Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng nhượng quyền thương mại - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

ĐINH THỊ NGỌC CHÂM

THỎA THUẬN HẠN CHẾ CẠNH TRANH
TRONG HỢP ĐỒNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI,
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Chuyên ngành: LUẬT KINH TẾ
Mã số: 60380107
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. VŨ ĐẶNG HẢI YẾN

HÀ NỘI - 2015


LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến
TS. Vũ Đặng Hải Yến – Người đã nhiệt tình, hướng dẫn, chỉ bảo và giúp
đỡ tôi trong suốt quá trình viết luận văn thạc sĩ. Tôi cũng xin chân thành
cảm ơn các Thầy, Cô giáo trường Đại học Luật Hà Nội đã trang bị cho tôi
những kiến thức, phương pháp nghiên cứu, giúp tôi có thể hiểu và xử lý đề
tài một cách phù hợp nhất với khả năng của mình. Luận văn thạc sĩ này là
kết quả phản ảnh một phần kiến thức chuyên ngành mà tôi đã tiếp nhận,
tích lũy từ các thầy cô dưới mái trường Đại học Luật Hà Nội.
Cuối cùng, xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã động viên, tạo


Khái quát về hợp đồng nhượng quyền thương mại ...................... 9

1.1.1 Khái niệm hợp đồng nhượng quyền thương mại ............................ 9
1.1.2 Đặc điểm của hợp đồng nhượng quyền thương mại. ................. 13
1.1.3. Nội dung của hợp đồng nhượng quyền thương mại. ................. 16
1.2 Khái quát về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng
nhượng quyền thương mại..................................................................... 21
1.2.1 Khái niệm Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng nhượng
quyền thương mại ................................................................................. 21
1.2.2 Nguyên nhân hình thành các thỏa thuận hạn chế canh tranh trong
hợp đồng nhượng quyền thương mại ..................................................... 25
1.2.3 Đặc điểm của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng
nhượng quyền thương mại .................................................................... 27
1.2.4 Các dạng thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng nhượng
quyền thương mại ................................................................................. 31
1.3 Khái niệm Pháp luật điều chỉnh thỏa thuận hạn chế cạnh tranh
trong hợp đồng nhượng quyền thương mại. ......................................... 37
1.4
Sự cần thiết của Pháp luật điều chỉnh thỏa thuận hạn chế cạnh
tranh trong hợp đồng nhượng quyền thương mại ................................ 38
CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH THỎA THUẬN
HẠN CHẾ CẠNH TRANH TRONG HỢP ĐỒNG NHƯỢNG QUYỀN
THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM.................................................................................. 41
2.1
Nội dung của pháp luật điều chỉnh thỏa thuận hạn chế cạnh
tranh trong hợp đồng nhượng quyền thương mại. ............................... 41
2.1.1 Quy định điều chỉnh về các thỏa thuận phân chia khu vực kinh
doanh .................................................................................................... 42
2.1.2 Quy định điều chỉnh về các thỏa thuận phân phối và cung ứng độc

3

MỞ ĐẦU
1.

Tính cấp thiết của đề tài

Nhượng quyền thương mại là hoạt động thương mại phát triển với
tốc độ cao trên thế giới hiện nay, được sử dụng trong hơn 60 lĩnh vực kinh
doanh khác nhau, từ kinh doanh thực phẩm, nhà hàng, khách sạn, dịch vụ
thuê xe giải trí đến các dịch vụ giáo dục, y tế, hỗ trợ doanh nghiệp...
Nhượng quyền thương mại khởi nguồn từ nước Mỹ vào những năm 1850,
lần đầu tiên trên thế giới nhà sản xuất máy khâu Singer của Mỹ ký hợp
đồng nhượng quyền kinh doanh và trở thành người tiên phong trong việc
thỏa thuận dưới hình thức nhượng quyền. Hoạt động nhượng quyền hầu
như chỉ phát triển ở nước Mỹ trong vòng 100 năm[1]. Mãi đến năm 1980,
các nước phát triển khác mới nhận thức được đầy đủ những lợi thế của hoạt
động nhượng quyền thương mại và bắt đầu tập trung phát triển hoạt động
này trong nội bộ quốc gia mình. Hiện nay, hoạt động nhượng quyền thương
mại xuất hiện ở hầu hết các ngành hàng và dịch vụ trong nền kinh tế
thương mại quốc tế. Theo các nghiên cứu mới nhất, cứ 12 phút lại có một
hệ thống nhượng quyền mới ra đời. Ở Mỹ, 90% công ty kinh doanh theo
hình thức nhượng quyền thương mại tiếp tục hoạt động sau 10 năm trong
khi 82% công ty độc lập tự kinh doanh phải đóng cửa và cũng chỉ có 5%
công ty theo hình thức nhượng quyền thương mại thất bại trong năm đầu
tiên so với 38% công ty độc lập. Điều đó cho thấy sự bùng nổ hình thức
này trên thế giới là điều tất yếu.[7, tr36-37]
Nhượng quyền thương mại đã xuất hiện ở Việt Nam từ đầu những
năm 1990 và lần đầu tiên được đề cập trong hệ thống pháp luật Việt Nam
qua khái niệm “cấp phép đặc quyền kinh doanh” tại Thông tư số

là sự kết hợp của nhiều thỏa thuận mang màu sắc hạn chế cạnh tranh. Do
vậy, tôi quyết định chọn nghiên cứu đề tài “Thỏa thuận hạn chế cạnh
tranh trong Hợp đồng nhượng quyền thương mại, một số vấn đề lý luận
và thực tiễn” làm luận văn thạc sĩ luật học.


5

2.

Tình hình nghiên cứu đề tài

Những năm gần đây, ở nước ta, pháp luật về hạn chế cạnh tranh
trong hoạt động nhượng quyền thương mại ngày càng thu hút được sự quan
tâm đông đảo cả các nhà khoa học. Nhiều công trình khoa học ở những
phạm vi và mức độ tiếp cận khác nhau đã đề cập đến cơ sở lý luận về hoạt
động nhượng quyền thương mại và pháp luật về hạn chế cạnh tranh trong
hoạt động đặc thù này, tìm hiểu nội dung pháp luật điều chỉnh hạn chế cạnh
tranh của một số nước trên thế giới, nêu ra nhu cầu và phương hướng xây
dựng pháp luật nhượng quyền thương mại nói chung và pháp luật điều
chỉnh hạn chế cạnh tranh trong hoạt động nhượng quyền thương mại nói
riêng.
Đã có những đề tài nghiên cứu riêng dưới hình thức các Luận án tiến
sĩ, Luận văn thạc sĩ hay các bài viết trên tạp chí, phải kể đến như:
-

Vũ Đặng Hải Yến (2008), Những vấn đề lý luận và thực tiễn về pháp
luật điều chỉnh nhượng quyền thương mại trong nền kinh tế thị
trường ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà
Nội;

Nguyễn Thị Hồng Vân (2011), Các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh
trong hợp đồng nhượng quyền thương mại, Tạp chí nghiên cứu lập
pháp, Văn Phòng Quốc hội.

-

Nguyễn Thị Tình (2014), “Ràng buộc bán kèm trong Hợp đồng
nhượng quyền thương mại”, Tạp chí nghiên cứu Châu Âu, Viện
nghiên cứu Châu Âu.

-

Nguyễn Thị Tình (2014), “Pháp luật điều chỉnh hành vi ấn định giá
bán”, Tạp chí dân chủ và pháp luật, Bộ Tư pháp.

-

Trường Đại học Thương Mại (2011), Tăng cường sự phát triển của
hoạt động nhượng quyền thương mại thông qua pháp luật điều chỉnh
hạn chế cạnh tranh, Nghiên cứu khoa học.
Mặc dù đã được khai thác và nghiên cứu dưới nhiều góc độ nhưng

còn nhiều vấn đề tồn tại đòi hỏi phải có những nghiên cứu sâu rộng hơn cả
về mặt lý luận và thực tiễn để góp phần hoàn thiện pháp luật về hạn chế
cạnh tranh trong hoạt động nhượng quyền thương mại nói riêng và pháp
luật về nhượng quyền thương mại nói chung.
3.

Mục đích nghiên cứu đề tài


nạp khi nghiên cứu, đề xuất định hướng và giải pháp hoàn thiện các quy
định của pháp luật về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng
nhượng quyền thương mại.
6.

Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương I: Một số vấn đề lý luận về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh
trong hợp đồng nhượng quyền thương mại.
Chương II: Thực trạng pháp luật điều chỉnh thỏa thuận hạn chế
cạnh tranh trong hợp đồng nhượng quyền thương mại ở Việt Nam.
Chương III: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của
pháp luật về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng nhượng quyền
thương mại ở Việt Nam.
Với nội dung của 3 Chương này, luận văn thạc sĩ sẽ khái quát và làm
rõ những thỏa thuận mang màu sắc hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng
nhượng quyền thương mại. Bên cạnh đó luận văn thạc sĩ cũng sẽ phân tích


8

những quy định pháp luật về những thỏa thuận hạn chế cạnh tranh này. Từ
đó đưa ra một số ý kiến chủ quan góp phần hoàn thiện các quy định điều
chỉnh vấn đề hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng nhượng quyền thương
mại.
Do kiến thức còn hạn hẹp, đề tài không tránh khỏi những thiếu sót,
rất mong nhận được sự đóng góp để đề tài được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!

nhất hai chủ thể: bên nhượng quyền (là bên có quyền sở hữu đối với
“quyền thương mại”) và bên nhận quyền (là bên độc lập, muốn kinh doanh
bằng quyền thương mại của bên nhượng quyền). Các bên trong quan hệ
thỏa thuận với nhau về việc bên nhượng quyền trao cho bên nhận “quyền
kinh doanh” bao gồm các quyền sử dụng mô hình, kỹ thuật kinh doanh sản


10

phẩm, dịch vụ dưới thương hiệu của mình và nhận lại một khoản phí hay %
doanh thu trong một khoảng thời gian nhất định; bên nhận quyền sử dụng
“quyền thương mại” của bên nhượng quyền để tiến hành hoạt động kinh
doanh nhưng phải chấp nhận tuân thủ một số điều kiện mà bên nhượng
quyền đưa ra.
Đối với bên nhượng quyền, phương thức nhượng quyền thương mại
được coi là cách thức tiếp thị và phân phối sản phẩm, dịch vụ một cách
hiệu quả nhất, nhanh chóng, ít tốn kém về tài chính, nhân lực và các nguồn
lực khác của doanh nghiệp. Còn đối với bên nhận quyền, do được kinh
doanh dưới tên một thương hiệu và được sử dụng một mô hình kinh doanh
mà thành công đã được chứng minh nên nhượng quyền thương mại chính
là sự lựa chọn an toàn và khôn ngoan cho các nhà đầu tư. Theo một thống
kê của Mỹ thì từ năm 1994 đến năm 2004 trung bình chỉ có 5% số doanh
nghiệp hình thành theo mô hình nhượng quyền thương mại là thất bại,
trong khi con số này là 65% cho các doanh nghiệp không theo mô hình
này[11,tr21]. Con số này chỉ cho thấy mức độ rủi ro khi kinh doanh bằng
phương thức khác chứ không có ý nghĩa là nhượng quyền thương mại đem
đến cơ hội thành công tuyệt đối.
Dưới góc độ pháp lý, nhượng quyền thương mại là một hoạt động
thương mại bởi mục đích cuối cùng mà các bên hướng đến là lợi nhuận thu
được từ việc thực hiện hoạt động nhượng “quyền thương mại”. Đối tượng

cách thức tổ chức do bên nhượng quyền quy định và được gắn với nhãn
hiệu hàng hóa, tên thương mại, bí quyết kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh,
biểu tượng kinh doanh, quảng cáo của bên nhượng quyền;
2. Bên nhượng quyền có quyền kiểm soát và trợ giúp cho bên nhận
quyền trong việc điều hành công việc kinh doanh.”
Qua khái niệm trên, về cơ bản có thể thấy khái niệm mà các nhà làm
luật nước ta đưa ra là tương thích với cách hiểu chung của pháp luật quốc
tế.


12

Như vậy, xuất phát từ góc độ kinh tế và góc độ pháp lý của hoạt
động nhượng quyền thương mại, có thể đưa ra khái niệm về hợp đồng
nhượng quyền thương mại như sau: Hợp đồng nhượng quyền thương mại là
thỏa thuận giữa bên nhượng quyền và bên nhận quyền về các nghĩa vụ giữa
các bên trong mối quan hệ này. Trong đó quan trọng nhất là việc bên
nhượng quyền cho phép bên nhận quyền được sử dụng “quyền thương mại
thuộc sở hữu của mình theo cùng một kế hoạch hay hệ thống tiếp thị của
bên nhượng quyền và được nhận lại khoản phí hoặc % doanh thu của bên
nhận quyền tùy theo thỏa thuận. Trong suốt quá trình thực hiện hợp đồng,
bên nhượng quyền có trách nhiệm giúp đỡ, hướng dẫn, đào tạo cũng như có
quyền kiểm soát việc sử dụng “quyền thương mại” đã được nhượng đối với
bên nhận quyền. Đồng thời, bên nhận quyền phải tuyệt đối tuân thủ kế
hoạch hay hệ thống tiếp thị gắn liền với “quyền thương mại” đã được
chuyển giao. Và hợp đồng nhượng quyền thương mại sẽ là căn cứ phát sinh
quyền và nghĩa vụ giữa các bên, cũng như là căn cứ để giải quyết các tranh
chấp phát sinh trong quá trình thực hiện thỏa thuận giữa các bên.
Ở Việt Nam, pháp luật không đưa ra định nghĩa về hợp đồng nhượng
quyền thương mại mà chỉ quy định về hình thức của loại hợp đồng này tại


Đặc điểm của hợp đồng nhượng quyền thương mại.

Hợp đồng nhượng quyền thương mại có các đặc điểm đặc trưng sau
đây:
Thứ nhất, hợp đồng nhượng quyền thương mại thường có tính
“mẫu” nhằm đảm bảo được tính ổn định của một hệ thống nhượng quyền
và bảo vệ quyền lợi của bên nhượng quyền. Tính “mẫu” của hợp đồng
nhượng quyền thương mại được hiểu là sự giống nhau về nội dung của hợp
đồng nhượng quyền thương mại mà bên nhượng quyền đã đưa ra để các
bên nhận quyền xem xét, cân nhắc từ đó tiến đến giao kết hợp đồng. Thực
tế là, bên nhượng quyền khi quyết định giao kết hợp đồng nhượng quyền
thương mại với một bên nhận quyền mới phải đối mặt với nguy cơ phải
chịu trách nhiệm trước tất cả các bên nhận quyền còn lại khi có một bên
nhận quyền không trung thành với hệ thống nhượng quyền làm ảnh hưởng


14

tới lợi ích của cả hệ thống. Do đó, bất kỳ một hệ thống nhượng quyền
thương mại lớn nào trên thế giới, bên nhượng quyền bao giờ cũng xây dựng
cho hệ thống nhượng quyền thương mại của mình một bản hợp đồng
nhượng quyền vững mạnh theo hướng có lợi cho mình. Bản hợp đồng này
được coi là hợp đồng nhượng quyền thương mại của cả hệ thống và được
áp dụng cho tất cả các chủ thể muốn tham gia nhận quyền. Như vậy, hợp
đồng giữa bên nhượng quyền với các đối tác nhận quyền khác nhau sẽ có
cấu trúc, nội dung, các quyền, nghĩa vụ, mức phí, bồi thường thiệt hại và
các thỏa thuận khác tương tự nhau. Tuy yếu tố này hạn chế sự thể hiện ý
chí của bên nhận quyền trong hợp đồng nhượng quyền thương mại nhưng
đây cũng chính là yếu tố mang tính cam kết cao, đảm bảo cho sự phát triển

“quyền thương mại” của bên nhận quyền có thể đột xuất hoặc định kỳ. Và
ngược lại đối với bên nhận quyền, nghĩa vụ của họ là tuân thủ nghiêm túc
tất cả những điều kiện, yêu cầu về sự đồng bộ của hệ thống nhượng quyền
do bên nhượng quyền đưa ra. Đồng thời họ cũng luôn mong nhận được sự
hỗ trợ tận tình, thường xuyên từ bên nhượng quyền để làm sao vận hành
hiệu quả nhất mô hình kinh doanh của bên nhượng quyền. Trong mối quan
hệ hợp tác này để hai bên cùng có lợi thì sự gắn bó giữa các bên là điều cần
thiết và đặc thù hơn so với hợp đồng li–xăng hay hợp đồng đại lý thông
thường. Nếu hợp đồng li-xăng nhãn hiệu chỉ đơn thuần là việc bên li xăng
cho phép bên nhận li xăng gắn nhãn hiệu hàng hóa của bên li–xăng vào
hàng hóa của bên nhận thì nhượng quyền thương mại còn cho phép bên
nhận quyền sử dụng, khai thác nhằm mục đích kinh doanh trực tiếp không
chỉ nhãn hiệu hàng hóa, biểu tượng, khẩu hiệu, kênh tiếp thị, quảng cáo mà
cả quy trình kinh doanh hoặc bí quyết kinh doanh của bên nhượng quyền.
Do đó, bên nhượng quyền phải có quyền kiểm soát sự tuân thủ của bên
nhận quyền để bảo vệ quyền lợi của mình và hệ thống nhượng quyền. Còn
đối với hợp đồng đại lý, bên giao đại lý chỉ thực hiện việc giao hàng cho
bên đại lý chứ không chuyển giao quyền sở hữu đối với hàng hóa, bên giao
đại lý – chủ sở hữu hàng hóa vẫn là người đầu tiên và trực tiếp gánh vác


16

nghĩa vụ đối với rủi ro đó. Khác mối quan hệ đại lý, trong hợp đồng
nhượng quyền, tuy các bên có mối quan hệ gắn bó, chia sẻ cùng một tên
thương hiệu, các dấu hiệu nhận biết thương mại khác nhưng các chủ thể
trong hợp đồng nhượng quyền vẫn tồn tại như những chủ thể độc lập về
cấu trúc hoạt động, tài chính và cả tư cách pháp lý hay nói cách khác là tự
chịu trách nhiệm đối với các rủi ro có thể xảy ra trong quá trình kinh doanh
và thực hiện hợp đồng. Vì vậy, nếu hợp đồng nhượng quyền không quy

của bên nhượng quyền. Đây không phải là giá của nhượng quyền thương
mại mà thực chất là khoản tiền thuê được trả cho chủ sở hữu để được sử
dụng, khai thác công dụng của “quyền thương mại” trong một khoảng thời
gian và trong một phạm vi nhất định.
Khi kinh doanh nhượng quyền thương mại, bên nhượng quyền sẽ
được nhận các khoản phí từ bên nhận quyền gồm phí ban đầu, phí hàng
tháng và các khoản phí khác. Phí ban đầu chính là khoản phí để đào tạo,
chuyển giao công thức cho bên nhận quyền, loại phí này thường chỉ được
tính một lần. Phí hàng tháng là loại phí mà bên nhận quyền phải trả cho
việc duy trì và sử dụng nhãn hiệu, thương hiệu của bên nhượng quyền và
những dịch vụ hỗ trợ mang tính tiếp diễn liên tục như đào tạo, huấn luyện
nhân viên, tiếp thị, nghiên cứu phát triển, sản phẩm mới, phí này có thể là
một khoản cố định hoặc được tính theo % doanh số của bên nhận quyền.
Ngoài ra bên nhượng quyền còn nhận được một số khoản phí khác như phí
quảng cáo, tiếp thị, tiền thuê tài sản, các khoản phí này rất đa dạng và có
thể phát sinh trong bất kỳ lĩnh vực nào liên quan đến nhượng quyền thương
mại.
Thứ tư, điều khoản về thời hạn hiệu lực của hợp đồng và gia hạn
hợp đồng nhượng quyền thương mại.
Thời hạn hợp đồng là khoảng thời gian tính từ khi hợp đồng có hiệu
lực đến khi chấm dứt hợp đồng, thời hạn này do các bên thỏa thuận phù
hợp với mục đích và hoàn cảnh các bên và các quy định pháp luật. Tuy
pháp luật các nước không quy định trực tiếp thời hạn hợp đồng là bao lâu
nhưng một số quốc gia có quy định thời hạn tối thiểu của hợp đồng như Mỹ
là 5 năm, Trung Quốc là 3 năm.


19

Trong thời hạn hợp đồng hoặc khi hợp đồng hết hạn, các bên có thể


Thứ sáu, Điều khoản về giải quyết tranh chấp
Đây là một vấn đề rất quan trọng trong hợp đồng nhượng quyền
thương mại bởi lẽ mối quan hệ giữa các chủ thể trong hợp đồng này rất
phức tạp, dễ xảy ra tranh chấp. Điều khoản về giải quyết tranh chấp phải
được các bên thỏa thuận một cách cụ thể, chi tiết trong hợp đồng vì đó sẽ là
căn cứ giúp việc giải quyết tranh chấp nhanh chóng, giảm thiệt hại cho các
bên.
Thứ bảy, Điều khoản về đăng ký hoạt động nhượng quyền
thương mại.
Đề đảm bảo khả năng quản lý của nhà nước đối với hoạt động
nhượng quyền thương mại thì việc đăng ký và phê duyệt hợp đồng là rất
cần thiết, đặc biệt khi hoạt động nhượng quyền thương mại còn kèm theo
việc chuyển giao công nghệ. Vấn đề này được các quốc gia trên thế giới
quy định nhằm đảm bảo lợi ích các bên chủ thể và lợi ích chung cho toàn
thể xã hội.
Thứ tám, Điều khoản về công bố thông tin trong hoạt động
nhượng quyền thương mại.
Trong hợp đồng nhượng quyền thương mại, bên nhượng quyền
thường có ưu thế hơn, vì vậy để bảo vệ lợi ích cho bên nhận quyền thì việc
công bố thông tin về hệ thống nhượng quyền là điều rất quan trọng. Bên
nhượng quyền phải cung cấp các thông tin về hoạt động nhượng quyền của
mình để bên nhận quyền cùa quyết định đúng trong việc mua “quyền
thương mại”. Mặt khác, cũng giúp cơ quan nhà nước có thể quản lý kiểm
soát được hoạt động nhượng quyền thương mại một cách dễ dàng, thuận lợi
hơn.
1.1.4 Hình thức của hợp đồng nhượng quyền thương mại
Trong hợp đồng nhượng quyền thương mại, điều quan trọng nằm ở
nội dung hợp đồng, đó là căn cứ để các bên thực hiện quyền và nghĩa vụ và


tạo ra các cơ hội để vươn xa hơn và nếu việc làm này thành công, các đối


22

tượng kinh doanh này đã vô tình thách thức các đối tượng kinh doanh đang
chiếm ưu thế trên thương trường. Các chủ thể kinh doanh mạnh, do tác
động của quy luật cạnh tranh sẽ dùng mọi cách để bảo vệ tốt nhất quyền lợi
mà mình đã có. Một trong những cách bảo vệ vị trí của mình trên những thị
trường liên quan nhất định trước những đối thủ cạnh tranh hiện có hoặc
tiềm năng đó là một nhóm đối tượng kinh doanh đặt ra một số thỏa thuận
nhằm mục đích hạn chế sự cạnh tranh của các đối thủ khác.
Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh được dùng để chỉ sự thông đồng của
một số chủ thể kinh doanh có những lợi thế trên những thị trường nhất định
mà nội dung của những thỏa thuận này nhằm vào việc duy trì và tiếp tục
nâng cao hơn nữa vị thế của các thành viên của thỏa thuận đồng thời hạn
chế cạnh tranh của các đối thủ cạnh tranh khác.
Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh có thể là thỏa thuận giữa các tác nhân
kinh tế nằm ở vị trí ngang nhau trong một chu trình sản xuất hoặc phân
phối (các nhà sản xuất với nhau hoặc các nhà phân phối với nhau) hoặc là
thỏa thuận giữa các tác nhân kinh tế nằm ở vị trí khác nhau trong một chu
trình sản xuất hoặc lưu thông (thỏa thuận giữa nhà sản xuất và người phân
phối). Dưới góc độ kinh tế, thỏa thuận hạn chế cạnh tranh ra đời dựa trên
tính tất yếu của việc phát triển nền kinh tế - xã hội. Ban đầu, những thỏa
thuận này, nhìn ở một góc độ nhất định sẽ đem lại hiệu quả kinh tế, tuy
nhiên, nếu để các thỏa thuận này phát triển một cách tự do, tất yếu dẫn đến
một hệ quả là sẽ có những nhóm độc quyền trong từng thị trường hàng hóa,
dịch vụ nhất định[22, tr57-59].
Giống như các hợp đồng thương mại khác, nội dung của hợp đồng
nhượng quyền thương mại cũng thể hiện các quyền và nghĩa vụ tương ứng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status