VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN QUỐC HIỀN
HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG CHO CÁ NHÂN VAY
PHỤC VỤ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH THEO
PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN
NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN
VIỆT NAM-CHI NHÁNH QUẢNG NAM
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số
: 838.01.07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. VÕ ĐÌNH TOÀN
HÀ NỘI, năm 2018
LỜI CẢM ƠN
Được sự tận tình dạy dỗ của các thầy, cô và gần 2 năm học tập, nghiên
cứu của bản thân tôi tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa
học Xã hội Việt Nam. Đặc biệt là sự hướng dẫn, chỉ bảo của TS Võ Đình
Toàn đã giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp này.
Tôi xin chân thành cảm ơn sự quan tâm tạo điều kiện của lãnh đạo
BIDV Quảng Nam và các đồng nghiệp đã động viên, khích lệ, tạo điều kiện
CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG TÍN
DỤNG VÀ PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG CHO CÁ
NHÂN VAY PHỤC VỤ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH............................ 8
1.1. Khái niệm, đặc điểm của hợp đồng tín dụng ............................................ 8
1.2. Khái niệm, đặc diểm và cấu trúc pháp luật điều chỉnh quan hệ HĐTD
cho cá nhân vay phục vụ hoạt động kinh doanh ............................................ 17
CHƯƠNG 2. THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG
CHO CÁ NHÂN VAY PHỤC VỤ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TẠI
BIDV-CHI NHÁNH QUẢNG NAM-MỘT SỐ BẤT CẬP VÀ GIẢI
PHÁP ............................................................................................................. 29
2.1. Bối cảnh thực hiện pháp luật về Hợp đồng tín dụng cho cá nhân vay
phục vụ hoạt động kinh doanh tại BIDV- Chi nhánh Quảng Nam ................ 29
2.2. Thực hiện pháp luật về Hợp đồng tín dụng cho cá nhân vay phục vụ
hoạt động kinh doanh ..................................................................................... 35
2.3. Những bất cập trong thực tiễn áp dụng và giải pháp hoàn thiện pháp
luật về hợp đồng tín dụng cho cá nhân vay phục vụ hoạt động kinh doanh .. 65
KẾT LUẬN ................................................................................................... 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLDS
: Bộ luật dân sự
BIDV
: Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam
PGD
: Phòng Giao dịch
QLKH
: Quản lý khách hàng
TCTD
: Tổ chức tín dụng
TMCP
: Thương mại cổ phần
TSBĐ
: Tài sản bảo đảm
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Dư nợ bán lẻ địa bàn tỉnh Quảng Nam ........................................... 33
Bảng 2.2. Bảng số liệu tình hình cho vay bán lẻ qua 3 năm 2015-2017 ........ 44
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1. Dư nợ bán lẻ trên địa bàn tỉnh Quảng Nam................................ 34
Biểu đồ 2.2. Dư nợ cho vay bán lẻ .................................................................. 45
Biểu đồ 2.3. Cho vay sản xuất kinh doanh cá nhân, hộ gia đình .................... 45
Biểu đồ 2.4. Chất lượng tín dụng tại chi nhánh .............................................. 46
địa chỉ cung cấp nguồn vốn chủ yếu để các cá nhân tìm đến. NHTM là cầu nối
1
giữa các tổ chức và cá nhân, hút vốn từ nơi nhàn rỗi và bơm vào nơi khan
thiếu. Hình thức pháp lý của quan hệ tín dụng ngân hàng là hợp đồng tín dụng
ngân hàng.
“Hợp đồng tín dụng ngân hàng là một chế định phức tạp trong khoa học
pháp lý, nó vừa hội đủ những điểm chung nhất của một hợp đồng nói chung
vừa mang những đặc thù riêng biệt trong lĩnh vực hoạt động kinh doanh tiền
tệ; vừa có thể là một hợp đồng kinh doanh thương mại vừa có thể là hợp đồng
dân sự thuần túy và chịu sự điều chỉnh các quy định pháp luật rải rác trong
các lĩnh vực kinh tế, dân sự, tài chính, ngân hàng. Trong khoa học pháp lý
Việt Nam chưa tồn tại một hệ thống lý luận một cách hoàn hảo về hợp đồng
tín dụng ngân hàng” [41, tr.9].
Trong khoa học pháp lý, hợp đồng tín dụng ngân hàng không được các
nhà nghiên cứu quan tâm đúng mức. Trong các tài liệu kinh tế, tài chính... tín
dụng ngân hàng được nghiên cứu dưới khía cạnh kinh tế, bao gồm: hiệu quả
các nghiệp vụ cho vay, các phương thức cho vay và các biện pháp bảo đảm
tiền vay nhằm hạn chế rủi ro tín dụng....Trong các tài liệu khoa học pháp lý về
chế định hợp đồng, HĐTDNH hầu như chưa được quan tâm nghiên cứu đúng
mức.
Đến thời điểm hiện nay, trong hệ thống pháp luật Việt Nam có nhiều văn
bản quy phạm thuộc quy định về Hợp đồng tín dụng tại các TCTD như: Chế
định Hợp đồng trong BLDS 2015, các quy định về xét duyệt cấp tín dụng, kiểm
tra sử dụng tiền vay, Quy chế cho vay của TCTD với khách hàng… tại Luật các
TCTD năm 2010, Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của NHNN
quy định về hoạt động cho vay của các TCTD… Tuy nhiên trong các quy định
này có một số nội dung chưa phù hợp hoặc việc áp dụng trên thực tế còn gặp
vướng mắc và không thống nhất, gây lúng túng cho các bên tham gia giao dịch
Và sau năm 2010 thì cũng đã có thêm một số công trình nghiên cứu như:
- Trần Thu Lan (2011), Luận văn "Hợp đồng cho vay tại ngân hàng
3
thương mại - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn"
-Bài viết “Hợp đồng tín dụng - Quy định và thực tiễn thực hiện tại các
NHTM” Theo luật sư: Trương Thanh Đức ngày 5 Tháng 10 năm 2011.
-Bài viết “Mấy suy nghĩ về HĐTD Ngân hàng” ngày 12 tháng 10 năm
2011 của T.S. Nguyễn Văn Vân
- Phan Thị Thu Hà (2013), Điểm chung và sự khác biệt của một số nước
và Việt Nam về khái niệm hợp đồng, Bài viết nghiên cứu một số vấn đề có tính lý luận
dưới góc độ so sánh luật về hợp đồng của Việt Nam và một số quốc gia.
- Đỗ Linh, Tài sản đảm bảo vay vốn: Nan giải vướng mắc xử lý nợ,
Công trình nghiên cứu đề cập đến những khó khăn trong quá trình xử
lý tài sản đảm bảo để thu hồi nợ.
- Luật Dương Gia (17/08/2015) Về việc giao kết, thực hiện hợp đồng tín
dụng, một số lỗi thường gặp. Công trình nghiên cứu chỉ ra một số vấn đề phát
sinh từ thực tiễn thi hành pháp luật về HĐTD và kinh nghiệm thực tế
- Hà Anh (2016), Áp dụng hợp đồng tín dụng mẫu có khả thi, Báo dân trí
ngày 14/12/2016. Công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề cần giải quyết
trong áp dụng HĐTD mẫu.
Các bài viết, công trình này mới chỉ nêu chung chung về các khái niệm và
giải thích khái quát các nội dung liên quan đến hợp đồng tín dụng, một số thì
nghiên cứu về các chế độ pháp lý và thực tiễn về việc ký kết, thực hiện HĐTD tại
các TCTD. Tất cả đều nhìn nhận, giải quyết vấn đề này ở một góc độ khác nhau
và cho đến nay vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu chuyên sâu và riêng
biệt về vấn đề bản chất pháp lý của HĐTD nói chung và đặc biệt là HĐTD cho
cá nhân vay kinh doanh nói riêng. Do vậy, việc nghiên cứu đề tài “Hợp đồng tín
Phạm vi nghiên cứu không bao gồm toàn bộ các quan hệ hợp đồng tín
5
dụng, các loại chủ thể là bên vay và bên cho vay mà chỉ là quan hệ HĐTD
cho cá nhân vay phục vụ hoạt động kinh doanh theo pháp luật Việt Nam và
bên cho vay là BIDV Chi nhánh Quảng Nam.
- Phạm vi không gian: địa bàn tỉnh Quảng Nam
- Phạm vi thời gian: nghiên cứu thực tiễn từ năm 2015 đến năm 2017
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Khi tiếp cận vấn đề nghiên cứu, luận văn dựa trên phương pháp luận
biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước
và pháp luật, các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam trong qua trình đổi
mới, xây dựng đất nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa và vấn đề cải cách tư
pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu của luận văn là đi từ lý luận đến thực tiễn, dùng
thực tiễn kiểm chứng lý luận. Các phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên
ngành như phương pháp phân tích, so sánh, chứng minh, tổng hợp và phương
pháp thống kê cũng được sử dụng để hoàn thành luận văn.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn đã nêu ra một số giải pháp, kiến nghị nhằm đóng góp một
phần nhỏ vào lợi ích chung của Ngân hàng, đảm bảo hạn chế tối đa các rủi ro
trong hoạt động của Ngân hàng, đặc biệt là hạn chế các rủi ro tranh chấp về mặt
pháp lý của Hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng và khách hàng cá nhân vay vốn
phục vụ hoạt động kinh doanh.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
mặt, vật tư và hàng hóa. Điều này nghĩa là người vay phải trả nợ đầy đủ và
đúng hạn. Hay nói cách khác để quan hệ tín dụng được thiết lập và tồn tại thì
đòi hỏi phải tạo lập được niềm tin, đây là cơ sở rất quan trọng để quan hệ tín
dụng được hình thành. Theo khoản 16 Điều 4 Luật các TCTD năm 2010,
Điều 2 Thông tư 39/2016/TT-NHNN thì cho vay là hình thức cấp tín dụng,
theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền
để sử dụng vào mục đích xác định trong một một khoản thời gian nhất định
theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. TCTD cung cấp vốn
trên cơ sở niềm tin khách hàng sẽ hoàn trả được nợ vay. Do đó, người cho vay
đòi hỏi người đi vay phải có sự cam kết hoàn trả cả vốn và lãi. Trên thực tế sự
cam kết này thực chất là HĐTD. Đây là cơ sở pháp lý xác định trách nhiệm
của hai chủ thể trong quan hệ tín dụng.
BLDS các nước quy định về hợp đồng theo nhiều cách thức khác nhau.
Có những nước quy định cụ thể về chế định hợp đồng dân sự như Pháp;
Trung Quốc; Canada...
Còn đối với Thái Lan, Nhật Bản lại đưa ra chế định hành vi pháp lý bao
trùm lên chế định hợp đồng và chế định thừa kế theo di chúc.
Theo những quy định mở đầu về hợp đồng và nghĩa vụ hợp đồng trong
8
BLDS Cộng Hòa Pháp thì: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó
một hoặc nhiều người cam kết với một hoặc nhiều người khác về việc chuyển
giao một vật, làm hoặc không làm một công việc nào đó”.
Theo quy định về các nghĩa vụ dân sự BLDS Qué bec (Canada) thì:
“Hợp đồng là sự thỏa thuận ý chí về việc một hoặc một số người nhận thực
hiện nghĩa vụ đối với một hoặc một số người khác”.
Theo Bộ luật Thương mại thống nhất Hoa Kỳ quy định: “Hợp đồng là
tổng hợp các nghĩa vụ pháp lý phát sinh từ sự “thỏa thuận” của các bên…”.
Còn Luật Hợp đồng Trung Quốc 1999 quy định: “Hợp đồng theo quy
nhiệm”.
Như vậy, HĐTD là văn bản xác lập một quan hệ xã hội giữa TCTD (gọi
là bên cho vay) và khách hàng (gọi là bên vay) là tổ chức, cá nhân.
Về phương diện hình thức: sự thỏa thuận giữa TCTD và khách hàng phải
được thể hiện bằng văn bản. Điều này được ghi nhận tại Điều 23 Thông tư
39/2016/TT-NHNN thì thỏa thuận cho vay phải được lập thành văn bản, trong
đó tối thiểu có các nội dung sau: Tên, địa chỉ, mã số doanh nghiệp của tổ chức
tín dụng cho vay; tên, địa chỉ, số chứng minh nhân dân hoặc thẻ căn cước
hoặc hộ chiếu hoặc mã số doanh nghiệp của khách hàng; số tiền cho vay; hạn
mức cho vay đối với trường hợp cho vay theo hạn mức; hạn mức cho vay dự
phòng đối với trường hợp cho vay theo hạn mức cho vay dự phòng; hạn mức
thấu chi đối với trường hợp cho vay theo hạn mức thấu chi trên tài khoản
thanh toán; mục đích sử dụng vốn vay; đồng tiền cho vay, đồng tiền trả nợ;
phương thức cho vay; thời hạn cho vay; thời hạn duy trì hạn mức đối với
trường hợp cho vay theo hạn mức, thời hạn hiệu lực của hạn mức cho vay dự
phòng đối với trường hợp cho vay theo hạn mức cho vay dự phòng, hoặc thời
hạn duy trì hạn mức thấu chi đối với trường hợp cho vay theo hạn mức thấu
chi trên tài khoản thanh toán; lãi suất cho vay theo thỏa thuận và mức lãi suất
quy đổi theo tỷ lệ %/năm tính theo số dư nợ cho vay thực tế và thời gian duy
10
trì số dư nợ cho vay thực tế đó theo quy định; nguyên tắc và các yếu tố xác
định lãi suất, thời điểm xác định lãi suất cho vay đối với trường hợp áp dụng
lãi suất cho vay có điều chỉnh; lãi suất áp dụng đối với dư nợ gốc bị quá hạn;
lãi suất áp dụng đối với lãi chậm trả; loại phí liên quan đến khoản vay và mức
phí áp dụng. Trường hợp sử dụng hợp đồng theo mẫu hoặc điều kiện giao
dịch chung trong giao kết thỏa thuận cho vay, tổ chức tín dụng phải thực hiện:
Niêm yết công khai hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung về cho vay
xem là đáp ứng yêu cầu này nếu thông tin chứa trong thông điệp dữ liệu đó có
thể truy cập và sử dụng được để tham chiếu khi cần thiết”... Về ý kiến văn bản
viết tay thì có ý kiến cho rằng HĐTD nên bằng văn bản viết, có chữ ký viết
tay và có con dấu (nếu có) của các bên tham gia HĐTD thì mới hợp pháp và
có giá trị pháp lý. Họ đưa ra ý kiến này là phòng ngừa các rủi ro pháp lý cho
các bên HĐTD bị sửa đổi bất hợp pháp mà không phát hiện được. Còn ý kiến
HĐTD nên chấp nhận cả văn bản điện tử có chữ ký điện tử của các bên tham
gia HĐTD thì họ cho rằng, hiện nay rất nhiều hợp đồng dân sự, kinh doanh
thương mại đã áp dụng hình thức văn bản diện tử. Tuy nhiên, dù là văn bản
viết tay hay văn bản điện tử thì HĐTD vẫn phải lập theo mẫu nhằm hạn chế
sai sót về kỹ thuật và việc ghi nhận các điều khoản chủ yếu của hợp đồng.
1.1.2. Đặc điểm Hợp đồng tín dụng
Với khái niệm đã trình bày ở trên, có thể thấy ngoài những dấu hiệu
chung của mọi loại hợp đồng, hợp đồng tín dụng còn có một số đặc điểm đặc
trưng sau đây để phân biệt với các chủng loại hợp đồng khác trong giao lưu
dân sự và thương mại:
1.1.2.1. Đặc điểm về chủ thể
Tham gia quan hệ này gồm hai chủ thể: là bên cho vay và bên vay, một
bên tham gia hợp đồng bao giờ cũng là tổ chức tín dụng có đủ điều kiện luật
định, với tư cách là bên cho vay. Còn chủ thể kia (bên vay) có thể là tổ chức,
cá nhân thỏa mãn những điều kiện vay vốn do pháp luật quy định [38, tr.01].
12
Bên cho vay: Tổ chức tín dụng cho vay là tổ chức tín dụng được thành
lập và hoạt động theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng, bao gồm:
- Ngân hàng thương mại;
- Ngân hàng hợp tác xã;
- Tổ chức tín dụng phi ngân hàng;
dụng không chỉ ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của tổ chức tín dụng mà
còn ảnh hưởng đến lợi ích người gửi tiền. Bởi lẽ, khác với các hợp đồng cho
vay thông thường, bên cho vay dùng tiền thuộc sở hữu của mình để cho vay
thì trong hợp đồng tín dụng các tổ chức tín dụng chủ yếu dùng tiền từ nguồn
vốn huy động từ các tổ chức, cá nhân. Do đó, nếu khoản cho vay không thu
hồi được vốn, tổ chức tín dụng sẽ có nguy cơ mất khả năng chi trả cho người
gửi tiền, đe dọa đến sự sống còn của tổ chức tín dụng, tác động dây chuyền
đến toàn bộ nền kinh tế.
Ngoài ra HĐTD còn có một số đặc điểm đặc trưng sau:
Về cơ chế thực hiện quyền và nghĩa vụ: trong hợp đồng tín dụng, nghĩa
vụ chuyển giao tiền vay (nghĩa vụ giải ngân) của bên cho vay bao giờ cũng
phải được thực hiện trước, làm cơ sở, tiền đề cho việc thực hiện quyền và
nghĩa vụ của bên vay. Do đo, chỉ khi nào bên cho vay chứng minh được rằng
họ đã chuyển giao tiền vay theo đúng hợp đồng tín dụng cho bên vay thì khi
đó họ mới có quyền yêu cầu bên vay phải thực hiện các nghĩa vụ đối với mình
(bao gồm các nghĩa vụ chính như sử dụng tiền vay đúng mục đích; nghĩa vụ
hoàn trả tiền vay đúng hạn cả gốc và lãi…)
Đối với bên cho vay hợp đồng tín dụng luôn nhằm mục đích lợi nhuận
(hợp đồng có lãi suất). Trong giao kết và thực hiện hợp đồng tín dụng, tổ chức
tín dụng thu lợi nhuận không chỉ nhằm mục đích bù đắp chi phí kinh doanh
như: trả lãi tiền gửi, trả lương nhân viên…mà còn nhằm bù đắp những rủi ro
có thể xảy ra cho tổ chức tín dụng và cũng có thể là rủi ro của người gửi tiền.
Vì vậy, việc thu hồi lợi nhuận không chỉ xuất phát từ lợi ích của tổ chức tín
14
dụng mà còn xuất phát từ lợi ích của người gửi tiền và lợi ích của toàn xã hội.
Như vậy, hợp đồng tín dụng là hình thức pháp lý của quan hệ cho vay
giữa tổ chức tín dụng và khách hàng vay. Xuất phát từ tính chất và tầm quan
Hợp đồng cho vay được lập dưới hình thức hợp đồng cho vay cụ thể
hoặc hợp đồng hạn mức.
Trường hợp sử dụng hợp đồng theo mẫu hoặc điều kiện giao dịch chung
trong giao kết thỏa thuận cho vay, tổ chức tín dụng phải thực hiện:
+ Niêm yết công khai hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung về
cho vay tại trụ sở và đăng tải trên trang thông tin điện tử của tổ chức tín dụng;
+ Cung cấp đầy đủ thông tin về hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch
chung cho khách hàng biết trước khi ký kết
1.1.3. Sự khác biệt của HĐTD ngân hàng về thủ tục, trình tự ký kết
hợp đồng
Quá trình thiết lập quan hệ HĐTD ngân hàng diễn ra qua các bước sau:
Khi có nhu cầu vay vốn, khách hàng phải gửi cho tổ chức tín dụng các
tài liệu thông tin cá nhân, các tài liệu chứng minh đủ điều kiện vay vốn theo
quy định và các tài liệu khác do tổ chức tín dụng hướng dẫn. Trên cơ sở hồ
sơ, HĐTD sẽ được giao kết qua các bước sau:
Bước 1: Thẩm định
Tổ chức tín dụng thẩm định khả năng đáp ứng các điều kiện vay vốn của
khách hàng theo quy định để xem xét quyết định cho vay. Trong quá trình
thẩm định, tổ chức tín dụng được sử dụng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ,
kết hợp với các thông tin tại Trung tâm Thông tin tín dụng quốc gia Việt Nam
(CIC), các kênh thông tin khác.
Tổ chức tín dụng phải tổ chức xét duyệt cho vay theo nguyên tắc phân
định trách nhiệm giữa khâu thẩm định và quyết định cho vay.
Trường hợp quyết định không cho vay, tổ chức tín dụng thông báo cho
khách hàng lý do khi khách hàng có yêu cầu.
16
Tổ chức tín dụng có trách nhiệm cung cấp cho khách hàng đầy đủ các
động kinh doanh. Vì vậy, có thể xác định loại hợp đồng này như sau:
”Hợp đồng tín dụng cá nhân vay phục vụ hoạt động kinh doanh là sự
thỏa thuận bằng văn bản giữa tổ chức tín dụng (bên cho vay) với khách hàng
là cá nhân (bên vay) nhằm xác lập quyền và nghĩa vụ nhất định giữa các bên
theo quy định của pháp luật, theo đó, bên cho vay chuyển giao một khoản tiền
cho bên vay sử dụng vào mục đích kinh doanh trong một thời hạn nhất định
theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”
Về chủ thể, một bên tham gia hợp đồng bao giờ cũng là tổ chức tín dụng
có đủ điều kiện luật định, với tư cách là bên cho vay. Còn chủ thể vay (bên
vay) là cá nhân có hoạt động kinh doanh thỏa mãn những điều kiện vay vốn
do pháp luật quy định.
Về thời hạn cho vay, TCTD và khách hàng căn cứ vào chu kỳ hoạt động
kinh doanh, thời hạn thu hồi vốn, khả năng trả nợ của khách hàng, nguồn vốn
cho vay và thời hạn hoạt động còn lại của tổ chức tín dụng để thỏa thuận về
thời hạn cho vay.
Về hồ sơ khoản vay, TCTD lập hồ sơ cho vay, bao gồm:
- Hồ sơ đề nghị vay vốn;
- Thỏa thuận cho vay;
- Báo cáo thực trạng tài chính do khách hàng gửi tổ chức tín dụng trong
thời gian vay vốn;
- Hồ sơ liên quan đến bảo đảm tiền vay;
- Quyết định cho vay có chữ ký của người có thẩm quyền; trường hợp
quyết định tập thể, phải có biên bản ghi rõ quyết định được thông qua;
- Những tài liệu phát sinh trong quá trình sử dụng khoản vay liên quan
đến thỏa thuận cho vay do tổ chức tín dụng hướng dẫn.
Tổ chức tín dụng phải lưu giữ hồ sơ cho vay; thời hạn lưu giữ hồ sơ cho
vay thực hiện theo quy định của pháp luật [38, tr.14].
18