VIỆN HÀN LÂM KHOA
HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC
VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ NGUYỄN ĐÔNG QUÂN
LÃI SUẤT TRONG HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG THEO
PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN HOẠT • •
••
ĐỘNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP QUÂN ĐỘI
CHI NHÁNH ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI, năm
2018
VIỆN HÀN LÂM KHOA
HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC
VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ NGUYỄN ĐÔNG QUÂN
LÃI SUẤT TRONG HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG THEO
PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN HOẠT
ĐỘNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP QUÂN ĐỘI
CHI NHÁNH ĐÀ NẴNG
Chuyên ngành : Luật kinh
Trang
2.1
Một số chỉ tiêu về huy động vốn tại MBBank Đà Nằng
2.2
2.3
Dư nợ cho vay giai đoạn năm 2015 đến 2017
28
30
Tình hình hoạt động kinh doanh từ năm 2015 - 2017
32
DANH MỤC CÁC HÌNH
Số hiệu
Tên hình
hình
Trang
lãi suất trở thành công cụ đắc lực để Ngân hàng nhà nước thực thi chính sách tiền tệ
nhằm điều tiết các mối quan hệ giữa tiết kiệm và đầu tư, lạm phát và tăng trưởng
kinh tế. Mặt khác, lãi suất còn là một hiện tượng tiền tệ phản ánh mối quan hệ giữa
cung và cầu trên vấn đề tiền tệ, nói một cách dễ hiểu, lãi suất phản ánh được sự
chênh lệch của việc xác định một cách ngoại sinh các vấn đề nguồn cung tiền tệ mặc
khác vừa phản ánh các nhu cầu đầu cơ, phòng ngừa và giao dịch về tiền, từ đó tạo ra
một góc cạnh đánh giá được sự biến động của cán cân tiền tệ trong sự phát triển tín
dụng của hệ thống ngân hàng từ đó tạo cơ sở cho các doanh nghiệp đề ra những
phương án, chiến lược phát triển có hiệu quả, mặt khác tạo một góc nhìn góp phần
làm tiền đề cho các cơ quan có thẩm quyền trong việc ban hành các văn bản quy
phạm pháp luật, các chính sách quản lý phù hợp, hiệu quả và thống nhất.
5
Từ đó tạo hành lang pháp lý an toàn cho các tổ chức tín dụng trong và ngoài nước
hoạt động, phát triển quy mô của tổ chức mình, giúp các chủ thể trong nước tăng khả
năng cạnh tranh với các đối thủ nước ngoài, nhất là khi nước ta bước chân vào kỷ
nguyên của sự hội nhập.
Xét trên tầm vĩ mô, lãi suất là công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô rất có hiệu quả
của chính phủ thông qua việc thay đổi mức và cơ cấu lãi suất trong từng thời kỳ nhất
định, có tầm ảnh hưởng đến nền kinh tế của cả quốc gia. Và đứng ở tầm vi mô, lãi
suất là cơ sở để cho cá nhân cũng như doanh nghiệp đưa ra quyết định của mình như
chi tiêu hay để dành tiết kiệm, đầu tư, mua sắm trang thiết bị phục vụ sản xuất kinh
doanh hay cho vay hoặc gởi tiền vào ngân hàng.
Chính vì vậy, lãi suất không chỉ là một phạm trù kinh tế mang tính chất tổng
hợp, đa dạng và phức tạp mà đó còn là một trong những công cụ quản lý và điều tiết
chính sách tiền tệ của Nhà nước có tầm ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển của nền
kinh tế nói chung và sự ổn định trong hệ thống tín dụng nói riêng.
Với cách nhìn nhận đúng đắn, trong những năm qua hệ thống về lãi suất tại
Láng Hạ" của tác giả Bùi Thị Nga, (Trường Đại học Luật Hà Nội, 2007);
Ngoài ra còn có một số bài viết trên các tạp chí chuyên ngành về một nội dung
nhất định của lãi suất trong hợp đồng tín dụng như bài viết của tác giả Nguyễn Văn
Vân "Mấy vấn đề suy nghĩ về bản chất pháp lý của hợp đồng tín dụng ngân hàng",
đăng trên tạp chí Khoa học pháp lý số 3/2000;
Luận án Phó tiến sĩ khoa học kinh tế “Phương pháp xác định lãi suất ngân
hàng trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam” của tác giả Hoàng Thị Loan năm
1996 và hai khóa luận tốt nghiệp năm 2009 “Tự do hóa lãi suất và tác động đối với
nền kinh tế Việt Nam” của Nguyễn Minh Tuấn và “Giải pháp nâng cao hiệu quả điều
hành lãi suất của NHNN Việt Nam” của Võ Thị Thùy Trang
Luận văn thạc sỹ tác giả Dương Thu Phương “Lãi suất trong hợp đông vay tiền
và tác động của nó đến nền kinh tế hiện nay”, (Trường Đại học Luật Hà Nội- Năm
2009)
Bên cạnh đó, có rất nhiều bài viết trên các tạp chí như Tạp chí ngân hàng, Tạp
chí tài chính cũng nghiên cứu về lãi suất. Đặc biệt trong thời gian từ năm 2008 đến
nay, do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế, thị trường tài chính Việt Nam
cũng có nhiều biến động nên NHNN đã có chính sách về lãi suất tạo những phản
7
ứng khác nhau trong giới chuyên môn. Những bài viết này chủ yếu xem xét lãi suất
dưới góc độ kinh tế và vai trò của lãi suất trong nền kinh tế thị trường hoặc đánh giá
dưới góc độ lập pháp và hành pháp về cơ chế điều hành lãi suất của NHNN Trường
Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh và các đề tài khác cũng như các bài báo liên quan
đến vấn đề lãi suất trong hợp đồng tín dụng đã được Tác giả tham khảo và làm rõ
hơn trong luận văn nghiên cứu về phát triển hoạt động cho vay trong đó chú trọng
đến yếu tố lãi xuất tại tại Ngân hàng TMCP Quân Đội - Chi nhánh Đà Nẵng.
Tuy nhiên, mỗi công trình nghiên cứu nhìn nhận, giải quyết vấn đề này ở một
góc độ khác nhau và cho đến nay vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu chuyên
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu đề tài là thực trạng pháp luật về lãi suất và đề ra các
biện pháp nhằm nâng cao hoạt động tại Ngân hàng TMCP Quân đội - Chi nhánh Đà
Nẵng.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu được giới hạn ở các văn bản quy phạm pháp luật về hợp
đồng tín dụng tại các NHTM và các biện pháp bảo đảm an toàn trong hoạt động cho
vay của các TCTD trong giai đoạn hiện nay. Phạm vi nghiên cứu của đề tài không
bao gồm tất cả các vấn đề liên quan đến hoạt động của các TCTD nói chung, NHTM
nói riêng mà giới hạn ở các quy phạm pháp luật điều chỉnh lãi suất trong hợp đồng
tín dụng được ký kết bởi các NHTM và khách hàng cũng như một số vấn đề thực
tiễn đặt ra trong quá trình cho vay của NHTM. Trong khuôn khổ của một đề tài luận
văn thạc sỹ, học viên chưa có nhiều sự hiểu biết chuyên sâu, cũng như sự hạn chế về
thời gian nên không tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Vì vậy, học viên mong
nhận được sự góp ý đánh giá từ các thầy cô hướng dẫn để đề tài có thể hoàn thiện
hơn.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Khi tiếp cận vấn đề nghiên cứu, luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa
Mác -Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, các quan điểm của
9
Đảng Cộng sản Việt Nam trong qua trình đổi mới, xây dựng đất nước Việt Nam Xã
hội Chủ nghĩa và vấn đề cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu của luận văn là đi từ lý luận đến thực tiễn, dùng thực
tiễn kiểm chứng lý luận. Các phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành như
phương pháp lịch sử, phân tích, so sánh, chứng minh, tổng hợp và phương pháp
Chương 2: Những vấn đề thực tiễn về lãi suất trong hợp đồng tín dụng của
Ngân hàng TMCP Quân đội - Chi nhánh Đà Nẵng.
Chương 3: Giải pháp phát triển và đề xuất giải pháp hoàn thiện hệ thống
lãi suất cũng như nâng cao hiệu quả hoạt động của Ngân hàng thương
mại cổ phần Quân đội - Chi nhánh Đà Nằng.
11
CHƯƠNG 1
LÍ LUẬN CHUNG VỀ LÃI SUẤT TRONG HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG
1.1. Khái quát về hợp đồng tín dụng
1.1.1. Khái niệm
Hợp đồng tín dụng về bản chất là những hợp đồng cho vay tài sản theo quy
định của Bộ luật Dân sự 2015 có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2017. Tuy nhiên, chỉ
gọi là hợp đồng tín dụng trong trường hợp bên cho vay là các tổ chức tín dụng trong
đó chủ yếu là các ngân hàng (sau đây gọi chung là ngân hàng).
Hợp đồng tín dụng chính là hợp đồng cho vay, theo đó ngân hàng là bên cho
vay giao cho bên vay một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một
thời hạn nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Cách
hiểu đối với hợp đồng tín dụng bằng phương pháp phân tích câu từ là như vậy, một
câu hỏi đặt ra là vì sao ở đây chúng ta không trích dẫn cách hiểu từ một văn bản luật
hay môt văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến khái niệm này? Câu trả lời là bởi
lẽ trước đây trong Luật Các tổ chức tín dụng 1997 (sửa đổi, bổ sung năm 2004) có
quy định như sau: Việc cho vay phải được lập thành HĐTD. HĐTD phải có nội dung
về điều kiện vay, mục đích sử dụng tiền vay, hình thức vay, số tiền vay, lãi suất, thời
hạn vay, hình thức bảo đảm, giá trị tài sản bảo đảm, phương thức trả nợ và những
cam kết khác được các bên thỏa thuận, tuy nhiên đến khi luật các tổ chức tín dụng
năm 2010 được ban hành thì khái niệm này đã bị thay thế bởi “cụm từ” cấp tín dụng,
căn cứ xác thực nhất để các cơ quan tài phán giải quyết tranh chấp. Đa phần các
HĐTD là hợp đồng theo mẫu, chủ thể cho vay là TCTD soạn thảo dựa trên các quy
định của pháp luật và phù hợp với quy chế cho vay của TCTD. Bên vay thường phải
chấp nhận những điều khoản trong hợp đồng mà không phải ai cũng có thể yêu cầu
sửa đổi điều khoản theo hướng có lợi hơn cho mình. Trong hợp đồng tín dụng sự tự
do ý chí trong việc giao kết được thể hiện thông qua việc khách hàng đồng ý giao kết
hợp đồng, điều đó đồng nghĩa với câu chuyện khách chấp nhận những điều khoản
trong đó, ngược lại thì không giao kết. Thực tế cho thấy việc thỏa thuận, sửa đổi, một
số điều khoản trong HĐTD theo mẫu chỉ xảy ra với những tổ chức, cá nhân có uy tín,
khoản vay lớn và TCTD có thể thu được lợi nhuận lớn từ hợp đồng. Mặt khác, theo
Khoản 2, Khoản 3 Điều 405 BLDS 2015, pháp luật cũng có cơ chế để bảo vệ khách
hàng trong trường hợp hợp đồng theo mẫu có những điều khoản không rõ ràng thì
bên đưa ra hợp đồng theo mẫu phải chịu bất lợi khi giải thích điều khoản đó hoặc
trường hợp hợp đồng theo mẫu có điều khoản miễn trách nhiệm của bên đưa ra hợp
đồng theo mẫu, tăng trách nhiệm hoặc loại bỏ quyền lợi chính đáng của bên kia thì
điều khoản này không có hiệu lực, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Về tên gọi của HĐTD có thể đặt dưới nhiều tên khác nhau tùy thuộc vào tính
chất, bản chất và đối tượng của hợp đồng: Hợp đồng tín dụng, hợp đồng vay, khế ước
vay vốn. Hoặc phụ thuộc vào thời hạn vay, mục đích vay, hợp đồng có thể có thêm
các cụm từ: “ngắn hạn”, “trung hạn”, “dài hạn”, “đồng Việt Nam”, “ngoại tệ”, “tiêu
dùng”, “đầu tư”...
Thứ hai, HĐTD có đối tượng là những khoản vốn được thể hiện dưới hình thức
tiền tệ. Vốn tiền tệ trong HĐTD có thể là tiền đồng Việt Nam, vàng hoặc ngoại tệ;
tồn tại dưới dạng tiền mặt, vật hiện hữu hoặc bút tệ. Với vai trò phương tiện thanh
toán - vai trò quan trọng nhất của tiền - vốn tiền tệ có thể đáp ứng mọi nhu cầu của
bên vay một cách dễ dàng nhất, kể cả về số lượng vốn vay và mục đích vay. Nhờ đó
hoạt động cho vay đã trở thành hoạt động sinh lời chủ yếu của các TCTD và trở
thành một hình thức tín dụng khá phổ biến trong nền kinh tế thị trường. Nếu trong
kinh doanh của tổ chức tín dụng mà còn ảnh hưởng đến lợi ích người gửi tiền. Bởi lẽ,
khác với các hợp đồng cho vay thông thường, bên cho vay dùng tiền thuộc sở hữu
của mình để cho vay thì trong hợp đồng tín dụng các tổ chức tín dụng chủ yếu dùng
tiền từ nguồn vốn huy động từ các tổ chức, cá nhân. Do đó, nếu khoản cho vay
không thu hồi được vốn, tổ chức tín dụng sẽ có nguy cơ mất khả năng chi trả cho
người gửi tiền, đe dọa đến sự sống còn của tổ chức tín dụng, tác động dây chuyền
đến toàn bộ nền kinh tế. Mặt khác, việc quy định hình thức của hợp đồng tín dụng
luôn bằng văn bản cũng xuất phát từ tính rủi ro cao của hợp đồng tín dụng và tầm
quan trọng của hợp đồng tín dụng, Luật ngân hàng của hầu hết các nước trên thế giới
đều quy định hợp đồng tín dụng phải được ký kết bằng văn bản. Ở Việt Nam, quy
định này được ghi nhận trong Điều 51 Luật các tổ chức tín dụng và theo Điều 18 của
Quy chế cho vay. Đây là một quy định bắt buộc nhằm đảm bảo tính chặt chẽ, rõ ràng
trong thoả thuận của các bên về quyền và nghĩa vụ, hạn chế các rủi ro có thể xảy ra,
là cơ sở pháp lý quan trọng để giải quyết tranh chấp nếu có hoặc như đối với việc
quy định thời hạn của hợp đồng tín dụng luôn được xác định trước và ghi trong hợp
đồng tín dụng. Tuỳ theo mục đích sử dụng vốn vay mà thời hạn hợp đồng có thể
ngắn hạn (dưới một năm), trung hạn (từ 1 đến 5 năm) hoặc dài hạn (trên 5 năm). Đây
chính là khoảng thời gian mà bên vay có thể sử dụng nguồn vốn vay từ tổ chức tín
dụng. Hết khoảng thời gian này, bên đi vay phải trả khoản tiền cả gốc và lãi cho tổ
chức tín dụng. Có thể nói rằng mục đích của quy định này nhằm xác định rõ ràng
trách nhiệm của người đi vay và bảo tồn vốn cho tổ chức tín dụng. Bên cạnh đó,
thông qua hợp đồng tín dụng nhận thấy, đích cuối của HĐTD luôn nhằm mục đích
lợi nhuận (hợp đồng có lãi suất). Trong giao kết và thực hiện hợp đồng tín dụng, tổ
chức tín dụng thu lợi nhuận không chỉ nhằm mục đích bù đắp chi phí kinh doanh
như: trả lãi tiền gửi, trả lương nhân viên.. .mà còn nhằm bù đắp những rủi ro có thể
xảy ra cho tổ chức tín dụng và cũng có thể là rủi ro của người gửi tiền. Vì vậy, việc
thu hồi lợi nhuận không chỉ xuất phát từ lợi ích của tổ chức tín dụng mà còn xuất
phát từ lợi ích của người gửi tiền và lợi ích của toàn xã hội.
Theo Điều 2 Quy định phương pháp tính và hoạch toán thu, trả lãi của NHNN
Việt Nam và các TCTD ban hành kèm theo Quyết định số 652/2001/QĐ-NHNN
ngày 17/5/2001 của Thống đốc NHNN: Lãi suất được hiểu là khoản tiền bên vay,
huy động vốn hoăc bên thuê trả cho bên cho vay, đầu tư chứng khoán, gửi tiền hoặc
bên cho thuê về việc sử dụng vốn vay, vốn huy động hoặc tài sản cho thuê. Lãi được
tính toán căn cứ vào số vốn, thời gian sử dụng vốn và lãi suất.
Bênh cạnh lãi đơn còn có cách tính lãi kép (là số tiền lãi không chỉ tính trên số
tiền gốc mà còn tính trên số tiền lãi do số tiền gốc sinh ra) nhưng cách tính này
không được pháp luật cho phép áp dụng trong hoạt động ngân hàng.
1.2.2. Phân loại lãi suất
Lãi suất được chia thành nhiều loại dựa trên những tiêu chí khác nhau:
- Căn cứ vào giá trị thực của lãi suất: lãi suất danh nghĩa, lãi suất thực.
- Căn cứ vào phương thức đo lường: lãi suất đơn, lãi suất kép, lãi suất hiệu quả
và lãi suất hoàn vốn.
- Căn cứ vào tính chất khoản vay
Bao gồm những loại lãi suất cơ bản nhất được ngân hàng áp dụng cho khách
hàng khi muốn vay tín dụng.
Lãi suất cơ bản: được áp dụng chung, làm cơ sở để ấn định các mức lãi suất
phát sinh cho các dịch vụ tín dụng khác của ngân hàng.
Lãi suất tiền gửi tiết kiệm ngân hàng: lãi suất sinh ra mà ngân hàng phải trả cho
khách hàng sử dụng dịch vụ tiền gửi tiết kiệm vào ngân hàng.
Lãi suất cho vay ngân hàng (lãi suất tín dụng): người vay tiền phải trả cho ngân
hàng khi vay. Được chia thành nhiều mức lãi dựa theo hình thức vay là vay kinh
doanh, trả góp, vay qua thẻ tín dụng, vay ngắn hạn...
Lãi suất chiết khấu ngân hàng: áp dụng khi một cá nhân xin vay dưới dạng
chiết khấu thương phiếu hoặc các giấy tờ cá giá trị. Được tính với tỷ lệ phần trăm
theo mệnh giá thương phiếu, khấu trừ ngay từ ban đầu khi nhận tiền vay.
Lãi suất quốc tế: áp dụng với các hợp đồng tín dụng quốc tế.
- Dưới góc độ luật học, lãi suất ngân hàng được tập trung nghiên cứu ở các nội
dung sau:
+ Căn cứ vào loại hình tín dụng, lãi suất bao gồm lãi suất huy động và lãi suất
cho vay.
+ Căn cứ vào thời hạn áp dụng, lãi suất bao gồm lãi suất trong hạn và lãi suất
quá hạn.
+ Căn cứ vào độ ổn định của lãi suất, lãi suất bao gồm lãi suất cố định và lãi
suất thả nổi.
1.2.2.1. Căn cứ vào loại hình tín dụng
Lãi suất huy động là lãi suất mà các TCTD đưa ra khi huy động tiền gửi và quy
định tỉ lệ phải trả cho các hình thức nhận tiền gửi của khách hàng.
Lãi suất cho vay là lãi suất mà TCTD đưa ra để thu từ người vay tiền. “Lãi suất
cho vay phải bao gồm tất cả các chi phí huy động vốn, đủ bù đắp các chi phí quản lí
và thực hiện khoản cho vay, trang trải được các loại rủi ro, lãi suất cho vay phải chứa
đựng phần lợi nhuận hợp lí” . Mặt khác, lãi suất cho vay còn chịu sự chi phối của kì
hạn vay, kì hạn càng dài lãi suất càng cao . Như vậy, lãi suất cho vay là lãi suất tính
trên số vốn mà bên vay phải trả kèm theo gốc tiền vay.
Lãi suất cho vay ở Việt Nam chủ yếu có ba loại là lãi suất cho vay của NHNN
đối với các TCTD, lãi suất của các TCTD với nhau và lãi suất của TCTD với khách
hàng. Trong phạm vi nghiên cứu của khóa luận này, khi nói đến lãi suất cho vay
trong HĐTD nghĩa là nói đến lãi suất của TCTD với khách hàng đi vay.
Hoạt động cho vay của TCTD được thể hiện dưới nhiều hình thức như cho vay
ngắn hạn, trung hạn và dài hạn căn cứ vào thời hạn tín dụng tương ứng với từng loại
lãi suất cụ thể. Cho vay ngắn hạn (ứng với lãi suất ngắn hạn) là cho vay với thời hạn
dưới 12 tháng thường để bù bắp sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và
các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân. Cho vay trung hạn (ứng với lãi suất trung
hạn) là cho vay với thời hạn từ 12 tháng đến 60 tháng (một số nước là 84 tháng),
để tính giá trị lãi mà khách hàng vay phải trả cho TCTD tính trên số tiền đã vay
tương ứng với thời hạn mà các bên đã thoả thuận.
Lãi suất quá hạn chỉ phát sinh khi tồn tại khoản nợ quá hạn. Do đó, trước khi
tìm hiểu về lãi suất quá hạn, có hai vấn đề cần quan tâm là nợ quá hạn và thời điểm
chuyển khoản nợ từ trong hạn sang quá hạn.
Theo khoản 5 Điều 2 Thông tư số 22/2014/VBHN-NHNN ngày 04/06/2014
của Thống đốc NHNN về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lí rủi ro
trong hoạt động ngân hàng của TCTD, nợ quá hạn được xác định là khoản nợ mà
một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi đã quá hạn. Mặt khác, tại Khoản 2 Điều 13
Quy chế cho vay của TCTD đối với khách hàng thì nợ quá hạn là những khoản nợ
mà khi đến thời hạn trả nợ gốc hoặc lãi khách hàng không trả nợ đúng hạn và không
được điều chỉnh kì hạn nợ gốc hoặc lãi, không được gia hạn nợ gốc hoặc lãi.
Trước đây, tại Khoản 2 Điều 13 của Quy chế cho vay ban hành kèm theo Quyết
định số 1627/2001/QĐ-NHNN quy định “khi đến thời hạn trả nợ gốc hoặc lãi (cuối
ngày đến hạn trả nợ) mà khách hàng không đủ hoặc trả nợ không đúng hạn thì
NHTM chuyển toàn bộ số dư nợ của khoản vay sang nợ quá hạn” . Tuy nhiên, quy
định này đã bị bãi bỏ bởi Điều 4 Quyết định số 127/2005/QĐ-NHNN ngày
03/02/2005 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế cho vay ban hành kèm
theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN. Theo đó, thời điểm chuyển nợ quá hạn
được xác định như sau: “Đối với khoản nợ vay không trả đúng hạn, được TCTD
đánh giá là không có khả năng trả nợ đúng hạn và không chấp thuận cho cơ cấu lại
thời hạn trả nợ thì số dư nợ gốc của HĐTD đó là nợ quá hạn và TCTD thực hiện các
biện pháp để thu hồi nợ, việc phạt chậm trả đối với nợ quá hạn và nợ lãi vốn vay do
hai bên thoả thuận trên cơ sở quy định của pháp luật.”
Với quy định như vậy về nợ quá hạn. Theo quy định tại khoản 2 Điều 468
BLDS năm 2015, trường hợp không rõ hoặc có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất
được xác định bằng 50% mức lãi suất theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật
này. Theo quy định này mức lãi suất trong trường hợp không rõ hoặc có tranh chấp
quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này trên số tiền chậm trả tương ứng với
thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc luật có quy định khác. 5.
Trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì
bên vay phải trả lãi như sau:
a) Lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời
hạn vay mà đến hạn chưa trả; trường hợp chậm trả thì còn phải trả lãi theo mức lãi
suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này;
b) Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng
tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thoả thuận khác.”
Nhìn chung, lãi suất quá hạn thường cao hơn lãi suất trong hạn do được áp
dụng đối với người vay vi phạm nghĩa vụ về thời hạn trả nợ. Sau thời hạn mà bên
vay không trả hoặc trả không hết số tiền vay thì bên cho vay có quyền tính lãi dựa
trên lãi suất quá hạn theo như thoả thuận hoặc theo quy định của pháp luật. Thêm vào
đó, việc trả lãi trước hoặc sau thời hạn vẫn có thể coi là đúng hạn và phải tính bằng
lãi suất trong hạn. Đó là các trường hợp do sự kiện bất ngờ hay sự kiện bất khả
kháng mà bên vay không thể thực hiện nghĩa vụ trả nợ của mình đúng hạn hoặc được
bên cho vay chấp nhận không phải trả lãi quá hạn khi quá thời hạn vay.
Như vậy có thể thấy rằng hiện nay cùng tồn tại hai quy định khác nhau về lãi
suất đối với khoản nợ quá hạn, và việc áp dụng quy định nào còn phải được xem xét
về giá trị pháp lí của văn bản. Thực tế các bên tham gia quan hệ tín dụng và cơ quan
có thẩm quyền áp dụng văn bản nào sẽ được phân tích cụ thể tại phần 2.1.3.
1.2.2.3. Căn cứ vào sự ổn định của lãi suất
Khi thỏa thuận lãi suất trong hạn, các bên có thể thỏa thuận lãi suất cố định
hoặc lãi suất thả nổi.
Lãi suất cố định là lãi suất được ấn định một mức cụ thể trên HĐTD, không
chịu tác động của những biến động lãi suất thị trường. Lãi suất này không thay đổi
trong suốt thời gian vay vốn tại TCTD, thông thường áp dụng trong cho vay ngắn
hạn.
cơ sở để giải quyết mọi tranh chấp HĐTD, ngay cả khi nội dung tranh chấp không
phải về lãi suất (vì lãi suất là căn cứ để tính khoản nợ lãi mà bên vay phải trả cho
TCTD). Trên thực tế còn tồn tại nhiều vụ tranh chấp kéo dài và rắc rối do các bên
không thỏa thuận được nợ lãi và cơ quan tài phán cũng đưa ra những phán quyết có
nhiều ý kiến tranh luận. Cơ sở lý luận về lãi suất và tiền đề căn bản để triển khai các
hoạt động kinh doanh mà từ đó mang lại lợi nhuận cho chính Ngân hàng.