1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRẦN THU LAN
HỢP ĐỒNG CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG
MẠI - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG CHO VAY
(HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG) TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG
MẠI VÀ PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG
6
1.1.
Những vấn đề lý luận về hợp đồng tín dụng
6
1.1.1.
Khái niệm, đặc điểm, phân loại hợp đồng tín dụng
6
1.1.2.
Hình thức và thời điểm có hiệu lực của hợp đồng tín dụng
16
1.1.3.
Bản chất pháp lý của hợp đồng tín dụng
20
1.1.4.
So sánh hợp đồng tín dụng với hợp đồng cho vay tài sản
22
1.2.
Pháp luật về hợp đồng tín dụng
24
1.2.1.
Khái niệm, đặc điểm pháp luật về hợp đồng tín dụng
24
1.2.2.
Nội dung của pháp luật về hợp đồng tín dụng
29
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG
Hợp đồng tín dụng vô hiệu
73
2.6.
Giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng
75
Chương 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VỀ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH LUẬT TẠI CÁC NGÂN
HÀNG THƢƠNG MẠI
85
3.1.
Phương hướng hoàn thiện
85
3.2.
Những giải pháp cụ thể
87
KẾT LUẬN
95
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
96 5
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
- BLDS: Bộ luật Dân sự năm 2005
- BLTTDS: Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2008
doanh. Các ngân hàng thương mại (NHTM) là những địa chỉ cung cấp nguồn
vốn chủ yếu để các doanh nghiệp thực hiện chiến lược sản xuất kinh doanh.
Trong điều kiện hiện nay, đầu tư nước ngoài chưa đạt được mức kế
hoạch, ngược lại ở nhiều nơi còn có dấu hiệu giảm sút thì chủ trương dựa vào
nguồn vốn trong nước đang được thực hiện triệt để. Tuy nhiên, các kênh huy
động vốn từ nội lực kinh tế còn hẹp. Thị trường chứng khoán Việt Nam được
hình thành chính thức từ năm 2000 nhưng chưa thật sự trở thành kênh cung
cấp vốn hiệu quả cho nền kinh tế. Thực tế cho thấy phần lớn các doanh
nghiệp Việt Nam năng lực tài chính còn yếu kém, hoạt động chủ yếu dựa trên
nguồn vốn vay từ các tổ chức tín dụng (TCTD). NHTM là TCTD thực hiện
hoạt động là huy động vốn và cho vay vốn. Đây là những hoạt động nghiệp
vụ rất quan trọng của NHTM. NHTM là cầu nối giữa các tổ chức và cá nhân,
hút vốn từ nơi nhàn rỗi và bơm vào nơi khan thiếu.
8
Đến thời điểm hiện nay, trong hệ thống pháp luật Việt Nam có nhiều văn
bản quy phạm thuộc các ngành luật khác nhau quy định về hợp đồng cho vay tài
sản tại các TCTD (các ngân hàng vẫn dùng thuật ngữ là Hợp đồng tín dụng)
như: chế định Hợp đồng vay tài sản tại BLDS 2005, các quy định về xét duyệt
cấp tín dụng, kiểm tra sử dụng tiền vay, Quy chế cho vay của TCTD với khách
hàng… tại Luật các TCTD năm 2010, Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN,
các quy định về cung ứng dịch vụ cho vay là hoạt động thương mại đối với
thương nhân (Luật Thương mại năm 2005)… Tuy nhiên trong các quy định này
có một số nội dung chưa phù hợp hoặc việc áp dụng trên thực tế còn gặp vướng
mắc và không thống nhất, gây lúng túng cho các bên tham gia giao dịch cũng
như đối với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khi giải quyết tranh chấp.
Thực trạng trên cho thấy tính thống nhất của hệ thống pháp luật thực
định Việt Nam chưa được bảo đảm, nhất là sự ra đời của Luật các TCTD năm
2010, có hiệu lực từ 01/01/2011 thì một số quy định về hợp đồng tín dụng
(HĐTD) tại các TCTD nói chung và NHTM nói riêng cần có những sửa đổi
Pháp luật số 12/2002; bài viết của tác giả Nguyễn Văn Vân (2000), "Mấy vấn
đề suy nghĩ về bản chất pháp lý của hợp đồng tín dụng ngân hàng", Khoa học
pháp lý, (số 3/2000)… Tuy nhiên, mỗi công trình nghiên cứu nhìn nhận, giải
quyết vấn đề này ở một góc độ khác nhau và cho đến nay vẫn chưa có một
công trình nào nghiên cứu chuyên sâu và riêng biệt về vấn đề hợp đồng cho
vay tại các NHTM, đặc biệt theo quy định của Luật các TCTD năm 2010 vừa
được Quốc hội thông qua ngày 16/06/2010. Do vậy, việc nghiên cứu đề tài
"Hợp đồng cho vay tại ngân hàng thương mại - Một số vấn đề lý luận và
thực tiễn" vẫn mang tính cấp thiết cần phải nghiên cứu và làm sáng rõ một số
vấn đề lý luận và thực tiễn trong giai đoạn hiện nay.
3. Mục đích và phạm vi nghiên cứu đề tài
Mục đích nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu những vấn đề lý luận và
thực tiễn về pháp luật HĐTD tại các NHTM ở Việt Nam, để trên cơ sở đó đề
ra các giải pháp, đặc biệt là các giải pháp pháp lý nhằm đảm bảo cho các hoạt
động trên. Từ mục đích đó, nhiệm vụ nghiên cứu được xác định là:
10
- Hệ thống hóa và làm rõ một số vấn đề lý luận về Hợp đồng cho vay
(HĐTD) tại các NHTM và pháp luật về HĐTD như khái niệm, đặc điểm, bản
chất pháp lý của HĐTD; Pháp luật về HĐTD, nội dung của pháp luật về HĐTD
- Đánh giá tổng quan và phân tích thực trạng pháp luật về HĐTD tại
các NHTM ở Việt Nam hiện nay, từ đó phát hiện những bất cập, tồn tại về
mặt pháp lý trong thực tiễn áp dụng HĐTD.
- Trên cơ sở những bất cập, tác giả đưa ra một số giải pháp, kiến nghị
nhằm hoàn thiện pháp luật và phát triển hệ thống pháp luật về HĐTD tại các
NHTM ở Việt Nam trong thời gian tới.
Phạm vi nghiên cứu được giới hạn ở các văn bản quy phạm pháp luật
về HĐTD tại các NHTM và các biện pháp bảo đảm an toàn trong hoạt động
cho vay của các TCTD trong giai đoạn hiện nay.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài không bao gồm tất cả các vấn đề liên
những đề xuất, kiến nghị nhằm mục đích xây dựng và hoàn thiện pháp luật.
Kết quả nghiên cứu góp phần hoàn thiện hệ thống lý luận về HĐTD
hiện hành. Bên cạnh đó, luận văn còn đi sâu phân tích những hạn chế, bất cập
của pháp luật HĐTD điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trình giao kết
và thực hiện HĐTD, đồng thời đề xuất hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật
về HĐTD trong thời gian tới.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về Hợp đồng cho vay tại các NHTM
và Pháp luật về HĐTD
Chương 2: Thực trạng pháp luật về HĐTD tại các NHTM ở Việt Nam.
Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về HĐTD tại
các NHTM ở Việt Nam.
12
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG CHO VAY
(HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG) TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI
VÀ PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG
1.1. Những vấn đề lý luận về hợp đồng tín dụng
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm, phân loại hợp đồng tín dụng
- Khái niệm hợp đồng tín dụng
Hợp đồng được định nghĩa là sự thoả thuận bằng lời nói (hoặc văn
bản) giữa hai hay nhiều chủ thể có đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi,
nhằm xác lập, thực hiện hay chấm dứt các quyền và nghĩa vụ pháp lý nhất
định trên cơ sở phù hợp với pháp luật và đạo đức xã hội.
Theo quy định tại Điều 471 BLDS 2005 thì:
Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó
trả, dựa trên sự tín nhiệm.
- Đặc điểm của hợp đồng tín dụng
HĐTD là một dạng của hợp đồng vay, vì vậy nó cũng mang những
đặc điểm của hợp đồng vay tài sản nói chung. Đặc điểm này thể hiện ở chỗ
HĐTD là hợp đồng song vụ theo quy định tại Điều 414 BLDS 2005. Điều đó
có nghĩa là trong HĐTD khi các bên đã thỏa thuận thời hạn thực hiện nghĩa
vụ thì mỗi bên phải thực hiện nghĩa vụ của mình khi đến hạn; không được
hoãn thực hiện với lý do bên kia chưa thực hiện nghĩa vụ đối với mình, trừ
các trường hợp hoãn theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, do hoạt động
ngân hàng có những điểm đặc thù so với các hoạt động kinh doanh khác nên
HĐTD cũng có những đặc điểm riêng. Ngoài những đặc điểm chung của mọi
14
loại hợp đồng, HĐTD còn có một số dấu hiệu đặc trưng sau đây để phân biệt
với các chủng loại hợp đồng khác trong giao dịch dân sự và thương mại. Cụ thể:
HĐTD luôn luôn phải được ký kết dưới hình thức văn bản và thường
theo mẫu chung do Ngân hàng ban hành tương ứng với phương thức cho vay.
HĐTD tại các NHTM đa phần là Hợp đồng theo mẫu. Tên gọi có thể
là: HĐTD, Hợp đồng vay, Khế ước vay vốn; hoặc phụ thuộc vào thời hạn
vay, mục đích vay, hợp đồng có thể có thêm các cụm từ: "ngắn hạn", "trung
hạn", "dài hạn", "đồng Việt Nam", "ngoại tệ", "tiêu dùng", "đầu tư"…
Mẫu hợp đồng mà các ngân hàng đưa ra không phải là hợp đồng mẫu
theo quy định của BLDS mà chỉ là dự thảo để thuận tiện trong quá trình đàm
phán ký kết hợp đồng. Bên vay có thể thoả thuận với ngân hàng thay đổi bất
kỳ nội dung nào tại mẫu hợp đồng do ngân hàng đưa ra. Tuy nhiên, trên thực
tế thì bên vay thường phải chấp nhận những điều khoản thiên về ràng buộc
chặt chẽ đối với bên vay và có lợi hơn cho ngân hàng.
Theo quy định của pháp luật, thì sau khi các bên đã ký kết HĐTD đã
làm phát sinh hiệu lực của hợp đồng nhưng trên thực tế, bên cạnh HĐTD, các
ngân hàng thường đưa ra thêm một loại văn bản nữa là khế ước nhận nợ, là
tổ chức hoạt động; nguyên nhân khách quan như tình hình kinh tế - xã hội,
hành lang pháp lý Do vậy, TCTD phải thực hiện việc trích lập và sử dụng
dự phòng rủi ro, cụ thể:
TCTD hoạt động, trừ ngân hàng chính sách (NHCSXH) thì theo quy
định của Ngân hàng Nhà nước (NHNN), TCTD phải thực hiện việc phân loại
nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động
ngân hàng. "Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng"
(sau đây gọi tắt là "rủi ro") là "khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân
hàng của TCTD do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực
hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết" [12]. Việc trích lập và sử dụng dự
16
phòng rủi ro đối với các NHTM là cần thiết do mục tiêu lợi nhuận là mục tiêu
kinh doanh chính của NHTM. Ngược lại, NHCSXH thực hiện các nhiệm vụ cho
vay theo các chương trình của Thủ tướng Chính phủ, phục vụ cho các mục đích
xoá đói giảm nghèo, cho vay các đối tượng là người nghèo không vì mục tiêu
lợi nhuận. Toàn bộ rủi ro trong hoạt động của NHCSXH được NHNN bảo
đảm, do vậy NHCSXH không thuộc đối tượng phải trích lập dự phòng này.
Về cơ chế thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên trong HĐTD:
Trong HĐTD, nghĩa vụ chuyển giao tiền vay (nghĩa vụ giải ngân) của
bên cho vay bao giờ cũng phải được thực hiện trước, làm cơ sở, tiền đề cho
việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của bên vay. Do đó, chỉ khi nào bên cho vay
chứng minh được rằng họ đã chuyển giao tiền vay theo đúng HĐTD cho bên
vay thì khi đó họ mới có quyền yêu cầu bên vay phải thực hiện các nghĩa vụ
đối với mình (bao gồm các nghĩa vụ chính như sử dụng tiền vay đúng mục
đích; nghĩa vụ hoàn trả tiền đúng hạn cả gốc và lãi…).
Cho vay vốn được ví như việc bán chịu một loại hàng hóa
đặc biệt, đó là tiền tệ. Vì vậy, trong quan hệ tín dụng, trước khi giải
ngân, thì thế mạnh hoàn toàn thuộc về ngân hàng và ngân hàng là
người quyết định có hay không cho vay. Dấu ấn vẫn đang hiện hữu
Tại HĐTD, quyền và nghĩa vụ của các bên sẽ phát sinh ngay sau khi
các bên đã thỏa thuận xong với nhau về những nội dung chủ yếu của hợp
đồng như: số tiền vay, lãi suất vay, thời hạn vay, biện pháp bảo đảm tiền
vay và các bên ký kết HĐTD (trừ trường hợp có sự thỏa thuận khác). Trong
trường hợp này, dù rằng các bên chưa trực tiếp thực hiện các nghĩa vụ đã cam
kết nhưng về mặt pháp lý đã phát sinh quyền yêu cầu của bên này đối với bên
kia trong việc thực hiện hợp đồng. Do vậy, thời điểm phát sinh hiệu lực của
hợp đồng chính là thời điểm các bên thỏa thuận xong các điều khoản của hợp
đồng và bên sau cùng đã ký tên, đóng dấu vào văn bản HĐTD.
18
HĐTD thường kèm theo biện pháp bảo đảm:
Các biện pháp bảo đảm cho các nghĩa vụ nợ phát sinh từ HĐTD thươ
̀
ng
dư
̣
a theo ý chí của bên cho vay trong việc xác định các tiêu chí về ru
̉
i ro tín dụng
và xếp hạng khách hàng. Do HĐTD vốn chứa đựng nguy cơ rủi ro rất lớn cho
quyền lợi của bên cho vay nên việc thiết lập cơ sở pháp lý để có thêm nguồn thu
nợ thứ hai dựa trên biện pháp bảo đảm thế chấp, cầm cố tài sản thuộc quyền sở
hữu của người đi vay hoặc bảo lãnh của bên thứ ba nhằm bảo vệ quyền lợi
của người cho vay, khi nguồn thu nợ thứ nhất không xảy ra. Thông thươ
̀
ng
nguồn thu nợ thứ nhất, nếu là cho vay để kinh doanh là từ doanh thu thực tế
nếu cho vay ngắn hạn, từ lợi nhuận và khấu hao nếu cho vay trung và dài hạn.
Trong cho vay tiêu dùng, là từ thu nhập cá nhân như tiền lương, các khoản thu
HĐTD ngắn hạn: Loại HĐTD này có thời hạn dưới 12 tháng và được
sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và các nhu
cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân. Đối với ngân hàng thương mại, tín dụng
ngắn hạn chiếm tỷ trọng cao nhất.
HĐTD trung hạn và dài hạn: Loại HĐTD này có thời hạn sử dụng
vốn vay do các bên thỏa thuận từ trên một năm trở lên.
Theo quy định hiện nay của NHNN Việt Nam, HĐTD trung hạn là các
khoản vay có thời hạn cho vay từ trên 12 tháng đến 60 tháng. Mục đích của
loại cho vay này là nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản cố định như: đầu
tư mua máy móc trang thiết bị …
HĐTD dài hạn là các khoản vay có thời hạn vay từ trên 60 tháng trở
lên. Mục đích của loại cho vay này thường là nhằm tài trợ, đầu tư vào các dự
án đầu tư. Thời gian thu hồi vốn của các chủ thể có nhu cầu vay là tương đối
lâu do ca
́
c chu
̉
thê
̉
na
̀
y phải có thời gian kinh doanh lâu dài như: vay vốn để
đầu tư xây dựng khách sạn để kinh doanh, xây dựng cơ sở sản xuất…
"Giữa các khoản vay ngắn hạn và khoản vay trung, dài hạn, thường có
những đòi hỏi khác biệt, được xem xét thẩm định theo những quy trình, thủ
20
tục khác nhau và áp dụng lãi suất khác nhau theo nguyên tắc: thời hạn càng
lâu thì càng tiềm tàng rủi ro, và sự nguy hiểm sẽ tăng theo lãi suất" [6]
Phân loại HĐTD dựa vào tính chất có bảo đảm của khoản vay
hoạt động kinh doanh của mình.Ví dụ như: cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh
công thương nghiệp, cho vay nông nghiệp, cho vay kinh doanh xuất nhập khẩu
HĐTD với mục đích vay tiêu dùng: đây là HĐTD mà trong đó các bên
cam kết số tiền vay sẽ được bên vay sử dụng vào việc thoả mãn nhu cầu sinh
hoạt hay tiêu dùng như mua sắm đồ gia dụng, mua sắm nhà cửa.
Ngoài ra, khi tài trợ cho việc vay vốn, các TCTD không được cho vay
theo các nhu cầu vay vốn sau đây (khoản 1 Điều 9 Quyết định số
1627/2001/QĐ-NHNN):
Để mua sắm các tài sản và các chi phí hình thành nên tài sản
mà pháp luật cấm mua bán, chuyển nhượng, chuyển đổi;
Để thanh toán các chi phí cho việc thực hiện các giao dịch
mà pháp luật cấm;
Để đáp ứng các nhu cầu chính của các giao dịch mà pháp
luật cấm [11].
Ngoài các căn cứ trên để phân loại HĐTD, thì theo các quy định của
pháp luật một số nước trên thế giới còn phân loại HĐTD theo một số căn cứ
khác như:
(i) căn cứ vào mức độ tín nhiệm đối với khách hàng thì hợp
đồng tín dụng được chia làm hai loại: hợp đồng tín dụng có đảm
bảo và cho vay không đảm bảo; (ii) Căn cứ vào đối tượng cho vay,
hợp đồng tín dụng được chia làm hai loại: hợp đồng tín dụng cho
vay bằng tiền và cho vay bằng tài sản; (iii) Căn cứ vào phương pháp
hoàn trả, hợp đồng tín dụng được chia thành hai loại: hợp đồng tín
dụng cho vay trả góp và cho vay phi trả góp; Căn cứ vào xuất xứ tín
22
dụng, hợp đồng tín dụng được chia thành hai loại: hợp đồng tín
dụng cho vay trực tiếp và cho vay gián tiếp [25].
1.1.2. Hình thức và thời điểm có hiệu lực của hợp đồng tín dụng
- Hình thức của hợp đồng tín dụng
Đối với chủ thể tham gia HĐTD là cá nhân thì năng lực hành vi dân
sự của chủ thể này được hiểu là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình
thực hiện các quyền và nghĩa vụ dân sự.
Đối với chủ thể của HĐTD là pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác thì
năng lực hành vi dân sự của những chủ thể này được hiểu là khả năng thực
hiện các quyền, nghĩa vụ pháp lý thông qua người đại diện hợp pháp cho các
chủ thể đó (là người đại diện theo pháp luật nếu chủ thể ký kết là pháp nhân
đó hoặc người được ủy quyền; là chủ hộ nếu chủ thể ký kết là hộ gia đình; là
tổ trưởng tổ hợp tác nếu chủ thể ký kết là tổ hợp tác).
+ Mục đích và nội dung của HĐTD không vi phạm điều cấm của pháp
luật và không trái đạo đức xã hội. Với điều kiện này nhằm mục đích bảo vệ
lợi ích chung và trật tự công cộng, tránh sự xâm hại của các bên tham gia hợp
đồng chỉ vì lợi ích riêng của họ. Nội dung của HĐTD được coi là hợp pháp khi
các điều khoản của HĐTD không vi phạm các điều cấm mà pháp luật đã quy
định hoặc không trái với quy tắc và giá trị đạo đức đã được xã hội thừa nhận.
+ Có sự đồng thuận ý chí giữa các bên cam kết trên nguyên tắc tự
nguyện, bình đẳng, tự do: một HĐTD bị coi là không có sự đồng thuận khi sự
thoả thuận đó giữa các bên bị các khiếm khuyết như sự nhầm lẫn, sự lừa dối,
lừa gạt… khi giao kết hợp đồng. Nhưng các khiếm khuyết này phải có ảnh
hưởng mang tính quyết định đến ý chí giao kết hợp đồng của các bên thì mới
được coi là sự kiện pháp lý làm cho HĐTD vô hiệu.
+ Hình thức của HĐTD phù hợp với các quy định của pháp luật ngân
hàng: Điều kiện này được quy định trong các văn bản pháp luật về ngân hàng
24
nhằm mục đích ngăn ngừa các rủi ro tín dụng và bảo đảm an toàn cho hoạt
động kinh doanh tiền tệ của các TCTD. Theo quy định của pháp luật hiện
hành, HĐTD phải được giao kết bằng văn bản thì mới có hiệu lực pháp lý
ràng buộc giữa các bên.
Ngoài ra, khi xem xét hiệu lực pháp lý của HĐTD, ngoài việc xem xét
doanh nghiệp, đánh giá tính khả thi, hiệu quả của dự án sản xuất
kinh doanh, dịch vụ, đời sống và khả năng hoàn trả của doanh
nghiệp, ngân hàng, tổ chức tín dụng phải ra quyết định và thông báo
cho doanh nghiệp về quyết định cho vay của mình. Trong trường
hợp quyết định không cho vay, tổ chức tín dụng phải nêu rõ lý do từ
chối cho vay.
Quyết định cho vay của tổ chức tín dụng không đồng nghĩa
với việc hợp đồng tín dụng đã được ký kết. Quyết định trên chỉ là cơ
sở để đàm phán, thoả thuận các điều khoản trong hợp đồng và ký kết
hợp đồng tín dụng. Về nguyên tắc, hợp đồng tín dụng phát sinh hiệu
lực kể từ khi đại diện hai bên tham gia quan hệ hợp đồng (tổ chức tín
dụng và doanh nghiệp) đã ký vào văn bản hợp đồng và các bên cũng
không có thoả thuận về thời hạn bắt đầu có hiệu lực của đồng [8].
Về nguyên tắc khi khoản vay được bảo đảm bằng tài sản thì
hợp đồng bảo đảm phải được ký, có hiệu lực trước hoặc cùng với
ngày ký hợp đồng tín dụng. Trường hợp hợp đồng tín dụng được ký
trước hợp đồng bảo đảm thì vốn vay được giải ngân sau khi hợp
đồng bảo đảm đã có hiệu lực. Nhưng nhiều hợp đồng tín dụng đã
được ngân hàng và khách hàng thoả thuận. "hợp đồng tín dụng này
có hiệu lực kể từ ngày ký hợp đồng bảo đảm hoặc kể từ ngày hợp
đồng bảo đảm được đăng ký giao dịch bảo đảm". Giao dịch bảo
đảm thực chất là hợp đồng thế chấp, cầm cố, bảo lãnh bằng tài sản,
theo đó bên bảo đảm với bên nhận bảo đảm cam kết, thỏa thuận với
nhau về việc dùng tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của Bên
26
bảo đảm để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự phát sinh từ hợp
đồng tín dụng. Do vậy, các cán bộ tín dụng hiểu rằng nếu các bên
đã thoả thuận giao dịch bảo đảm là điều kiện có hiệu lực của nghĩa
vụ bảo đảm, thì giao dịch bảo đảm bị vô hiệu sẽ dẫn đến hợp đồng