộ các quyền sau đây: (i) Quyền được bên nhượng
quyền cho phép và yêu cầu bên nhận quyền tự mình tiến hành công việc kinh
doanh cung cấp hàng hóa hoặc dịch vụ theo một hệ thống do bên nhượng quyền

10


quy định và được gắn với nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại, khẩu hiệu kinh
doanh, biểu tượng kinh doanh, quảng cáo của bên nhượng quyền; (ii) Quyền được
bên nhượng quyền cấp cho bên nhận quyền sơ cấp quyền thương mại chung; (iii)
Quyền được bên nhượng quyền thứ cấp cấp lại cho bên nhận quyền thứ cấp theo
hợp đồng nhượng quyền thương mại chung và (iv) Quyền được bên nhượng
quyền cấp cho bên nhận quyền quyền thương mại theo hợp đồng phát triển quyền
thương mại
Như vậy, hiểu một cách cơ bản, ngoài các quyền phái sinh như quyền cấp lại
quyền thương mại cho chủ thể khác, thì quyền thương mại về bản chất là quyền
được “tiến hành công việc kinh doanh cung cấp hàng hóa hoặc dịch vụ theo một
hệ thống do bên nhượng quyền quy định và được gắn với nhãn hiệu hàng hóa, tên
thương mại, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, quảng cáo của bên
nhượng quyền”
Tuy nhiên, cần phải lưu ý rằng, trong một số trường hợp, mà phổ biến là
trong phương thức nhượng quyền phân phối sản phẩm, đối tượng các bên hướng
tới trong quan hệ nhượng quyền thương mại bao gồm cả "hàng hóa" được cung
ứng bởi bên nhượng quyền.
Chẳng hạn, trong hệ thống nhượng quyền mỹ phẩm của hãng The Body
Shop, để có thể kinh doanh sản phẩm trên, bên nhận quyền phải cam kết kinh
doanh theo phương thức nhượng quyền (cách thức kinh doanh, cách bài trí, màu
sắc, trang thiết bị...) và mua sản phẩm do bên nhượng quyền cung ứng. Thông
thường, "hàng hóa" được nói đến ở đây là những sản phẩm tương đối đặc thù, do

thường xuyên trợ giúp, hỗ trợ cho bên nhận quyền trong suốt quá trình kinh doanh
như trợ giúp về mặt kỹ thuật, đào tạo, huấn luyện kỹ năng kinh doanh cho bên nhận
quyền.
Bốn là, nhượng quyền thương mại là hoạt động thường chứa đựng các yếu tố
dẫn đến hành vi hạn chế cạnh tranh
Các chủ thể kinh doanh trong nền kinh tế thị trường luôn hướng tới lợi
nhuận thông qua hoạt động cạnh tranh. Chính vì vậy, trong bất kỳ hoạt động
thương mại nào cũng luôn tiềm ẩn xu thế này và hoạt động nhượng quyền thương
mại cũng không phải là ngoại lệ. Điều này được thể hiện ở chỗ, các bên trong hệ
thống nhượng quyền là các chủ thể độc lập nhau về mặt tư cách pháp lý và tài
chính, trong khi họ lại cùng kinh doanh một loại sản phẩm theo một phương thức

12


như nhau, dẫn tới họ cùng tiếp cận chung một đối tượng khách hàng. Như một quy
luật, để thu hút khách hàng về phía mình, các bên trong hệ thống nhượng quyền
sẽ tìm mọi cách cạnh tranh với nhau trên mọi phương diện (như: giá cả, chất
lượng, phương thức cung ứng dịch vụ, chế độ chăm sóc khách hàng…), khi đó
tính đồng bộ trong hệ thống nhượng quyền thương mại có khả năng bị phá vỡ.
Chính vì vậy, nếu giữa các bên không có ràng buộc nhằm cấm hoặc hạn chế cạnh
tranh trong hệ thống thì đương nhiên hành vi cạnh tranh giữa các bên trong hệ
thống nhượng quyền sẽ tất yếu phát sinh và tính đồng bộ của hệ thống nhượng
quyền theo đó cũng không giữ vững được. Do nhận thức được khả năng và nhu
cầu cạnh tranh giữa các bên trong hệ thống nhượng quyền là tất yếu, khách quan
nên khi thiết lập quan hệ nhượng quyền, các bên thường có những hành vi nhằm
hạn chế cạnh tranh giữa các bên trong hệ thống. Để viện dẫn cho tính hợp lý của
các hành vi hạn chế cạnh tranh này, các bên thường vin vào lý do nhằm đảm bảo
tính đồng bộ trong toàn bộ hệ thống nhượng quyền để lẩn tránh sự kiểm soát của
pháp luật cạnh tranh. Với sự tồn tại của cạnh tranh và hành vi hạn chế cạnh tranh

nếu một sản phẩm có chất lượng tốt với giá cả phải chăng sẽ dễ dàng được khách
hàng chấp nhận. Ở cấp độ đơn giản, việc tạo dựng năng lực thị trường có thể xuất
phát từ việc tác động vào từng yếu tố (chất lượng tăng hoặc giá giảm), ở cấp độ cao
hơn, các thương nhân có thể vừa tăng chất lượng (bằng cách tạo ra sự khác biệt, tạo
ra nhiều tính năng, công dụng của sản phẩm…) vừa giảm giá thành sản phẩm để
tăng tính hấp dẫn đối với khách hàng.
Trong hoạt động nhượng quyền thương mại, các bên nhượng quyền và nhận
quyền đều là những thương nhân độc lập, lại cùng kinh doanh một loại sản phẩm
theo cùng một phương thức như nhau, chính vì vậy khi mà sản phẩm là giống
nhau, nhu cầu chiếm lĩnh thị trường về phía mình lớn thì khả năng thực hiện các
hành vi cạnh tranh để giành lợi thế cạnh tranh, thu hút khách hàng về phía mình là
điều luôn luôn tồn tại trong ý thức của các bên trong hệ thống nhượng quyền. Tuy
nhiên, do kinh doanh cùng một sản phẩm theo một phương thức như nhau, việc
sáng tạo trong quá trình kinh doanh theo phương thức nhượng quyền là điều
không thể tồn tại trong hoạt động nhượng quyền, chính vì vậy, các hành vi
hạn chế cạnh tranh dưới dạng phân chia thị trường tiêu thụ thường xuất hiện như
một nhu cầu tất yếu trong hoạt động nhượng quyền. Có thể khẳng định, hành vi
cạnh tranh là hành vi tồn tại tất yếu, khách quan trong bất kỳ một quan hệ thương
mại nào, trong đó, nhượng quyền thương mại không phải là một ngoại lệ.
- Hai là: Yêu cầu đảm bảo tính đồng bộ trong hệ thống nhượng quyền

15


Có thể khẳng định, nhượng quyền thương mại là một hoạt động thương mại
tương đối đặc thù so với các hoạt động thương mại thông thường khác. Tính đặc
thù thể hiện ở chỗ mặc dù các bên là các thương nhân độc lập với nhau về mặt tư
cách pháp lý và tài chính, sở hữu các cơ sở kinh doanh khác nhau nhưng lại kinh
doanh cùng một sản phẩm như nhau, với việc cùng sử dụng tất cả các dấu hiệu
nhận biết thương nhân (tên thương mại, nhãn hiệu, bí quyết kỹ thuật, khẩu hiệu

Bên trong hệ thống nhượng quyền tồn tại nhiều mối quan hệ khác nhau.
Trong hoạt động nhượng quyền thương mại, sự xuất hiện của cạnh tranh giữa các
bên trong hệ thống (giữa bên nhượng quyền với bên nhận quyền, giữa các bên
nhận quyền với nhau) là tất yếu, khách quan. Mặc dù, nhìn bề ngoài ở cấp độ hệ
thống nhượng quyền, khi mà các bên trong quan hệ nhượng quyền thương mại
cùng kinh doanh theo một phương thức duy nhất, sản phẩm, chất lượng đồng bộ
nhau, thậm chí giá cả tương đồng nhau thì họ không phải là đối thủ cạnh tranh.
Tuy nhiên, ở khía cạnh bản chất, trong nội bộ hệ thống, họ là các thương nhân độc
lập về mặt tài chính và pháp lý, các bên trong hệ thống nhượng quyền đều mong
muốn tăng cường lợi nhuận, đặc biệt khi kinh doanh cùng một sản phẩm, họ lại
càng có cùng đối tượng khách hàng như nhau, nếu khách hàng sử dụng sản phẩm
của một bên thì các bên còn lại trong hệ thống sẽ không còn cơ hội cung ứng
được sản phẩm cho khách hàng đó nữa. Chính vì vậy, ở khía cạnh nhất định, họ đều
là đối thủ cạnh tranh của nhau. Bên cạnh đó, khi mà tính đồng bộ xuyên suốt trong
toàn bộ hệ thống nhượng quyền, thì nhu cầu tất yếu xuất hiện trong ý chí của các
bên là, không một hành vi cạnh tranh nào được cho phép trong quan hệ nhượng
quyền. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là, cạnh tranh về bản chất tồn tại trong nội tại
giữa các bên. Chính vì vậy, để đạt được tính đồng bộ của hệ thống, các bên trong
quan hệ nhượng quyền phải cùng nhau cam kết không cạnh tranh trong hệ thống
dưới dạng những thỏa thuận liên quan đến giá bán sản phẩm mà hệ thống nhượng
quyền cung ứng, thỏa thuận về nguồn cung cấp nguyên vật liệu cho bên nhận
quyền , thỏa thuận độc quyền lãnh thổ…. Như vậy, trước khi đạt đến tính đồng
bộ, các bên đã phải có những thỏa thuận, ràng buộc mang tính chất hạn chế cạnh
tranh.
Có thể khẳng định, xu hướng hạn chế cạnh tranh là hiện tượng tồn tại trong
tất cả các hoạt động thương mại, kể cả quan hệ nhượng quyền và cần phải được
điều chỉnh bởi pháp luật cạnh tranh. Tuy nhiên, với bản chất của quan hệ nhượng

17


cạnh tranh) cũng có những lợi ích nhất định cho nền kinh tế như giúp các chủ thể

18


kinh doanh có quy mô và thị phần nhỏ có thể phối hợp với nhau để nâng cao năng
lực cạnh tranh trên thị trường trước những đối thủ cạnh tranh lớn, thông qua đó
thúc đẩy cạnh tranh trên thị trường tốt hơn. Ở khía cạnh kinh tế, sự kết hợp cùng
hành động giữa các doanh nghiệp góp phần tạo ra sức mạnh kinh doanh và sức
cạnh tranh tập thể cho các thành viên của thỏa thuận. Sức mạnh đó đặc biệt có ý
nghĩa đối với các doanh nghiệp nhỏ trong môi trường cạnh tranh khốc liệt mà ở
đó các doanh nghiệp nhỏ luôn ở vào vị trí bất lợi, làm ăn khó khăn, thậm chí bị
phá sản, là nguyên nhân hình thành các thế lực độc quyền của thị trường. Chẳng
hạn, trong bức tranh tổng thể của thị trường nếu có nhiều đối thủ cạnh tranh, trong
đó có một đối thủ cạnh tranh đạt tới ngưỡng trên 70% thị phần thì khả năng cạnh
tranh của các đối thủ cạnh tranh nhỏ trước doanh nghiệp có thị phần lớn là rất
khó. Trong trường hợp này, việc các doanh nghiệp nhỏ liên kết lại với nhau bằng
cách hạn chế cạnh tranh giữa các doanh nghiệp nhỏ để cùng nâng cao sức cạnh
tranh trước doanh nghiệp lớn lại có tác động thúc đẩy cạnh tranh mạnh mẽ hơn
trên thị trường. Trong trường hợp này, mặc dù có hiện tượng hạn chế cạnh tranh
giữa các doanh nghiệp nhỏ những lại tạo ra động lực cạnh tranh lớn hơn trong
tổng thể thị trường thì pháp luật cạnh tranh của hầu hết các quốc gia đều không
ngăn cấm.
Trong quan hệ nhượng quyền thương mại, có hai nguyên nhân khiến cho
hành vi hạn chế cạnh tranh giữa các bên trong hệ thống nhượng quyền thương mại
xuất hiện:
Một là, với bản chất của thương nhân luôn hướng tới mục tiêu tối đa hóa lợi
nhuận, các bên trong hoạt động nhượng quyền giống như các chủ thể kinh doanh
thông thường khác thường thực hiện những hành vi hạn chế cạnh tranh. Theo đó,
thay vì thực hiện những hành vi cạnh tranh nhằm nâng cao chất lượng, hạ giá

nhượng quyền như chỉ định nguồn cung cấp hàng hóa/nguyên liệu cho bên nhận
quyền , thỏa thuận phân chia lãnh thổ, áp đặt giá bán…
Như vậy, trong quan hệ nhượng quyền thương mại, quan điểm về kiểm soát
hành vi hạn chế cạnh tranh đứng trước mâu thuẫn lớn: Nếu kiểm soát theo đúng
nguyên tắc chung của cạnh tranh đối với những hành vi hạn chế cạnh tranh nhằm
mục đích đảm bảo tính đồng bộ trong toàn bộ hệ thống, hoạt động nhượng quyền
thương mại sẽ khó có thể tồn tại và phát triển do không thể duy trì được bản chất
kinh doanh theo một cách thức duy nhất của hoạt động nhượng quyền. Chính vì
vậy, hệ thống pháp luật cũng cần phải tính đến những ngoại lệ hợp lý nhằm ghi

20



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status