Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân do gây thiệt hại ngoài hợp đồng- Một số vấn đề lý luận và thực tiễn - Pdf 26

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một vấn đề pháp lý rất phức
tạp bởi nó xảy ra thường xuyên và liên tục trong đời sống xã hội, việc xử lý các
vụ án có liên quan cũng gặp rất nhiều khó khăn. Một trong những vấn đề gây
tranh cãi trong nhiều vụ án là việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại và
ai là người phải bồi thường thiệt hại. Đó chính là vấn đề em xin trình bày dưới
đây với nội dung đề tài: Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của
cá nhân do gây thiệt hại ngoài hợp đồng- Một số vấn đề lý luận và thực tiễn.
Bài viết còn nhiều sai sót, em mong rằng thầy cô giúp em chỉ ra lỗi sai và hoàn
thiện hơn về kiến thức.
 

A. Khái quát chung về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
của cá nhân
I. Khái niệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân
Bồi thường thiệt hại là một tình thế buộc một người phải thực hiện một hành vi
hoặc có trách nhiệm gánh chịu những bất lợi về tài sản hoặc về nhân thân. Trách
nhiệm dân sự ngoài hợp đồng là trách nhiệm của người có hành vi trái pháp luật
gây thiệt hại cho người khác về tài sản, tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh
dự, uy tín mà trước đó không giao kết hợp đồng hoặc có giao kết hợp đồng
nhưng hành vi gây thiệt hại không thuộc hành vi vi phạm hợp đồng.
II. Các điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại
Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là những
yếu tố, những cơ sở để xác định trách nhiệm bồi thường, người phải bồi thường
và mức độ bồi thường. Có 4 điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường
1. Có thiệt hại xảy ra
Thiệt hại xảy ra là tiền đề của việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại bởi
mục đích của việc bồi thường thiệt hại là khôi phục lại tình trạng tài sản của
người bị thiệt hại. Thiệt hại là những tổn thất thực tế được tính thành tiền do việc
xân phạm đến tài sản, tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá
nhân, tổ chức. Thiệt hại gồm;
- Thiệt hại về tài sản, biểu hiện cụ thể là mất tài sản, giảm sút tài sản, những chi

mẹ, người giám hộ,quản lý của cá nhân đó. Theo đó, chủ thể có trách nhiệm bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng được xác định như sau:
I. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân từ đủ
18 tuổi trở lên và có hành vi dân sự đầy đủ
Pháp luật quy định người đã thành niên là người tuổi từ đủ 18 trở lên, không mắc
bệnh tâm thần hay các bệnh khác mà không thể nhận thức được hành vi của
mình, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự và do đó cá nhân này phải tự chịu trách
nhiệm về mọi hành vi của mình trước pháp luật. Theo khoản 1 Điều 606 BLDS
thì người từ đủ 18 tuổi trở lên khi gây thiệt hại phải tự chịu trách nhiệm bồi
thường cho người bị thiệt hại bằng tài sản của mình mà không phụ thuộc vào
tình trạng tài sản của cá nhân này. Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều cá nhân đủ 18
tuổi nhưng vẫn cần cha mẹ chu cấp học đại học, học nghề, chưa lao động và
không có tài sản riêng thì pháp luật nên quy định cha mẹ dùng tài sản của mình
thực hiện nghĩa vụ thay con để bảo đảm lợi ích của người bị thiệt hại, dựa trên
nguyên tắc bồi thường toàn bộ và kịp thời.
Theo nghị quyết 03/2006 của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao,
người đã thành niên gây thiệt hại cho người khác thì phải chịu trách nhiệm bồi
thường toàn bộ thiệt hại bằng tài sản của mình. Tuy nhiên người đã thành niên
còn bao gồm cả người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự theo quy định tại Điều
23 BLDS. Như vậy, phải chăng người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự cũng
phải chịu trách nhiệm bồi thường như vậy? Người bị hạn chế năng lực hành vi
dân sự là người đủ 18 tuổi trở lên nhưng nghiện ma túy hay các chất kích thích
khác dẫn đến phá tán tài sản của gia đình. Mọi giao dịch dân sự liên quan đến tài
sản của cá nhân này đều phải có sự đồng ý của người đại diện do tòa án chỉ định.
Quy định trên nhằm hạn chế năng lực hành vi dân sự của họ khi tham gia vào
những giao dịch có liên quan đến tài sản nhưng không là căn cứ loại trừ trách
nhiệm của họ khi có hàn vi gây thiệt hại cho người khác. Như vậy, trên nguyên
tắc của luật thì những cá nhân này vẫn phải chịu trách nhiệm về mọi hành vi của
mình, trong đó có trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
II. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân dưới

gây thiệt hại nhưng trách nhiệm bồi thường thiệt hại thuộc về cha mẹ chứ không
phải trực tiếp người đó. Nhiều ý kiến cho rằng tuy cha mẹ không có lỗi trong sự
kiện gây thiệt hại đó nhưng họ có lỗi trong việc quản lý, giám sát con mình khiến
họ có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại cho người khác. Tuy nhiên, xét về bản
chất thì trách nhiệm bồi thường của cha mẹ là trách nhiệm pháp lý, không cần
điều kiện lỗi của cha mẹ trong việc giám sát hành vi của con mình. Quy định này
còn có ý nghĩa về mặt thực tiễn là đảm bảo quyền lợi hợp pháp của người bị thiệt
hại, giup họ được bồi thường theo nguyên tắc toàn bộ và kịp thời. Việc lấy tài
sản riêng của con bồi thường phần còn thiếu nếu tài sản của cha mẹ không đủ là
nhằm kịp thời khắc phục thiệt hại cho người bị thiệt hại nhằm bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của họ chứ không có ý nghĩa là trách nhiệm bồi thường thiệt hại
được chuyển sang cho con và triệt tiêu trách nhiệm của cha mẹ. Về nguyên tắc,
trách nhiệm bồi thường thiệt hại của con dưới 15 tuổi luôn luôn thuộc về cha mẹ.
Trong xã hội ngày nay, nhiều bậc phụ huynh hoặc quá bận rộn, không có thời
gian quan tâm chăm sóc, dạy dỗ con cái, hoặc bỏ mặc con không chăm sóc, điều
này dễ khiến con trẻ bị dụ dỗ vào những tệ nạn xã hội như nghiện hút, mại dâm,
bạo lực… Quy định của Điều 606 BLDS đã buộc cha mẹ phải có trách nhiệm
pháp lý đối với những thiệt hại do con dưới 15 tuổi gây ra, góp phần đề cao trách
nhiệm quản lý, chăm sóc con cái của cha mẹ.
Tương tự với trường hợp cá nhân dưới 15 tuổi gây thiệt hại, những người bị mất
năng lực hành vi dân sự không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do họ
gây ra mà cha mẹ người đó phải bồi thường thiệt hại. Người bị mất năng lực
hành vi dân sự là những người chưa thành niên hoặc đã thành niên, nhưng không
có trí tuệ phát triển như bình thường do bị tâm thân hoặc các bệnh khác khiến họ
không thể nhận thức và làm chủ hành vi của mình. Trên cơ sở của tổ chức giám
định, theo yêu cầu của những người có quyền lợi liên quan thì Tòa án có thể
tuyên bố một ngươi mất năng lực hành vi dân sự theo trình tự thủ tục luật định.
Những người này không thể nhận thức được hành vi của minh do đó cũng không
hiểu được hậu quả có thể xảy ra do hành vi của mình, vì vậy họ cần được sự


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status