ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NÔI
KHOA LUẬT
PHÙNG THỈ LIÊN H O A
THỦ TUC PHUC HÓI HOAT ĐÔNG KINH DOANH
•
i
■
•
THEO PHÁP LUÂT VIÊT NAM
_
雛
Chuyên ngành : Luật Kinh tế
Mã s ố
: 60.38.50
ị
LUÂN VĂN THAC sĩ LUÂT HOC
•
■
■
0 tỉ
ỏ 糾 •— !
o •: , \ :
~
二'
^ 丨
< 矢:
1一
Òg
HÀ NỘI - NĂM 2006
L Ờ I C AM ĐOAN
Tôi xin cam doan đây là công trình của riêng tỏi, những
số liệu được trích dẫn trung thực, chính xác. Nếu sai tôi xin
hoàn toàn chiu trách nhiêm.
Phùng Thị Liên Hoa
MỤC LỤC
Trang
5HẨN MỎ ĐẨU
17
Vị trí của thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanhtrong quá
trình giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản.
1.3.
Chế định phục hồi hoạt động kinh doanh trong phápluật về
22
phá sản của Việt Nam.
1.4.
Pháp luật về phục hồi hoạt động kinh doanh ở một số nước
24
trên thế giới.
1.4.1. Về hình thức
24
1.4.2. Về nội dung
25
CHƯONG 2 - THỰC TRẠNG THI HÀNH PHỤCH ồ l HOẠT Đ Ộ N G
40
2.2.3. Xày dựng phương án phục hỏi
58
2.2.4. Thông qua phương án phục hồi
62
2.3.
65
Thực hiện phương án phục hồi và hậu quả pháp lý của việc
áp dụng thủ tục phục hổi hoạt động kính doanh
CHƯƠNG 3 - MỘT SỐ KIẾN NGHỈ HOÀN THIỆN KHUNG PHÁP
68
LUẬT ĐIỂU CHỈNH THỦ TỤC PHỤC HÓI HOẠT Đ Ộ N G KINH
DOANH
3.1.
Sự cần thiết phái hoàn thiện pháp luật về phục hồi hoạt động
68
tại, hoạt động của con nợ, thủ tục phục hồi, trái ngược hoàn toàn với thủ
tục thanh lý, là thủ lục nhằm đem lại cho con nợ đang lâm vào lình
irạng phá sản những điều kiện và cơ hội tiếp tục kinh doanh. Điều này
không chí cứu vãn doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sán thoát khỏi
lình trạng bị thanh lý tài sản, phục hổi lại được hoạt động sản xuấỉ kinh
doanh của mình mà còn có thể đảm bảo quyền lợi cho chính ban thân
các chủ nợ cũng như duy trì trật tự, ổn định xã hội, duy trì công ăn việc
làm cho người lao động trong doanh nghiệp mắc nợ. V ì thế, pháp luật
của các quốc gia trôn thế giới có xu hướng đề cao Ihủ tục phục hổi.
Trong bối cảnh gia nhập, hội nhập quốc tế và khu vực trên mọi
lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội nói chung và pháp luật nói riêng,
pháp luật về phá sản của Việt Nam cũng đi theo xu hướng chung của
các quốc gia khác đề cao vai trò của thủ tục phục hồi. Cho nên, dù ra
đời khá muộn song ngay từ khi ban hành lần đầu vào năm 1993, Luật
phá sản doanh nghiệp cũng đã có những quy định khá chi tiết, thổ hiện
đầy đủ nội dung của thủ tục phục hồi nhằm cứu vãn doanh nghiệp gặp
khó khăn về tài chính trong hoạt dộng kinh doanh lâm vào tình trạng
phá sán.
Song thực tế thi hành Luật phá san trong mười ba năm qua đã chí
cho chúng ta thấy nhiều điểm bất cập. Không phai ngẫu nhiên mà Báo
-2 -
cáo tổng kết ngành Toà án năm 2001 đã nhận định rằng "Các doanh
nglìiệp lâm vào tình trạng plìá sản trên thực tế là không ít nhưniỊ yêu
cần ỉuyền bổ phá sàn ngày càng ít đi. Tình hình này xuất phát từ /ìhiềii
nguyên nhân nhưni> trong dó một nguyên nhân quan trọnịỉ là níịiỉyên
lìliíiiì \'ớ mặt pliáp lý. Thực tế thi lìànlì trotìíỊ nhữníỊ năm qua đã cho thấy
íhởi iỊÌan qua. lìlĩữn^ khó khăn, vướniỊ mắc và một sô' kiên nghị, (ỉờ xiiâít
của TS. Nguyễn Văn Dũng, Toà án nhân dân tối cao...
Tuy nhiên, các công trình và bài viết này chỉ đề cập đến những
nội dung cơ bản của thủ tục phá sản nói chung mà chưa nghiên cứu mộl
các chuyên sâu, toàn diện và hệ thống về các khía cạnh pháp lý cua thủ
tục phục hổi doanh nghiệp, hợp tác xã mắc nợ với tư cách là một thú tục
độc lập cũng như đánh giá toàn diện thực trạng của các quy định vé thủ
tục phục hồi hoạt động kinh doanh dể từ đó đưa ra những kiến nghị
nhằm xây dựng và hoàn thiện pháp luật về thủ tục phục hổi.
3 - Mue đích và nhiêm vu nghiên cứu đề tài
Mục đích chính của luận văn là nghiên cứu một cách hệ thống,
loàn diện các vấn đề lý luận về thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh,
thực trạng quy định và áp dụng pháp luật về thủ tục phục hồi hoạt động
kinh doanh để trên cư sở đó đưa ra một số giải pháp góp phần xây dựng
và hoàn thiện pháp luật thủ tục phục hồi doanh nghiệp, hợp tác xã mắc
nợ. Với mục đích trên, đề tài đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về thủ tục phục hồi
hoạt động kinh doanh như: đối tượng áp dụng thủ ttục phục hồi hoạt
dộng kinh doanh; bản chất pháp lý của thủ tục phục hồi; mục đích của
việc quy định Ihú tục phục hồi; những nội dung quan Irọng của thủ tục
phục hồi với tư cách là một chế định trong Luật Phá sản năm 2004.
- Nghiên cứu và đánh giá một cách toàn điện thực trạng các quy
định và thực tiễn áp dụng pháp luật về thủ tục phục hồi hoạt động kinh
doanh. Thông qua đó nêu lên những tồn tại, hạn chế, bất cập của pháp
luật phá sản về thủ lục phục hồi hoạt động kinh doanh hiện hành.
- Đề ra các dị nil hướng và một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp
Ngoài ra, để hoàn Ihành luận văn, tác giả còn sử dụng phương
pháp trao đổi nhằm tham khao ý kiến của nhiều cán bộ có bề dày kinh
nẹhiệm trong công tác nghiên cứu, giảng dạy ở các cơ sở nghiên cứu
đào tạo hoặc các chuyên gia xây dựng Luật phá sản để luận văn có tính
lý luận và thực tiỗn cao.
6 - Ỷ nghĩa khoa hoc và thưc tỉẻn của luân văn
Luận văn là công trình nghiên cứu có hệ Ihống và toàn diện về
thú tục phục hồi doanh nghiệp mắc nợ. v ề mặt khoa học và thực tien,
luận văn có những đóng góp:
Thứ nlìất: Lần đầu tiên thủ tục phục hổi hoạt động kinh doanh
một thú tục độc lập và quan trọng trong thủ tục phá sản được nghiên cứu
một cách toàn diện và hệ thống về cả lý luận cũng như thực tiễn.
咚 Thứ hai: Luận văn đã phân tích, đánh giá toàn bộ thực trạng
quy định và áp dụng pháp luậi về thủ tục phục hồi hoạt động kinh
doanh.
备 Thứ ba: Quá trình nghicn cứu lý luận và đánh giá thực trạng,
luận văn đã có những đề xuất định hướng và giải pháp nhằm xây dựng
và hoàn thiện khung pháp luật về thủ tục phục hồi hoạt động kinh
doanlì.
Kết quả nghiên cứu của luận văn có giá trị tham kháo trong công
tác xây dựng, nghiên cứu và áp dụng pháp luật nhất là trong bối cánh
chúng la đang tiến hành áp dụng Luật phá sản năm 2004.
7 - Kết cấu của luân văn
Ngoài phần M ớ đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các
phụ lục, bản luân văn này gồm 3 chương:
tác xã là diều khó tránh khỏi. Việc kinh doanh thua lỗ của các doanh
nghiệp, hợp lác xã có thể xuất phát lừ nhiều nguyên nhân khác nhau. Có
thể là những nguyên nhàn khách quan như khó khăn với các cơ quan tổ
chức có chức năng quản lý kinh doanh; khó khăn về khách hàng hoặc
khó khăn về những sự kiện không đoán được. Cũng có khi việc kinh
doanh thua lỗ của doanh nghiệp lại xuất phát từ nhiều nguyên nhân chủ
quan, nội lại bcn Irong doanh nghiệp, hợp tác xã như năng lực lãnh đạo
yếu kém. không hiệu quả; chính sách thương mại của đoanh nghiệp, hợp
lác xã tồi hoặc doanh nghiệp, hợp lác xã có những khó khăn về tài
chính.
Chính việc kinh doanh thua lỗ này đã dẫn đến tình trạng một
doanh nghiệp, hợp tác xã phải nợ một hoặc nhiều doanh nghiệp khác.
Đc báo vệ quyền lợi của các chủ nự, ở mỗi quốc gia, đều có các quy
định pháp lý về thủ lục thu nợ cá nhân riêng biệt cho phép các chủ nợ
được ycu cầu con cầu con nợ thanh toán các khoản nợ của mình. Nhưng
thú tục này lỏ ra hạn chế khi mà vào thời điểm thanh toán, khá năng
thanh toán của con nợ khôníỉ đủ đế đám bao chi tra nợ cho tất cá các
chủ no'. Chỉ có các chủ no' khơi kiẽn con nơ đầu liên mới ckrơc ihaiìh
loán Cík' khoan nợ còn các chủ nợ khởi kiện sau không thu được gì. Dc
đãm báo quyền lựi cho mọi chủ nợ, thủ tục phá Siín được đặt ra đế gi ái
quyèì lình trạng này.
Thú tục phá sản gồm thủ tục phục hồi doanh nghiệp, hợp tác xã
mác nợ và thú lục thanh lý tư pháp doanh nghiệp, hợp tác xã mắc nợ. Kể
từ những năm 1970 trở lại đây, luật phá sản không chí nằm bảo vệ
quyền lợi cho các chủ nợ mà còn hướng đến bảo vệ lợi ích của chính
con nợ và nghĩ cho cùng, việc bảo vệ quyền lợi của con nợ cũng chính
là báo đảm quyền lợi cho các chủ nợ. Vì vậy, pháp luật phá sản hiện nay
cúa nhiều quốc gia không nhằm mục đích đưa các doanh nghiệp mất
Dối titợniỊ áp dụììg cua phục hồi là nhữỉĩíị con nợ nằm tro iìịị
-
tình trạniỊ khó khăn về tài chín lì ;
-
Trong tiến trình phục hồi không có sự thanh lý tài sàn của
con nợ ;
-
Mục dícli của việc phục hối lá nhằm tạo điều kiện cho con nợ
cỉưực tiếp íục Ììoạt dộng kinh doanh.
Cũng với mục đích xây dựng khái niệm phục hổi doanh nghiệp,
Giáo sư Gérard Cornu,Irường Đại học tổng hợp Monpcillier trong cuốn
Từ điển luật học của mình do Nhà xuất bản Association Henri Capitant
xuất bản năm 2000 bằng Tiếng Pháp đã định nghĩa rằng: “pliục hồi
doaiìh nghiệp mắc nợ trên phươno diện pháp lý là một thủ tục dược mở
cho mọi doanh nghiệp của luật tư nằm trong tình trạníỊ ngừtìịỉ ihanlì
toán rác khoàn nợ nlìồm cho phép cứu vcĩn doanh nghiệp, duy trì hoạt
cỉộni> của doanìì mịlìiệp VY/ việc làm cíin^ như hoàn trả các khoàn nợ''
[18.U-730J
Với cách định nơhia như trên, Giáo sư Gérard Cornu đã chí ra 3
đặc tnrng cơ bản cua việc phục hồi doanh nghiệp. Đó là:
-
mác nợ. Song đó là các biện pháp phục hồi đo con nợ tự áp đụng mà
không phải là thủ tục phục hồi bắt buộc do toà án áp dụng. Việc phục
hồi có thổ là tự phục hồi (hay còn gọi là phục hồi ngoài toà án) và phục
hồi bắt buộc (hay còn gọi là phục hồi trong 丁oà án). Thủ tục phục hồi
với tư cách là một chế định trong Luật phá sản do Nhà nước xây dựng
và điều đỉnh phái được hiểu trốn phương diện của một thủ lục bắt buộc,
tiến triển theo những hước, giai đoạn nhất định mà pháp luật đặt ra.
Thứ hai: tìố i tượtiỊỊ áp dụng của việc phục hồi là doanh
nghiệp, hợp tác xã không có khả nàng thanh toán nợ.
Mất kha năng ihanh toán nợ được hicu ià ''íìn li trạnii mà một
lìịịưừi hoặc một doanh nglìiệp klỉôtỉịỉ cỏn dủ tiền tro ìiíị quỹ dê thaiìh
toán cúc khoản nợ bị đòi ” [ 17,tr.67]
Mất khá năng thanh toán nợ không đổng nghĩa với việc “ vỡ nự”
cúa doanh nghiệp, hợp tác xã. Có những trường hợp tổng giá trị tài sản
có cúa doanh nghiệp lớn hơn tổng giá trị nợ của doanh nghiệp nhưng tại
một thời điểm nhất định doanh nghiệp không còn đủ liền trong quỹ đê
có ihc thanh khoản ngay những khoán nợ đến hạn. Những khoan nợ này
có thể là những khoán nợ mang tính chất kinh doanh hoặc những khoán
nợ mang lính chất dân sự. Có irưòng hợp tổng giá trị tài san có thấp hơn
lổng giá trị tài sản nợ của doanh nghiệp nhưng doanh nghiệp vần có khả
năng thanh toán các khoản nợ của các chủ nợ (nếu họ được xoá nợ hoặc
giảm nợ) [27.tr. 1]. Trong trường hợp thứ nhất được coi là doanh nghiệp
mcíl khả năng thanh toán nợ. Trường hợp thứ hai không được coi là
doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nợ.
Tuy nhiên, không phái mọi doanh nghiệp mất khả năng thanh
toán nợ đcu có the dược áp dụng thủ tục phục hồi. Chỉ những doanh
nghiệp còn khả năng phục hồi hoặc vì tầm quan trọng của doanh nghiệp
được chấp thuận thì sẽ không có sự phân chia tài sán còn lại của doanh
nghiệp mác nợ. 丁rên cơ sở số tài san còn lại này, cùng với nguồn vốn bổ
sung từ sự thống qua phương án phục hồi doanh nRhiệp, chủ doanh
nghiệp hoặc người đại diện hợp pháp của doanh nghiệp mắc nợ tiếp tục
tiến hành điều hành doanh nghiệp để đưa doanh nghiệp thoát khỏi tình
trạng mất khả năng thanh toán nợ, lâm vào tình trạng phá sán.
Thứ tư :M ục đích của việc phục hồi là nhằm duy trì hoạt động,
tá i cơ cấu doanh nghiệp và từng bước hoàn trả nợ chơ các chu nợ.
Đây cũng là dấu hiệu cơ bản đế phân biệt thủ tục phục hồi với thú
lục thanh lý doanh nghiệp. Với mục đích này, thủ tục phục hồi sẽ tạo
điều kiện cho doanh nghiệp gặp khó khăn vé tài chính tiếp tục được tồn
tại. Điều này có lợi cho nền kinh tế nhất là khi trong điểu kiện hiện nay
tình trạng thất nghiệp ngày càng cao.
- 14 Mặc khác, phục hổi cũng như thanh lý doanh nghiệp, hợp tác xã
dcu là phương thức thu hồi nợ lộp thể. Vì thế, mục đích của cá hai Ihủ
l ục 11 àý nhằm đến là con nợ thanh toán các khoán nự cho các chu nợ.
Trong thủ tục tlianh lý, quyền lựi của các chủ nợ được đảm báo ngay lừ
khi phân chia thanh lý, dược báo đảm trọn vẹn hoặc khổng irọn vẹn.
Trong thủ tục phục hồi, quyền lợi của các chủ nợ không được đảm bao
ngay mà trên thực tế nó có thể sẽ được đảm bảo trong tương lai khi
doanh imhiệp, hợp tác xã mắc nợ phục hồi thành công.
Từ việc phân lích những đặc điểm nêu trên, có thể đưa ra khái
niận phục hồi doanh nghiệp mắc nợ như sau:
Thü tục phục hồi lù thủ tục do Ttìà án quyết định áp dụ/ìiỊ troniị
dó một doanh nghiệp không có khả năng thanh toán các khoán nợ dến
liạn dược hưởng một thời hạn nhất định để thi hành phương án phục hồi
ra để nhằm mục đích này.
Ba là: Duy trì trật tự và ổn định xã hội
Để có thổ hoạt động sán xuất và phát triển, các doanh nghiệp
không the tự mình mà phải có những mối quan hệ với các doanh nghiệp
khác trong thương trường. Vì thế, nếu một doanh nghiệp bị phá sản tất
yếu có rất nhiều chủ nợ là các doanh nghiệp khác có quan hệ với doanh
nghiệp bị phá sán SC chịu sự tác động về tài chính. Đặc biệt, là những
doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng. Đối với
những doanh nghiệp này, việc phá sản của một doanh nghiệp có thé kéo
theo sự đổi vờ của cả một hệ thống các doanh nghiệp hoạt động cùng
loại.
Mặt khác, nếu một doanh nghiệp bị phá sản thì sẽ dẫn đến hậu
quả việc làm. Trong điều kiện của thị trường lao động hiện nay khi mà
cung lớn hơn cầu thì giải quyết tình trạng thất nghiệp không phái là một
vấn dề dễ dàng.
-17Vì thế, nếu việc phục hồi doanh nghiệp mắc nợ Ihành công thì
không những người lao động không bị mất việc làm mà bail thân những
bạn hàng của doanh nghiệp cũng không bị liên luỵ thay bởi việc phá sản
của khách hàng mình. Và vì thế, môi trường kinh doanh của các chú thế
kinh doanh sẽ trớ nên ổn định hơn, tránh được sự phá sản dây chuyền,
tránh được tình trạng mâu thuẫn, hỗn loạn, mất trật tự xã hội khi tranh
giành tài sán con nợ...
1.2.
V ị trí của thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh trong quá
trình giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản
'
〗
•一
.
.
ị
>
;
'
-18 -
Phán cỊuyết phục hồi
Chuyếiì
nhượng toàn
bộ
ỉ
Chuyển
th ú
lục của
nự
COI1
1r
Bổ nhiệm một uỷ ban kiểm tra
-J E -
Xem xét, đánh giá thực trạng tài chính
và khá năng phục hồi doanh nghiệp
Báo cáo của Uỷ ban kiểm tra
________
____________
Huỷ bỏ
Phán quyết mở thủ tục
phục hổi
Tiếp tục hoạt động của DN dưới
sự quan lý của quản tài viên
Triệu tập các chủ nợ
chủ thể có quyển yêu cầu mở thủ tục phải đệ đơn yêu cầu mở thủ tục
phục hồi đến Toà án có thẩm quyền. Sau đó, Toà án SC xem xét - đánh
giá và ra quyết định mớ hay không mở việc phục hồi doanh nghiệp mác
nợ. Trong tiến trình giải quyết yêu cầu mở thủ tục phục hổi, tuỳ từng
trường hợp và theo những điều kiện nhất định mà doanh nghiệp mắc nợ
có thế sẽ được phục hổi hay bị thanh lý. Thủ tục phục hồi và thủ tục
thanh lý doanh nghiệp mắc nợ là hai thủ tục độc lập trong tiến trình giái
quyết yêu cầu tuycn bố phá sán doanh nghiệp, trong đó thủ tục phục hồi
luôn được ưu tiên áp dụng. Ngoài ra, trong trường hợp cần thiết, thủ tục
phục hồi có thể nhanh chóng chuyển sang thủ tục thanh lý doanh
nghiệp.
Khác với thông lệ chung đó, pháp luật Việt nam lại quy định một
ihú tục mà theo đỏ bất cứ doanh nghiệp nào lâm vào lình trạng phá sán
đều phải trải qua. Khi doanh nghiệp gặp khó khăn vé tài chính, không
thể tiến hành thanh toán nợ cho các chủ nợ, doanh nghiệp mắc nợ phái
áp dụng các biện pháp tài chính cần thiết để phục hổi kha năng thanh
toán. Sau đó, nếu doanh nghiệp vẫn không thể thanh toán được các
khoan nợ thì doanh nghiệp mới bị coi là lâm vào tình trạng phá sản. Đến
lúc đó, một hoặc một số chủ thể nhất định mới tiến hành nộp đơn yêu
cầu Toà án giải quyết tuyên bố phá sản doanh nghiệp. Sau khi Toà án
Ihụ lý đưn ycu cầu giải quyết việc tuyên bố phá sán doanh nghiệp,
doanh nghiệp mắc nợ tiến hành xây dựng phương án hoà giiíi và giãi
pháp tổ chức lại sản xuất kinh doanh. Hội nghị chủ nợ sau dó mới tiến
hành họp đổ bàn bạc và đánh giá phương án hoà gi ái. Nếu được Hội
đồng chủ nợ chấp thuận, phirơng án hoà giải mới được thực thi. Toàn bộ
tiến trình trên, chúng ta có thể xem thông qua mô hình thủ tục phá sán
dối với doanh nghiệp mắc nợ dược quy định trong Luậl Phá sản như sau:
Thông báo bằng văn bản cho
QĐ công nhận biên bản hoà
giái thành và QĐ tạm đình chỉ
giúi quyết việc Phá sản
Khai mac HNCN lần 2
Thưc hiên PAHG
Không tốl hoặc không
KD có kết taiá
Quyct định đình
chi giái quyết việc
phá sán (Đicu 76)
Quyết định lu yên bố Phá sán
Quyết định tuyên
bố phá sản
1
H ỉnh 3: M ỏ hỉnh thủ tục phục hồi doanh nghiệp mắc nợ trong
Luật Phá sấn của Việt Nam
(Nguồn: www.juriscope. o r g )