MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 2
NỘI DUNG 3
I. NĂNG LỰC CHỊU TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG
THIỆT HẠI CỦA CÁ NHÂN DO HÀNH VI GÂY THIỆT HẠI
– MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN.
3
1. Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người
đã thành niên.
3
2. Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người
chưa thành niên.
4
3. Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người
mất năng lực hành vi dân sự.
7
II. NĂNG LỰC CHỊU TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG
THIỆT HẠI CỦA CÁ NHÂN DO HÀNH VI GÂY THIỆT HẠI
– MỘT SỐ VẤN ĐỀ THỰC TIỄN.
8
1. Bồi thường thiệt hại do hành vi của người đã thành niên gây ra. 8
2. Bồi thường thiệt hại do hành vi của người chưa thành niên gây ra. 12
3. Bồi thường thiệt hại do hành vi của người bị hạn chế năng lực
hành vi dân sự gây ra.
14
III.NHẬN XÉT CHUNG 15
1. Những quy định của pháp luật hiện hành và thực tiễn về
năng lực bồi thường thiệt hại
15
2. Một số đề xuất cá nhân 18
KẾT LUẬN 19
LUẬN.
Xuất phát từ năng lực chủ thể của cá nhân khi tham vào quan hệ dân sự,
BLDS quy định năng lực chịu trách nhiệm của cá nhân phụ thuộc vào mức độ năng
lực hành vi, tình trạng tài sản và khả năng bồi thường của cá nhân. Cụ thể là:
1. Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người đã thành niên.
Người đã thành niên được xác định là những người có độ tuổi từ đủ 18 trở
lên, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, có khả năng bằng hành vi của mình tự tạo
ra quyền và thực hiện nghĩa vụ (Điều 19 BLDS năm 2005).
Khoản 1 Điều 606 BLDS năm 2005 quy định về năng lực chịu trách nhiệm
BTTH của người đã thành niên như sau: “Người từ đủ mười tám tuổi trở lên gây
thiệt hại thì phải tự bồi thường.”. Điều này có nghĩa là họ phải dùng tài sản của
chính mình để BTTH do hành vi bất hợp pháp của mình. Tuy nhiên, trên thực tế,
nhiều người có đầy đủ năng lực hành vi nhưng khả năng về tài sản không có, tức là
những họ không có bất cứ thu nhập nào và cũng không có tài sản riêng để bồi
thường. Vì thế, khi quyết định bồi thường đối với những người này, có thể động
viên cha mẹ bồi thường thay cho con em họ, nếu cha mẹ tự nguyện bồi thường thì
ghi nhận sự tự nguyện đó mà không buộc cha mẹ bồi thường thay cho con em họ.
Những người từ đủ 18 tuổi trở lên là cán bộ, công chức hay người có thẩm
quyền của cơ quan tiến hành tố tụng khi gây ra thiệt hại không phải với tư cách là
công dân bình thường thì việc BTTH của họ trong trường hợp này cũng khác. Điều
này được quy định tại Điều 619 và Điều 620 BLDS năm 2005, theo đó:
Ðiều 619: Bồi thường thiệt hại do cán bộ, công chức gây ra
“Cơ quan, tổ chức quản lý cán bộ, công chức phải bồi thường thiệt hại do
cán bộ, công chức của mình gây ra trong khi thi hành công vụ.
Cơ quan, tổ chức quản lý cán bộ, công chức có trách nhiệm yêu cầu cán bộ,
3
công chức phải hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật, nếu cán bộ,
công chức có lỗi trong khi thi hành công vụ.”.
Ðiều 620: Bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của cơ quan tiến
với điều kiện thực tế ở nước ta, những người từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi có khả
năng lao động để tạo ra thu nhập hoặc có tài sản riêng. Vì vậy, cách thức BTTH
giữa hai nhóm là khác nhau. Điều này được quy định tại Khoản 2 Điều 606 BLDS
năm 2005 như sau:
- Đối với những người dưới 15 tuổi: “Người chưa thành niên dưới mười
lăm tuổi gây thiệt hại mà còn cha, mẹ thì cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại;
nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường mà con chưa thành niên gây thiệt
hại có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thiếu, trừ trường hợp
quy định tại Ðiều 621 của Bộ luật này…”.
Như vậy, cũng xuất phát từ quan điểm cha mẹ sẽ đứng ra cùng con chưa
thành niên BTTH thì trường hợp con chưa đủ 15 tuổi (tức là chưa có năng lực hành
vi dân sự) gây ra thiệt hại thì cha mẹ sẽ là người bồi thường toàn bộ thiệt hại; và
chỉ khi tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường mà con chưa thành niên gây
thiệt hại có tài sản riêng thì mới lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thiếu. Nếu
cha, mẹ không còn hoặc mất năng lực hành vi dân sự thì theo quy định của pháp
luật, người dưới 15 tuổi buộc phải có người giám hộ. Tuy nhiên, khi có thiệt hại do
hành vi của người dưới 15 tuổi gây ra, người giám hộ sẽ đứng lên cùng người được
giám hộ BTTH nhưng dùng tài sản của người được giám hộ trước, nếu thiếu, người
giám hộ phải có nghĩa vụ bổ sung.
Về cơ bản, trách nhiệm BTTH trường hợp này trước hết thuộc về cha, mẹ vì
cha, mệ là người trực tiếp trông nom, quản lý và chăm sóc con cái. Do đó, khi
người dưới 15 tuổi không trực tiếp chịu sự quản lý của cha, mẹ mà chịu sự quản lý
của một cơ quan, tổ chức khác như trường học thì việc BTTH được xác định theo
Khoản 1 và Khoản 3 Điều 621 BLDS năm 2005 như sau:
“1. Người dưới mười lăm tuổi trong thời gian học tại trường mà gây thiệt hại
thì trường học phải bồi thường thiệt hại xảy ra.
5
…
3. Trong các trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Ðiều này, nếu
hành vi dân sự.
Người mất năng lực hành vi dân sự là người không có khả năng nhận thức,
kiểm soát và điều chỉnh hành vi của mình (ví dụ như bị bệnh tâm thần), vì thế, khi
tham gia giao dịch dân sự, pháp luật quy định người giám hộ của họ có thể xác lập
thay. Người mất năng lực hành vi dân sự theo quy định tại điểm b Khoản 2 Điều
58 BLDS năm 2005 là người được giám hộ.
Khoản 3 Điều 606 BLDS năm 2005 quy định: “Người chưa thành niên,
người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại mà có người giám hộ thì người
giám hộ đó được dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường; nếu người
được giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường thì người giám
hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu người giám hộ chứng minh được
mình không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài sản của mình để bồi
thường.” Như vậy, hành vi được thực hiện bởi người mất năng lực hành vi dân sự
gây ra thiệt hại cho người khác thì người giám hộ đương nhiên, người giám hộ
được cử (đối với những người phải có người giám hộ quy định tại Khoản 2 Điều
58 BLDS năm 2005) sẽ dùng tài sản của người được giám hộ để BTTH. Người
giám hộ cũng có nghĩa vụ bổ sung nhưng nếu họ chứng minh được rằng hộ không
có lỗi trong việc giám hộ họ không phải lấy tài sản của mình để bồi thường. Trong
trường hợp người được giám hộ không có khả năng để bồi thường và người giám
hộ không có lỗi thì sẽ không có người BTTH. Lúc này, thiệt hại sẽ chỉ được xem
như rủi do.
Luật Dân sự Việt Nam quy định người giám hộ có nghĩa vụ bổ sung nếu tài
sản của người được giám hộ không đủ để BTTH bởi lẽ: người giám hộ đương
nhiên của người mất năng lực hành vi dân sự thường là vợ hoặc chồng của người
mất năng lực hành vi dân sự, cha mẹ người mất năng lực hành vi dân sự, anh chị
em ruột của người mất năng lực hành vi dân sự (khi cha, mẹ người mất năng lực
7
hành vi dân sự đã chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự hoặc không đủ điều kiện
để làm người giám hộ),… Quan hệ giữa người giám hộ đương nhiên và người