Đề án môn học chuyên ngành
MỤC LỤC
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Ngọc Trung Lớp: QTKD tổng hợp 51B
Đề án môn học chuyên ngành
LỜI MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài
Lịch sử phát triển và vai trò của tỷ giá hối đoái gắn liền với qúa trình lớn mạnh
không ngừng của nền kinh tế thế giới và quan hệ kinh tế quốc tế. Cũng giống như
vai trò của giá cả trong nền kinh tế thị trường, tỷ giá hối đoái có tác động quan trọng
tới những biến đổi của nền kinh tế thế giới nói chung và nền kinh tế của mỗi quốc
gia nói riêng. Tỷ giá hối đoái là một phạm trù kinh tế tổng hợp có liên quan đến các
phạm trù kinh tế khác và đóng vai trị như là một công cụ có hiệu lực, có hiệu quả
trong việc tác động đến quan hệ kinh tế đối ngoại của mỗi nước, đồng thời là yếu tố
cực kỳ quan trọng đối với chính sách tiền tệ quốc gia. Trong điều kiện nền kinh tế
thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng khi mà quá trình quốc tế hoá đã bao trùm
tất cả các lĩnh vực sản xuất kinh doanh và trong cuộc sống. Các doanh nghiệp kinh
doanh xăng dầu cũng vậy đặc biệt với Việt Nam một đất nước phải nhập khẩu khối
lượng lớn xăng dầu phục vụ sản xuất và sinh hoạt.Chính vì thế tỷ giá luôn đúng một
vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp đầu mối Việt
Nam . Do đó em chọn đề tài đề án “Tác động của tỷ giá hối đoái đến hoạt động kinh
doanh xăng dầu ở Việt Nam” làm đề án môn học chuyên ngành QTKDTH.
Kết cầu của đề án gồm
Phần I : lý luận chung về tỷ giá hối đoái
Phần II : Tác động của TGHĐ đến hoạt động kinh doanh xăng dầu ở Việt Nam
Phần III : Các kiến nghị
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Ngọc Trung Lớp: QTKD tổng hợp 51B
1
Đề án môn học chuyên ngành
PHẦN I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI
a. Phương pháp trực tiếp: là phương pháp biểu thị một đơn vị ngoại tệ bằng
bao nhiêu đơn vị tiền tệ trong nước.
Đối với phương pháp trực tiếp thì ngoại tệ là đồng tiền yết giá, tiền trong nước
là đồng tiền định giá.
Đa số các quốc gia trên thế giới áp dụng phương pháp trực tiếp.
Ví dụ: Tại Hà Nội niêm yết USD/VND = 20.890/95
Có nghĩa là: Tại Hà Nội ngân hàng mua 1 USD trả 20.890 VND
Và bán 1USD thu 20.895 VND.
b. Phương pháp gián tiếp: là phương pháp biểu thị một đơn vị tiền tệ trong
nước bằng bao nhiêu đơn vị tiền ngoại tệ.
Đối với phương pháp gián tiếp thì tiền trong nước là đồng tiền yết giá, còn
ngoại tệ là đồng tiền định giá .Anh, Hoa Kì và một số nước liên hiệp Anh thương sử
dụng phương pháp này
Ví dụ: Tại London niêm yết GBP/USD = 1,835/15
Có nghĩa là: Tại London ngân hàng mua 1 GBP trả 1,835 USD
và bán 1 GBP thu 1,815 USD
Nếu đứng ở góc độ thị trường tiền tệ quốc gia, thì nước Anh và nước Mỹ
dựng cách yết giá gián tiếp để thể hiện giá cả ngoại hối ở nước họ, các quốc gia còn
lại thì dựng cách yết giá trực tiếp để thể hiện giá cả ngoại hối.
Ví dụ: Tại Hà Nội, TGHĐ được công bố như sau:
USD/VND = 20.890/20.895
Với cách yết giá trực tiếp này trên thị trường Hà Nội, giá một ngoại tệ USD đã
thể hiện trực tiếp ra bên ngoài
Tỷ giá 1USD = 20.890 VND là tỷ giá ngân hàng mua USD vào. Tỷ giá 1 USD
= 20.895 VND là tỷ giá ngân hàng bán USD ra.
Nếu đứng ở góc độ thị trường tiền tệ quốc tế thì trên thế giới chỉ có hai tiền tệ
quốc gia (USD, GBP) và hai tiền tệ quốc tế (SDR, EUR) là dựng cách yết giá trực
tiếp, tiền tệ còn lại dựng cách yết giá gián tiếp.
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Ngọc Trung Lớp: QTKD tổng hợp 51B
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Ngọc Trung Lớp: QTKD tổng hợp 51B
4
Đề án môn học chuyên ngành
4. Phân loại tỷ giá hối đoái
- Nếu dựa vào phương tiện chuyển hối:
+ Tỷ giá điện hối (T/T): Tức là tỷ giá mua bán ngoại tệ và các giấy tờ có giá
bằng ngoại tệ được chuyển bằng điện. Đây là loại tỷ giá thường được niêm yết tại
các ngân hàng và là cơ sở để xác định các loại tỷ giá khác
+ Tỷ giá thư hối (M/T): Tức là tỷ giá chuyển ngoại hối bằng thư.
- Nếu dựa vào phương tiện thanh toán quốc tế:
+ Tỷ giá séc và hối phiếu trả tiền ngay: được mua bán theo một tỷ giá mà cơ
sở để xác định nó bằng tỷ giá điện hối trừ đi số tiền lãi một đơn vị ngoại tệ trong
toàn bộ trị giá của séc và hối phiếu phát sinh theo số ngày cần thiết của bưu điện để
chuyển séc từ nước này sang nước khác và theo số ngày kể từ lúc ngân hàng bán hối
phiếu đến lúc hối phiếu được trả tiền.
+ Tỷ giá hối phiếu có kì hạn: Bằng tỷ giá điện hối trừ đi số tiền lãi phát sinh từ
lúc ngân hàng bán hối phiếu đến lúc hối phiếu đó được trả tiền. Thời gian này
thường là bằng thời hạn trả tiền ghi trên hối phiếu cộng với thời gian chuyển tờ hối
phiếu đó từ ngân hàng bán hối phiếu đến ngân hàng đồng nghiệp của nó ở nước của
người có nghĩa vụ trả tiền hối phiếu.Thông thường lãi suất được tính theo lãi suất
của nước mà đồng tiền được ghi trên hối phiếu
Ví dụ: Tỷ giá điện hối ở New York đi Xingapo là 1USD =1,8 SGD và lãi suất
ở Cục dự trữ liên bang Hoa Kì là 2%/năm, thì giá của hối phiếu 1.000 USD có kì
hạn 90 ngày là:
Hay là: 1USD = 1,791SGD
- Nếu căn cứ vào nghiệp vụ kinh doanh mua bán ngoại hối của ngân hàng:
+ Tỷ giá mua: Là tỷ giá ngân hàng mua ngoại hối vào.
+ Tỷ giá bán: Là tỷ giá ngân hàng bán ngoại hối ra.
áp dụng chế độ nhiều tỷ giá chính thức để điều tiết nền kinh tế.
Mục đích thi hành chế độ nhiều tỷ giá trước hết là để điều chỉnh cán cân ngoại
thương, do đó điều chỉnh cán cân thanh toán quốc tế và tỷ giá hối đoái, đồng thời
còn có tác dụng như là một loại thuế nhập khẩu đặc biệt hoặc làm tiền thưởng xuất
khẩu, làm công cụ phục vụ chính sách bảo hộ mậu dịch và trong những trường hợp
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Ngọc Trung Lớp: QTKD tổng hợp 51B
6
Đề án môn học chuyên ngành
nào đó, làm tăng thu cho ngân sách nhà nước qua thu thuế bán ngoại hối.
Chế độ nhiều tỷ giá, dự hình thức muôn hình, muôn vẻ nhưng nhìn chung có
những đặc điểm sau đây:
- Áp dụng TGHĐ cao đối với những hàng hoá xuất khẩu nào đó cần phải bán
phá giá hàng hoá và áp dụng tỷ giá thấp đối với những hàng hoá không khuyến
khích xuất khẩu.
- Áp dụng TGHĐ cao đối với những hàng hoá cần phải hạn chế nhập khẩu,
còn đối với hàng hoá cần khuyến khích nhập khẩu thì áp dụng TGHĐ thấp.
- Áp dụng TGHĐ ưu đãi đối với khách du lịch, kiều hối và các tư nhân gửi
tiền vào trong nước.
- Cần đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá vào khu vực thị trường nào thì áp dụng
TGHĐ cao.
5. Các nhân tố ảnh hưởng đến TGHĐ
Sự hình thành TGHĐ là quá trình tác động của nhiều yếu tố chủ quan và
khách quan Nhưng nhìn chung có ba yếu tố chính tác động đến tỷ giá. Đó là mối
quan hệ cung cầu về ngoại tệ độ lệch về lãi suất và lạm phát giữa các nước
5.1 Cung và cầu ngoại hối trên thị trường là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp và
nhạy bén đến sự biến động của tỷ giá hối đoái
Các nhân tố ảnh hưởng đến quan hệ cung cầu trên thị trường ngoại hối có thể
bao gồm:
- Tình hình dư thừa hay thiếu hụt của cán cân thanh toán quốc tế. Nếu cán cân
trong ngắn hạn sẽ đem lại kết quả không đáng tin cậy.
5.4 Những nhân tố khác ảnh hưởng đến tỷ giá
Ngoài những yếu tố nêu trên TGHĐ còn chịu ảnh hưởng của các yếu tố khác,
chẳng hạn như yếu tố tâm lý, chính sách của chính phủ, uy tín của đồng tiền…
Nhân tố quan trọng tác động đến tỷ giá hối đoái đó là tâm lý số đông.Người
dân, các nhà đầu cơ, các ngân hàng và các tổ chức kinh doanh ngoại tệ là các tác
nhân trực tiếp giao dịch trên thị trường ngoại hối.Hoạt động mua bán của họ tạo nên
cung cầu ngoại tệ trên thị trường.Các hoạt động đó lại bị chi phối bởi yếu tố tâm lý,
các tin đồn cũng như các kỳ vọng vào tương lai. Điều này giải thích tại sao, giá
ngoại tệ hiện tại lại phản ánh các kỳ vọng của dân chúng trong tương lai.Nếu mọi
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Ngọc Trung Lớp: QTKD tổng hợp 51B
8
Đề án môn học chuyên ngành
ngưòi kỳ vọng rằng tỷ giá hối đoái sẽ tăng trong tương lai, mọi người đổ xô đi mua
ngoại tệ thì tỷ giá sẽ tăng ngay trong hiện tại; Mặt khác, giá ngoại tệ rất nhậy cảm
với thông tin cũng như các chính sách của chính phủ.Nếu có tin đồn rằng Chính phủ
sẽ hỗ trợ xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu để giảm thâm hụt thương mại, mọi người sẽ
đồng loạt bán ngoại tệ và tỷ giá hối đoái sẽ giảm nhanh chóng.
Nhìn chung, TGHĐ biến động tăng hoặc giảm là do tác động của nhiều yếu tố
khác nhau. Do đó, để có một mức tỷ giá phù hợp cho từng thời kỳ, chúng ta cần
phải xác định được các yếu tố chủ quan, khách quan; trực tiếp và gián tiếp tác động
lên tỷ giá. Trên cơ sở đó, mà đưa ra những quyết định chính sách đúng đắn trong
việc điều hành tỷ giá nhằm đạt các mục tiêu kinh tế cụ thể
TGHĐ chịu tác động của nhiều yếu tố khác nhau nhưng đồng thời nó cũng tác
động tới nhiều mặt khác nhau của nền kinh tế trong đó quan trọng nhất là tới hoạt
động xuất nhập khẩu và đầu tư, tín dụng quốc tế
Sự biến động của TGHĐ ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động ngoại thương
thông qua kênh giá cả.Dựa trên TGHĐ, chúng ta có thể tính được giá xuất nhập
khẩu của một loại hàng hoá của một nước theo tiền tệ của một nước khác. Vì vậy, tỷ
nghiệp đầu mối được quyền quyết định giá bán +/- 10% so với giá chuẩn để bảo
đảm hoạt động kinh doanh
Từ năm 1993, để thống nhất quản lý giá bán, Nhà nước ban hành quy định giá
tối đa; doanh nghiệp tự quyết định giá bán buôn và bán lẻ trong phạm vi giá tối đa.
Nhà nước xác định mức độ chịu đựng của nền kinh tế để xác định giá tối đa; việc
điều chỉnh giá tối đa ở giai đoạn này chỉ diễn ra khi tất cả các công cụ điều tiết đã
sử dụng hết
Công cụ thuế nhập khẩu được sử dụng như một van điều tiết để giữ mặt bằng
giá tối đa, không tạo ra siêu lợi nhuận và doanh nghiệp cũng không phát sinh lỗ sau
một chu kỳ kinh doanh.
Phụ thu là một công cụ bổ sung cho thuế nhập khẩu khi mức thuế nhập khẩu
đã được điều chỉnh tăng hết khung, được đưa vào Quỹ Bình ổn giá do Nhà nước
quản lý.
Lệ phí giao thông thu từ năm 1994 cũng được hình thành từ nguyên tắc tận thu
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Ngọc Trung Lớp: QTKD tổng hợp 51B
10
Đề án môn học chuyên ngành
cho ngân sách Nhà nước khi điều kiện cho phép, là khoản thu cố định và sau này
đổi tên là phí xăng dầu.
Đặc điểm lớn nhất của giai đoạn này là: nhờ quy định của Nhà nước về giá
chuẩn, doanh nghiệp đầu mối được điều chỉnh giá bán xăng dầu nhập khẩu thuộc
nguồn ngoại tệ tự huy động từ các doanh nghiệp xuất khẩu, đảm bảo quyền lợi cho
họ thông qua tỷ giá phù hợp nên đã huy động được số ngoại tệ nhập khẩu gần 60%
nhu cầu xăng dầu cho nền kinh tế sau khi không còn nguồn xăng dầu theo Hiệp
định.
Chính chủ trương không áp dụng cơ chế bù giá cho các đối tượng sử dụng
xăng dầu thông qua doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu là điều kiện quyết định để
Việt Nam có thể tự cân đối được ngoại tệ nhập khẩu xăng dầu ngay cả khi nguồn
ngoại tệ tập trung của Nhà nước từ dầu thụ mới chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ hơn 50% so
cho người tiêu dùng qua doanh nghiệp nhập khẩu trong gần 10 năm tiếp theo.
2. Giai đoạn từ năm 2000 đến trước thời điểm Nhà nước công bố chấm
dứt bù giá, vận hành giá xăng dầu theo thị trường (tháng 9/2008)
Về cơ bản, nội dung và phương thức quản lý điều hành hoạt động kinh doanh
xăng dầu vẫn chưa có sự thay đổi so với giai đoạn trước đó
Trong khi đó, từ đầu những năm 2000, biến động giá xăng dầu thế giới đã có
những thay đổi căn bản; mặt bằng giá mới hình thành và liên tiếp bị phá vỡ để xác
lập mặt bằng mới trong các năm tiếp theo. Do tiếp tục chính sách bù giá cho người
tiêu dùng thông qua doanh nghiệp nhập khẩu khi cố gắng giữ mức giá nội địa ở
mức thấp nên số tiền ngân sách bù giá ngày càng gia tăng, từ 1000 tỷ (năm 2000)
lên đến 22 nghìn tỷ đồng năm 2008; loại trừ yếu tố trượt giá thì đây cũng là một tốc
tộ tăng quá cao; chưa có đánh giá nào đề cập đến khía cạnh này song xét đơn thuần
trên số liệu, nếu đầu tư hàng ngàn tỷ đồng này cho các dự án phát triển cơ sở hạ
tầng kinh doanh xăng dầu, đã có thể tạo lập một hệ thống kinh doanh xăng dầu đủ
lớn và hiện đại, có khả năng cạnh tranh khi mở cửa thị trường xăng dầu trong tương
lai gần.
Cũng trong giai đoạn này, sau khi nổ ra cuộc chiến tranh Vùng Vịnh lần thứ 2;
giá xăng dầu đã dịu lại song cũng đã hình thành một mặt bằng mới; trước nguy cơ
không thể cân đối ngân sách cho bù giá xăng dầu, Thủ tướng Chính phủ đã ban
hành Quyết định số 187/2003/QĐ-TTg ngày 15/9/2003 về kinh doanh xăng dầu.
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Ngọc Trung Lớp: QTKD tổng hợp 51B
12
Đề án môn học chuyên ngành
Cho đến thời điểm này, sự đổi mới cơ chế quản lý, chủ yếu là quản lý giá theo
Quyết định 187 vẫn được coi là mạnh mẽ nhất với các tư tưởng cơ bản bao gồm:
- Nhà nước xác định giá định hướng; doanh nghiệp đầu mối được điều chỉnh tăng
giá bán trong phạm vi + 10% (đối với xăng) và + 5% (đối với các mặt hàng dầu).
- Hình thành 2 vùng giá bán; giá bán tại vùng xa cảng nhập khẩu, doanh
nghiệp được phép cộng tới vào giá bán một phần chi phí vận tải nhưng tối đa không
mỗi ngày… đã làm cân đối ngân sách bị phá vỡ, doanh nghiệp bị kiệt quệ nguồn lực
cho phát triển; việc kìm giá và điều chỉnh sốc tác động tiêu cực đến nền kinh tế,
chưa kể hiện tượng đầu cơ chờ tăng giá làm méo mó nhu cầu, chuyển khá nhiều
nguồn lực cho đại lý; phần lớn người tiêu dùng không được thông tin đầy đủ về cơ
chế điều hành và lợi ích mà Nhà nước đem lại cho nhân dân nên thường xuyên có
phản ứng tiêu cực sau mỗi lần điều chỉnh giỏ (kể cả tăng và giảm), từ đó chưa tạo
được sự đồng thuận trong xã hội; thẩm lậu xăng dầu qua biên giới ngày càng phức
tạp, khó kiểm soát; Nhà nước thất thu ngân sách kể cả lúc giá thấp hơn và cao hơn
nước lân cận do thẩm lậu xăng dầu qua biên giới.
Hệ quả rất xấu của cơ chế bù giá xăng dầu kéo dài (mà người tiêu dựng vẫn
hiểu là bù lỗ cho doanh nghiệp đầu mối) là việc khó chấp nhận điều chỉnh tăng giá,
kể cả mức rất thấp và phản ứng mạnh trước thông tin doanh nghiệp kinh doanh
xăng dầu không có hiệu quả mà luôn được Nhà nước bù lỗ.
Cũng cần khẳng định rằng, chỉ khi Nhà nước bảo đảm đủ cân đối ngoại tệ cho
nhập khẩu xăng dầu thì mới có thể áp dụng biện pháp bù giá. Đây chính là điểm
khác biệt so với giai đoạn trước, khi mà nguồn ngoại tệ từ dầu thụ và các nguồn dự
trữ tập trung khác của Nhà nước đã đủ lớn
3. Giai đoạn từ cuối năm 2008 đến nay
Có thể nói, giai đoạn này tuy ngắn nhưng đã bộc lộ nhiều nhất những bất cập
của cơ chế điều hành giá và thuế xăng dầu.Việc tiếp tục can thiệp giá và áp dụng
một cơ chế điều hành trong điều kiện giá xăng dầu thế giới biến động rất nhanh
chóng theo hai xu hướng ngược nhau đã dẫn đến một nghịch lý là: trong thời kỳ giá
thế giới đã giảm sâu, Nhà nước vẫn phải bỏ một số tiền bù giá tương đương, thậm
chí cao hơn so với giai đoạn giá thế giới tăng đỉnh điểm; phân khúc số tiền bù giá
cho từng giai đoạn trong năm 2008 có thể thấy rõ nhận định này (khoảng 12 ngàn tỷ
/11 ngàn tỷ).
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Ngọc Trung Lớp: QTKD tổng hợp 51B
14
Đề án môn học chuyên ngành
15
Đề án môn học chuyên ngành
dầu. Gần đây nhà máy lọc dầu Dung Quất được hoàn thành tuy nhiên cũng chỉ đáp
ứng được gần 30% thị trường Việt Nam nên xăng dầu tiâu thụ hàng ngày của Việt
Nam chủ yếu từ nhập khẩu
Khi tỷ giá VNĐ/USD tăng nên nghĩa là để mua được 1USD thì chúng ta phải
bỏ nhiều VNĐ hơn việc này đồng nghĩa với việc để cùng mua một mặt hàng nhập
chúng ta phải bỏ nhiều tiền hơn so với các khi tỷ giá VNĐ/USD tăng. Mặt hàng
xăng dầu cung như vậy để nhập khẩu xăng dầu thì tỷ giá VNĐ/USD luôn là vấn đề
thường trực với các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu ở việt nam.Do vậy để đảm
bảo kế hoạch kinh doanh thì các doanh nghiệp này phải có kế hoạch dự trữ USD
hoặc mua USD để nhập khẩu xăng dầu. Trong trường hợp tỷ giá có xu hướng biến
động tăng, việc mua USD của các ngân hàng trở nên khó khăn hơn doanh nghiệp
phải chấp nhận vay USD của ngân hàng và khi đến hạn thanh toán thi phải trả hết
hoăc phải mua USD bên ngoài chợ đen và chấp nhận tốn kém hơn. Do đó các DN
xăng dầu phải chịu tác động của 2 loại chênh lệch tỷ giá. Loại thứ nhất, theo hình
thức thanh toán bình thường, khi lô hàng xăng dầu về cảng, khoảng 30 ngày sau,
DN mới thanh toán cho đối tác nước ngoài. Loại phát sinh chênh lệch tỷ giá thứ hai
là khi đến hạn thanh toán ngoại tệ cho đối tác nước ngoài, các ngân hàng không bán
ngoại tệ mà bắt DN xăng dầu phải vay ngoại tệ.Giờ đến hạn phải trả ngoại tệ cho
ngân hàng thì nghiễm nhiên, DN buộc phải chịu thiệt hại lớn với khoảng chênh tỷ
giá tăng tới 1.200-1.400 đồng/USD so với trước nên một số doanh nghiệp đang phải
nợ một khoản ngoại tệ vô cùng lớn đối với cả ngân hàng trong nước và đối tác nước
ngoài, ước giá trị lên tới hàng trăm triệu USD. Giờ, vì tỷ giá tăng, họ sẽ phải mất
thêm cả nghìn tỷ đồng, một khoản phát sinh chi phí kinh doanh khổng lồ
Mặt khác giỏ cuối cùng của các mặt hàng xăng dầu bán ra thị trường được cấu
thành từ rất nhiều yếu tố như: tỷ giá, giá CIF (là giá của bên bán hàng đã bao gồm
giá thành của sản phẩm, cước phí vận chuyển và phí bảo hiểm) cảng Việt Nam,
thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế giá trị gia tăng, phí xăng dầu,định mức
Các khoản
thuế, phí
theo quy
định của
Pháp luật
Thuế Nhập khẩu % 17 10 15 12
5
Thuế Tiêu thụ
đặc biệt
% 10 0 0 0
6
Thuế Giá trị gia
tăng (VAT)
% 10 10 10 10
7 Phí xăng dầu Đồng/lớt, kg 1000 500 300 300
8
Các khoản
do Bộ Tài
Chính quy
định
Định mức chi
phí kinh doanh
Đồng/lớt, kg 600 600 600 400
9
Lợi nhuận định
mức
Đồng/lớt, kg 300 300 300 300
10
Mức trích Quỹ
Bình ổn giá
khiến cho giá cơ sở của các mặt hàng xăng dầu tăng lên đáng kể chiếm tới trên 30%
phần chênh lệch giá tăng.
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Ngọc Trung Lớp: QTKD tổng hợp 51B
17
Đề án môn học chuyên ngành
Dưới đây là bảng diễn biến giá xăng dầu thế giới Bình quân 30 ngày từ ngày
12/7/2011 đến ngày 10/8/2011
Nguồn: DDDN/MOF
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Ngọc Trung Lớp: QTKD tổng hợp 51B
Ngày giao dịch
Xăng Ron
92
Diezen 0,05%S Dầu hỏa madut
(1) Bình quân 30 ngày trước đó từ ngày
10/6/2011 đến 11/7/2011
118.76 127,01 126,15 655,7
(2) Bình quân 30 ngày gần đây từ
12/7/2011 đến 10/8/2011
122,45 129,80 129,25 671,50
12/7/2011 122,84 129,33 128,3 658,41
13/7/2011 124,9 131,35 130,26 670,42
14/7/2011 123,72 131,51 130,44 673,25
15/7/2011 122,32 129,71 128,82 666,26
16/7/2011 Nghỉ Nghỉ Nghỉ Nghỉ
17/7/2011 Nghỉ Nghỉ Nghỉ Nghỉ
18/7/2011 122,74 130,85 130,22 675,41
19/7/2011 122,86 130,99 130,46 675,48
20/7/2011 123,63 132,22 131,76 679,53
dầu thô thế giới tăng do sự phục hồi tích cực của nền kinh tế đặc biệt là các nền
kinh tế lớn như Mỹ, Đức, Trung Quốc khiến cho nhu cầu về dầu mỏ phục vụ sản
xuất tăng lên cộng với đó thì tổ chức các nước dầu mỏ OPEC đã thống nhất giữ
nguyên mức sản lượng như hiện nay đã làm giá dầu tăng. Tuy nhiên xét trên khía
cạnh ở nền kinh tế Việt Nam thì tỷ giá tăng hay nói cách khác tức là VNĐ mất giá
đã làm cho hàng hóa nhập khẩu đắt lên tương đối. nhìn vào bảng tính giá cơ sở để
làm căn cứ để đưa ra giá bán thì ta thầy ngay được ràng khi tỷ giá tăng lên thì đồng
nghĩa với việc giá CIF cảng Việt Nam cũng tăng lân, mà giá CIF cảng Việt Nam lại
là giá gốc ban đầu để tính các loại thuế, chi phí, nên tỷ giá tăng thì đã làm cho giá
bán xăng dầu tăng lên.
Cụ thể đi vào từng mặt hàng thì ta có thể thấy được đối với mặt hàng xăng
A95 KC và xăng A92 KC thì giá đã tăng trên 11% kể từ đầu năm 2009 đến nay tăng
cao hơn cả tăng trưởng GDP của Việt Nam. Thực tế đến thời điểm ngày 12/11/2010
thì giá cơ sở đã cao hơn giá bán hiện hành là gần 1800đ/ lít tương ứng trên 10% nếu
trừ đi 500đ/lít trợ giá từ Quỹ bình ổn thì Tổng công ty xăng dầu Việt Nam đang lỗ
trên 1300đ/lít như vậy mỗi ngày các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu Việt Nam
lỗ hàng chục tỷ đồng, đó là chưa kể đến tiền hỗ trợ từ Quỹ bình ổn chỉ là trên danh
nghĩa chứ không có thực tế. Giải thích cho việc thua lỗ nặng này thì 1 phần là do
giá dầu thô cao tuy nhiên cũng là do tỷ giá VNĐ/ USD đã tăng cao đỉnh điểm khi
mà tỷ giá VNĐ/ USD ngoài thị trường tự do đã lên trên 21.000 VNĐ/ USD. Đồng
thời đối với các mặt hàng khác như dầu DO 0,05S và dầu DO 0,025S và dầu hỏa
cũng như vậy tỷ giá tăng cao kết hợp với giá dầu thế giới tăng cao khiến cho giá cơ
sở tăng cao. Điều này ảnh hưởng nghiêm trọng tới hoạt động kinh doanh xăng dầu
của các doanh nghiệp do khó khăn từ việc thu mua USD do khan hiếm đồng thời do
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Ngọc Trung Lớp: QTKD tổng hợp 51B
19
Đề án môn học chuyên ngành
tỷ giá VNĐ/ USD tăng cao.
Hầu hết doanh nghiệp nhập khẩu, kinh doanh xăng dầu đều cho rằng việc tỷ
Đề án môn học chuyên ngành
khoảng 900 đồng.
So sánh với giá bán lẻ tại một số nước trong khu vực tại thời điểm đó, đơn cử
mặt hàng xăng 92R, theo thông tin thu thập được và quy đổi về đồng Việt Nam theo
tỷ giá ngày 16.02.2011, tình hình như sau (Giá niêm yết tại cửa hàng bán lẻ): Tại
Lào: Lao State Fuel Co. đang bán ra 9.870 Kip/lớt = 24.352 đồng/lớt. Tại
Campuchia: Công ty SOKIMEX đang bán 4.700 Riels/lớt = 23.209 đồng/lớt. Tại
Singapore: SPC đang bán 1,947 S$/lớt = 30.609 đồng/lớt. Tại Trung Quốc đang bán
7,360 NDT = 22.447 đồng/lớt.Tại Việt Nam đang bán 16.400 đồng/lít; thấp hơn Lào
7.952 đồng/lớt, thấp hơn Campuchia 6.809 đồng/lớt, thấp hơn Singapore 14.209
đồng/lớt, thấp hơn Trung Quốc 6.047 đồng/lớt.
Việc giá xăng dầu trong nước thấp hơn nhiều so với các nước trong khu vực
khiến cho việc buôn lậu xăng dầu trở nên phổ biến hơn, điêu này gây ảnh hưởng rất
xấu đến tình hình kinh doanh xăng dầu của các doanh nghiệp trong nước
Có thể nói sự biến động của giá xăng dầu thế giới là nguyên nhân chính dẫn
đến tăng giá xăng dầu, nhưng tỷ giá tăng là nguyên nhân quan trọng dẫn đến việc
giá xăng dầu tăng cao trong nước thời gian qua
III. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG
1. Ưu điểm
Việc điều chỉnh tăng tỷ giá sẽ làm cho tỷ giá chính thức và phi chính thức tiến
sát gần nhau. Điều này làm cho hoạt động về ngoại tệ sẽ được tập trung vào thị
trường có tổ chức và ngân hàng làm đúng vai trò của mình, không còn là trung
gian.Nhà nước cũng sẽ không phải tung tiền ra bán theo giá thấp cho các doanh
nghiệp.Đặc biệt, sẽ hạn chế việc đầu cơ buôn bán lòng vòng vốn. Ví dụ như ngân
hàng hoặc doanh nghiêp có một lý do nào đó chính đáng để được mua nguồn USD
giá rẻ lệch 10%, sau đó, họ có thể bán hoặc không bán cho đúng đối tượng hoặc
dựng không đúng mục đích, bán lòng vòng ra ngoài thì đã lãi được 10 % rồi. Tiếp
đến, các báo cáo tài chính phải hạch toán theo tỷ giá chính thức, nhưng thực tế các
doanh nghiệp phải mua với tỷ giá cao, như vậy các báo cáo tài chính phải sai ít nhất
10%.Điều này có thể được giảm bớt đi nhờ lần thay đổi tỷ giá này. Ngồi ra, việc
cạnh đó còn do các yếu tố như tâm lý và các chính sách vĩ mô,
yếu tố tâm lý của người dân và doanh nghiệp bị dao động khi thấy lạm phát
không dừng lại ở một con số như những dự báo trước đó, thành ra găm USD vì lo
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Ngọc Trung Lớp: QTKD tổng hợp 51B
22
Đề án môn học chuyên ngành
sợ tỷ giá tăng thêm nữa. Khi tiền đồng mất giá, một cách tự nhiên người ta có xu
hướng chuyển sang nắm giữ đô la và vàng. Cũng tự nhiên như thế, khi giá đô la trên
thị trường cứ tiếp tục tăng, nhiều người sẽ muốn chuyển sang nắm giữ vàng. Nhu
cầu vàng tăng đẩy giá vàng lên cao, từ đó khuyến khích việc nhập vàng (kể cả qua
con đường không chính thức). Hai điều này làm tăng thêm nhu cầu đô la và làm xấu
thêm tình trạng khan hiếm đô la trên thị trường, và vũng xoáy giá đô la và giá vàng
cứ thế tiếp tục leo thang.
Một nguyên nhân nữa là trong khi giá vàng, giá đô la đua nhau tăng như vậy
thì thông tin về những đợt điều chỉnh giá lớn về điện, nước, xăng, dầu, cũng như lo
lắng về tình trạng giá lương thực sẽ tăng cứ dồn dập đưa tới. Hệ quả là lạm phát kỳ
vọng vốn đã ở mức cao càng trở nên cao thâm, đồng thời người ta cũng nghĩ tới khả
năng về một đợt điều chỉnh tỷ giá mới, khiến cho hành vi chuyển sang nắm giữ
vàng và đô la càng được tăng cường. Điều này thường được lý giải như là một hiện
tượng “tâm lý”
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Ngọc Trung Lớp: QTKD tổng hợp 51B
23
Đề án môn học chuyên ngành
PHẦN III
CÁC KIẾN NGHỊ
1. Kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước và các cơ quan quản lí vĩ mô
Xét về tổng thể từ nhiều năm qua, việc cải cách cơ chế quản lý tỷ giá hối đoái
đã đem lại những thành quả đáng kể, tạo ra sự ổn định nhất định trong sức mua của