Bài tập lớn học kỳ Luật dân sự Việt Nam
A. ĐẶT VẤN ĐỀ……………………………………………………………………..…....2
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ……………………………………………………………..…2
I.Khái quát chung về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng……………...…2
1. Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng………………………….…....2
2. Đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng………………………..….3
3. Ý nghĩa của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng…………………………..….5
II.Năng lực trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân do gây
thiệt hại ngoài hợp đồng…………………………………………………………………6
1. Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường từ đủ mười tám tuổi trở lên có
đủ năng lực hành vi dân sự………………………………………………………………………6
2. Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người từ đủ mười
lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi…………………………………………………………….7
3. Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người chưa thành
niên và người mất năng lực hành vi dân sự…………………………………………………….11
4. Một số trường hợp về năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại…………………..12
ngoài hợp đồng.
III. Thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật về năng lực chịu trách nhiệm bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân…………………………………………………12
1.Một số vướng mắc trên thực tế về vấn đề năng lực chịu trách nhiệm bồi
thường thiệt hại của cá nhân…………………………………………………………………..….12
2.Về quy định của dự thảo luật dân sự về vấn đề năng lực chịu trách
nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng………………………………………………….....16
3. Kiến nghị………………………………………………………………………………………….18
C. KẾT THÚC VẤN ĐỀ…………………………………………………………………20
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO……………………………………………….21
1
Bài tập lớn học kỳ Luật dân sự Việt Nam
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Bồi thường thiệt hại là một trong những chế định có sớm nhất và quan trọng nhất
của pháp luật dân sự. Trong đời sống có rất nhiều sự việc thực tế tranh chấp dẫn đến việc
hợp không có lỗi thì áp dụng quy định đó”.
Như vậy theo quy định tại Điều 604, BLDS 2005 thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng phát sinh khi có người có hành vi trái pháp luật có lỗi gây thiệt hại cho các
lợi ích được pháp luật bảo vệ. Ngoài ra, trong những trường hợp đặc biệt nếu pháp luật quy
định người gây thiệt hại phải bồi thường thiệt hại kể cả khi không có lỗi thì trách nhiệm bồi
thường thiệt hại cũng phát sinh kể cả khi không có lỗi của người gây thiệt hại. Dưới góc độ
khoa học pháp lý, trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp này được gọi là trách
nhiệm nâng cao.
Từ đó có thể đưa ra khái niệm về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
như sau: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một loại trách nhiệm pháp lý
được phát sinh dựa trên các điều kiện do pháp luật quy định khi một chủ thể có hành vi gây
thiệt hại cho các lợi ích được pháp luật bảo vệ.
Nếu trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo hợp đồng bao giờ cũng được phát sinh
trên cơ sở một hợp đồng có trước thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là
một loại trách nhiệm pháp lý do pháp luật quy định đối với người có hành vi trái pháp luật
xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác. Hiện nay, pháp luật Việt Nam
quy định chủ yếu về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng đối với hành vi xâm
phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản của các cá nhân và tổ
chức khác.
2. Đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại còn có những đặc điểm sau đây: do cơ quan nhà
nước có thẩm quyền áp dụng, áp dụng đối với người có hành vi vi phạm pháp luật, luôn
mang đến hậu quả bất lợi cho người bị áp dụng, được đảm bảo thực hiện bằng cưỡng chế
nhà nước….
3
Bài tập lớn học kỳ Luật dân sự Việt Nam
- Về cơ sở pháp lý: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại là một loại trách nhiệm Dân sự và
chịu sự điều chỉnh của pháp luật Dân sự. Khi một người gây ra tổn thất cho người khác thì
họ phải bồi thường thiệt hại và bồi thường thiệt hại chính là một quan hệ tài sản do Luật
Dân sự điều chỉnh và được quy định trong BLDS ở Điều 307 và Chương XXI và các văn
- Các bên có quan hệ hợp đồng nhưng thiệt hại xảy ra không liên quan đến việc thực hiện
nghĩa vụ theo hợp đồng.
- Việc thực hiện nghĩa vụ trong bồi thường thiệt haij ngoài hợp đồng thông thường sẽ làm
chấm dứt nghĩa vụ.
- Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng phát sinh ngay khi phát sinh nghĩa vụ
bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật mà không dựa trên cơ sở tự do thỏa thuận
của các bên.
3. Ý nghĩa của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Thứ nhất, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nhằm khắc phục những hậu
quả về tài sản, phục hồi lại tình trạng tài sản của người bị thiệt hại. Trong phạm vi của
mình đảm bảo lợi ích của người bị thiệt hại. Giải quyết việc bồi thường thiệt hại ngoài hợp
đồng là áp dụng một biện pháp trách nhiệm dân sự, được thể hiện theo một bản án dân sự
hay một quyết định dân sự trong một bản án hình sự về nguyên tắc thì thiệt hại phải được
bồi thường một cách toàn bộ và kịp thời( Điều 606).
Thứ hai, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng không chỉ nhằm bảo đảm
việc đền bù tổn thất gây ra mà còn giáo dục mọi người về ý thức tuân thủ pháp luật, bảo vệ
tài sản xã hội chủ nghĩa, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của người khác. Hậu quả của
việc áp dụng trách nhiệm này luôn mang đến những bất lợi về tài sản của người gây thiệt
hại để bù đắp những thiệt hại mà họ đã gây ra cho chủ thể khác, đặc biệt đối với hành vi
phạm tội với động cơ vụ lợi. Vì vậy trong pháp luật dân sự không thể coi trách nhiệm bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng là việc áp dụng một biện pháp hình sự hay hình phạt phụ.
Điều 34 Bộ luật hình sự quy định bồi thường thiệt hại là một trong các biện pháp tư pháp
chứ không quy định nó trong danh mục hình phạt chính hay phụ.
5
Bài tập lớn học kỳ Luật dân sự Việt Nam
II.Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân do gây thiệt hại ngoài hợp
đồng.
Trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, pháp luật có quy định về năng
lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân. Việc quy định này là cần thiết vì cá
nhân gây thiệt hại và việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại thuộc về ai có ý nghĩa
sản của họ trên thực tế không có ( người mười tám tuổi không có bất cứ khoản thu nhập
nào, họ không có tài sản riêng để bồi thường). Vì vây, khi quyết định bồi thường đối với
những người này có thể động viên cha, mẹ bồi thường thay cho con em họ, nếu cha, mẹ tự
nguyện bồi thường, thì ghi nhận sự tự nguyện đó mà không buộc cha, mẹ phải bồi thường.
2. Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa
đủ mười tám tuổi.
Đối với những người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại thì
luật quy định họ phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi
thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình. Tức là áp dụng
ngược lại với trường hợp trên lấy tài sản của con để bồi thường, cha mẹ chịu trách nhiệm
bổ sung phần còn thiếu. Sở dĩ có quy định như vậy là phù hợp với tinh thần của Điều 20
BLDS 2005. Theo quy định này cá nhân có độ tuổi từ mười lăm tuổi đến dưới mười tám
tuổi đã có năng lực hành vi dân sự nhưng không đầy đủ. Ở đây khả năng nhận thức của họ
đã phát triển họ có thể tự mình thực hiện những giao dịch dân sự phục vụ nhu cầu sinh hoạt
hằng ngày của họ nên đương nhiên họ cũng sẽ có khả năng tự mình xác lập, thực hiện
quyền và nghĩa vụ dân sự nếu có tài sản. Họ đã có khả năng lao động và tạo ra thu nhập. Vì
thế nên họ phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình trước pháp luật. Việc quy định cha,
mẹ có trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi tài sản của người chưa thành niên từ đủ mười
lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi được hiểu là nghĩa vụ bổ sung.
Người từ đủ mười lăm tuổi đến dưới mười tám tuổi thì không bắt buộc phải có người
giám hộ. Nếu như họ có người giám hộ thì theo khoản 3 Điều 606: khi người được giám hộ
gây thiệt hại thì người giám hộ được dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường.
7
Bài tập lớn học kỳ Luật dân sự Việt Nam
Trong trường hợp người được giám hộ không có tài sản hoặc tài sản không đủ để bồi
thường thì người giám hộ có trách nhiệm phải bồi thường nếu họ có lỗi.
3.Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người chưa thành niên và người mất
năng lực hành vi dân sự.
3.1. Cha mẹ phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
a. Đối với người chưa thành niên dưới mười lăm tuổi.