MỤC LỤC
Trang
i
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
ii
DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
iii
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Khi nền kinh tế ngày càng phát triển cùng với xu hướng khu vực hóa và toàn
cầu hóa, việc mua bán hàng hóa không chỉ còn bó hẹp trong phạm vi của một quốc
gia mà dần dần được mở rộng ra phạm vi toàn thế giới, các quốc gia giao thương
với nhau nhiều hơn. Nhưng mỗi quốc gia lại sử dụng một đồng tiền riêng cho
mình, do đó việc mua bán hàng hóa gặp nhiều khó khăn trong việc tính giá cả của
hàng hóa. Chính vì vậy mà TGHĐ ra đời nhằm giúp chuyển đổi đồng tiền giữa
các quốc gia, thuận lợi hơn trong quá trình mua bán.
TGHĐ là một thuật ngữ được sử dụng rất phổ biến trong quan hệ kinh tế
quốc tế hiện nay, nó đóng vai trò rất quan trọng trong thương mại, đầu tư và tín
dụng quốc tế, trong việc xác định, tính toán cán cân thanh toán nói riêng cũng như
sức mạnh kinh tế đối ngoại của một quốc gia nói chung. TGHĐ giúp chúng ta so
sánh giá cả của các hàng hóa và dịch vụ sản xuất trên các nước khác nhau. Chính vì
điều này mà tỷ giá hối đoái được sử dụng để điều tiết chính sách khuyến khích XK
hay NK hàng hóa của một nước.
Đối với một công ty hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh XNK như Công ty
CP Cung Ứng Tàu Biển Sài Gòn thì tỷ giá hối đoái sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến kết
quả hoạt động của công ty. Vì là một công ty XNK, thường xuyên mua bán với các
công ty nước ngoài, khi tỷ giá thay đổi sẽ làm cho dòng tiền của công ty luôn thay
•
Thu thập thông tin về tỷ giá trên website của niên giám thống kê, bộ công
thương, ngân hàng nhà nước…
•
Thu thập thông tin về các chính sách quản lý ngoại hối của ngân hàng nhà nước
Việt Nam trên sách, báo, tạp chí, truyền hình và internet.
•
Số liệu thu thập được phân tích bằng các phương pháp như: phương pháp so
sánh, thống kê…
Phân tích số liệu bằng một số phương pháp sau:
+ Phương pháp so sánh, tổng hợp: so sánh số liệu giữa các năm rồi đi đến kết
luận.
+ Phương pháp thống kê: các số liệu được thống kê theo năm để từ đó so
sánh, phân tích và rút ra kết luận.
+ Phương pháp nghiên cứu trường hợp: phân tích các số liệu trong một thời
điểm nhất định, trong từng trường hợp cụ thể.
2
4. Đối tượng nghiên cứu
Các yếu tố liên quan đến TGHĐ và ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của công ty.
5. Phạm vi nghiên cứu
• Không gian:
Đề tài được nghiên cứu tại công ty CP Cung Ứng Tàu Biển Sài Gòn. Địa chỉ: 3G
Phổ Quang, P2, Q.Tân Bình, TP.HCM.
• Thời gian:
Đề tài được tiến hành nghiên cứu từ ngày 21/02/2011 đến ngày 20/5/2011.
• Số liệu dùng để nghiên cứu đề tài chủ yếu trong 3 năm từ 2008 đến 2010.
Do thời gian và điều kiện tiếp cận với Công ty CP Cung Ứng Tàu Biển Sài Gòn có
hạn, hơn nữa kiến thức và kinh nghiệm trong việc nghiên cứu đề tài này còn nhiều
hạn chế nên phạm vi của đề tài chỉ nghiên cứu sự tác động của tỷ giá hối đoái giữa
USD và VND đến hoạt động của Công ty CP Cung Ứng Tàu Biển Sài Gòn từ năm
Do thực tế và lý thuyết có những khoảng cách nhất định, thời gian thực tập
ngắn, kiến thức có hạn và lần đầu tiên em làm đề tài mới nên còn nhiều thiếu sót.
Kính mong nhận được sự thông cảm, góp ý của quý thầy cô.
4
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ
TÁC ĐỘNG CỦA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI ĐẾN HOẠT ĐỘNG
XUẤT NHẬP KHẨU CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN
CUNG ỨNG TÀU BIỂN SÀI GÒN
1.1. Những khái niệm cơ bản
1.1.1. Khái niệm tỷ giá hối đoái:
Tỷ giá hối đoái là giá của một loại tiền tệ được biểu hiện qua một loại tiền
tệ khác. Nó được coi như là một loại giá quốc tế bị tác động bởi nhiều yếu tố khác
nhau trong không gian quốc tế.
TGHĐ là một trong các công cụ của chính sách tài chính - tiền tệ của Chính
phủ, nên ngoài việc chịu điều tiết bởi cung cầu tiền tệ, tỷ giá còn chịu tác động bởi
các mục tiêu của các chính sách kinh tế - tài chính của quốc gia trong từng thời kì
nhất định. Trên thế giới, hầu hết các chính phủ đều tác đông trực tiếp hay gián tiếp
đến tỷ giá hối đoái. Mức độ tác động này phụ thuộc vào sự biến động của môi
trường kinh tế vĩ mô trong từng thời kì nhất định, mục tiêu của chính sách tiền tệ
trong từng thời kỳ, niềm tin của công chúng vào chính sách phát triển đất nước của
chính phủ, sự tác động của nền kinh tế toàn cầu, thực trạng của nền kinh tế... Các
biện pháp bảo vệ cũng là nhân tố quan trọng làm thay đổi cung cầu ngoại tệ và làm
tỷ giá biến động.
1.1.2. Giá cả cho giao dịch quốc tế: tỉ giá hối đoái thực tế và danh nghĩa.
Cho đến nay chúng ta đã thảo luận về luồng chu chuyển hàng hóa và vốn giữa
các quốc gia. Bên cạnh các biến lượng này, các nhà kinh tế vĩ mô còn nghiên cứu các
biến số phản ánh giá cả của giao dịch quốc tế. Cũng giống như trên bất cứ thị trường
nào, giá cả đóng vai trò quan trọng trong việc phối hợp người mua và bán: giá quốc
tế phối hợp quyết định của người tiêu dùng và sản xuất khi họ tương tác với nhau
trên thị trường thế giới. Ở đây, chúng ta bàn hai loại giá cả quan trọng nhất là tỷ giá
Tỷ giá hối đoái thực tế là tỷ lệ mà tại đó một người trao đổi hàng hóa và dịch
vụ của nước này lấy hàng hóa và dịch vụ của nước khác. Ví dụ khi mua hàng, bạn
thấy két bia Đức có giá gấp đôi két bia Mỹ. Chúng ta có thể nói rằng tỷ giá hối đoái
thực tế là 1/2 két bia Đức bằng 1 két bia Mỹ. Hãy chú ý rằng tương tự như tỷ giá hối
đoái danh nghĩa, chúng ta biểu hiện tỷ giá hối đoái thực tế bằng số đơn vị hàng hóa
nước ngoài trên một đơn vị hàng hóa trong nước.
6
Tỷ giá hối đoái danh nghĩa và thực tế có quan hệ mật thiết với nhau. Để hiểu
tại sao, chúng ta hãy xét ví dụ sau. Giả sử một giạ lúa của Mỹ bán được 100 đô la, và
một giạ lúa của Nhật bán được 16.000 yên. Tỷ giá hối đoái thực tế giữa lúa của Mỹ
và lúa của Nhật là bao nhiêu? Để trả lời câu hỏi này trước tiên ta sử dụng tỷ giá hối
đoái danh nghĩa để chuyển các loại giá về cùng một đồng tiền. Nếu tỷ giá hối đoái
danh nghĩa là 80 yên một đô la và giá lúa của Mỹ là 100 đô la một giạ, thì giá lúa của
Mỹ sẽ là 8.000 yên một giạ lúa. Lúa của Mỹ rẻ bằng một nửa lúa của Nhật. Tỷ giá
hối đoái thực tế là 1/2 giạ lúa của Nhật trên một giạ lúa của Mỹ.
Chúng ta có thể tóm tắt cách tính tỷ giá hối đoái thực tế này bằng công thức sau:
Tỷ giá hối đoái thực tế
=
Tỷ giá hối đoái danh nghĩa x Giá trong nước
Giá nước ngoài
Sử dụng số liệu trong ví dụ ta có:
Tỷ giá hối đoái thực tế =
(80 yên một đô la) x (100 đô la giạ lúa của Mỹ)
16.000 yên giạ lúa của Nhật
=
8.000 yên giạ lúa củaMỹ
16.000 yên giạ lúa của Nhật
= 1/2 giạ lúa của Nhật trên một giạ lúa của Mỹ
Như vậy tỷ giá hối đoái thực tế phụ thuộc vào tỷ giá hối đoái danh nghĩa và
hàng hóa của hai nước tính bằng đồng tiền trong nước của họ.
dựa vào căn cứ nào, cũng như những hàm ý và hạn chế của nó.
1.1.3.1. Logíc cơ bản của lý thuyết ngang bằng sức mua
Lý thuyết ngang bằng sức mua dựa trên một nguyên lý gọi là quy luật một giá.
Nguyên lý này cho rằng hàng hóa phải được bán với mức giá như nhau ở mọi nơi.
Nếu không, sẽ có những cơ hội kiếm lợi nhuận chưa được khai thác. Ví dụ, giả sử giá
cá tra ở An giang thấp hơn ở Tp. HCM. Một người có thể mua cá tra ở An giang với
giá 40 ngàn đồng một kg và bán lại ở Tp. HCM với giá 50 ngàn đồng một kg, qua đó
kiếm được lợi nhuận là 10 ngàn một kg từ sự chênh lệch giá. Quá trình tận dụng sự
chêch lệch ở các thị trường khác nhau gọi là hành vi đảo hối (hay arbit). Trong ví dụ
của chúng ta, do mọi người tận dụng cơ hội đảo hối, nên họ làm tăng cầu về cá ở An
8
giang và tăng cung về cá ở Tp. HCM. Giá cá tăng ở An giang để đáp lại sự gia tăng
của cầu và giảm ở Tp. HCM để đáp lại sự gia tăng của cung. Quá trình này tiếp diễn
cho đến khi giá trên hai thị trường bằng nhau.
Bây giờ chúng ta hãy xét xem lý thuyết ngang bằng sức mua được vận dụng
như thế nào vào thị trường quốc tế. Nếu một đô la (hay bất cứ đồng tiền nào khác) có
thể mua được nhiều cà phê ở Việt nam hơn ở Mỹ, các nhà buôn quốc tế có thể kiếm
lời bằng cách mua cà phê ở Việt nam và bán lại ở Mỹ. Việc xuất khẩu cà phê từ VN
sang Mỹ sẽ làm giá cà phê ở VN tăng trong khi giá cà phê ở Mỹ giảm. Cuối cùng,
quy luật một giá cho rằng một đô la có thể mua được một lượng cà phê như nhau ở
tất cả các nước.
Lôgíc này dẫn chúng ta đến quy luật một giá. Theo lý thuyết này, một đồng
tiền phải có sức mua như nhau ở tất cả các nước. Nghĩa là, 1 đô la Mỹ có thể mua
được một lượng hàng hóa như nhau ở Mỹ và Nhật và một yên có thể mua được một
lượng hàng hóa như nhau ở Nhật và ở Mỹ. Quả thật tên của lý thuyết này nói rõ nội
dung của nó. Ngang bằng nghĩa là bằng nhau và sức mua nói lên giá trị của tiền. Lý
thuyết ngang bằng sức mua nói rằng một đơn vị tiền tệ phải có giá trị thực tế như
nhau ở mọi quốc gia.
1.1.3.2. Ý nghĩa của lý thuyết ngang bằng sức mua
Lý thuyết ngang bằng sức mua cho biết điều gì về tỷ giá hối đoái? Nó cho
Hàm ý then chốt của lý thuyết này là tỷ giá hối đoái danh nghĩa sẽ thay đổi
nếu giá cả thay đổi. Như chúng ta đã biết trong chương trước, mức giá cả của bất kỳ
quốc gia nào cũng sẽ điều chỉnh để cân bằng cung và cầu về tiền. Do tỷ giá hối đoái
danh nghĩa phụ thuộc vào mức giá cả, nó cũng phụ thuộc vào cung và cầu về tiền ở
mỗi nước. Khi ngân hàng trung ương của một nước tăng cung ứng tiền tệ và làm cho
giá cả tăng, đồng tiền của nước đó sẽ xuống giá so với các đồng tiền khác trên thế
giới. Nói cách khác, khi ngân hàng trung ương in lượng tiền lớn, đồng tiền của nó sẽ
mất giá cả khi tính bằng lượng hàng hóa và dịch vụ mà nó có thể mua và tính bằng
lượng các đồng tiền của nước khác mà nó có thể mua.
Bây giờ, chúng ta có thể trả lời câu hỏi đặt ra ở phần này: tại sao đô la Mỹ mất
giá so với mác Đức và tăng giá so với lia Ý? Câu trả lời là Đức theo đuổi chính sách
10
tiền tệ chặt hơn, còn Ý theo đuổi chính sách tiền tệ lỏng hơn với Mỹ. Từ năm 1970
đến năm 1998, lạm phát ở Mỹ là 5,3% một năm. Ngược lại, lạm phát ở Đức là 3,5%
và ở Ý là 9,6%. Như vậy, do giá cả ở Mỹ tăng nhanh hơn ở Đức, nên đô la giảm giá
so với mác. Tương tự như vậy, do giá cả ở Mỹ giảm so với Ý, nên giá trị đô la tăng
với lia.
1.1.3.3. Những hạn chế của lý thuyết ngang bằng sức mua
Lý thuyết ngang bằng sức mua là mô hình đơn giản nhất cho biết tỷ giá hối
đoái danh nghĩa được xác định như thế nào. Lý thuyết này có thể giải thích tốt hiện
tượng kinh tế. Đặc biệt, nó giải thích các xu hướng dài hạn như sự xuống giá của đô
la so với mác Đức và sự lên giá của đô la so với đồng lia. Đồng thời, nó có thể lý giải
những thay đổi lớn trong tỷ giá hối đoái danh nghĩa xảy ra khi có siêu lạm phát.
Tuy nhiên, lý thuyết ngang bằng sức mua không hoàn toàn chính xác. Nghĩa là, tỷ giá
hối đoái luôn thay đổi để đảm bảo rằng 1 đô la luôn có giá trị thực tế như nhau ở tất
cả các nước. Có hai lý do khiến cho lý thuyết ngang bằng sức mua không phải lúc
nào cũng đúng trong thực tế.
Lý do thứ nhất là có rất nhiều mặt hàng khó đem ra trao đổi. Hãy tưởng tượng
ra rằng giá cắt tóc ở Pari cao hơn ở New York. Một số người có thể tránh cắt tóc ở
Pari và một số thợ cạo có thể chuyển từ Mỹ đến Pari. Nhưng những hành vi đó quá
+ Tỷ giá kì hạn: là một mức tỷ giá cố định sẽ được thực hiện trong 1 thời
điểm giới hạn, là loại tỷ giá mà các ngân hàng thương mại đưa ra nhằm kinh doanh
tiền tệ, xác định dựa vào tỷ giá của NHNN đưa ra. Tỷ giá này giúp các doanh
nghiệp kinh doanh XNK giới hạn được những rủi ro khi tỷ giá tăng lên hay xuống
thấp.
Trong kinh doanh hàng hóa quốc tế, các doanh nghiệp còn phải xem xét tỷ
giá
XK và tỷ giá NK:
Giá mua hàng hóa trong nước bằng nội tệ
Tỷ giá XK =
Giá XK hàng hoá đó bằng ngoại tệ
Giá bán hàng NK tại thị trường trong nước bằng nội tệ
Tỷ giá NK =
12
Giá NK hàng hóa đó bằng ngoại tệ
1.3. Các chế độ tỷ giá
1.3.1. Tỷ giá hối đoái cố định
Tỷ giá được quản lí cố định trong một thời gian nhất định không biến động
theo thị trường nhằm thực hiện những mục tiêu của Chính phủ. Ngày nay, chế độ
quản lí này không còn phù hợp với yêu cầu thực tế nữa, nhưng vẫn được xem như
là chế độ nhằm quản lí tỷ giá theo hướng ổn định trong một khoảng thời gian nhất
định khi có những biến cố xảy ra.
1.3.2. Tỷ giá hối đoái thả nổi hoàn toàn
Đây là loại chế độ mà tỷ giá hoàn toàn xác lập theo quan hệ cung cầu ngoại
tệ trên thị trường. Chính phủ hoàn toàn không có bất kỳ tác động hoặc cam kết gì
về việc điều tiết tỷ giá. Giá của một đồng tiền nội tệ đối với một đồng tiền ngoại
tệ được xác định tại điểm mà cung ngang bằng cầu. Khi XK tăng hoặc luồng vốn
đầu tư nước ngoài tăng lên sẽ làm tăng cung ngoại tệ, đồng tiền ngoại tệ giảm giá và
ngược lại.
Trong đó:
- TGGDTT: Tỷ giá giao dịch thị trường.
- X%: là biên độ mà ngân hàng nhà nước công bố. Biên độ giao dịch hiện nay
là +_1% áp dụng từ ngày 11/02/2011, ngay sau khi có quyết định giảm biên độ tỷ giá
từ +_3% xuống +_1%.
- Tỷ giá chính thức: là tỷ giá bình quân trên thị tường liên ngân hàng của
ngày giao dịch gần nhất trước đó do ngân hàng nhà nước công bố.
1.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái
1.4.1. Cán cân thanh toán quốc tế
Tất cả những giao dịch giữa một quốc gia với quốc gia còn lại trên thế giới
được thể hiện thông qua sự chuyển dịch hàng hóa, di chuyển của thu nhập, những
luồng vốn đầu tư được ghi trong một bảng cân đối kế toán gọi là cán cân thanh toán
quốc tế. Như vậy, có thể đưa ra khái niệm cán cân thanh toán quốc tế là: bảng cân
đối kế toán ghi chép toàn bộ các giao dịch dưới hình thức giá trị giữa một quốc
gia với các quốc gia khác trên thế giới trong một khoảng thời gian nhất định, thường
là một năm.
Nhân tố này tác động trực tiếp đến quan hệ cung cầu ngoại tệ, thông qua đó
tác động tới tỷ giá. Khi cán cân thanh toán quốc tế bội thu, theo tác động của quy
luật cung cầu ngoại tệ sẽ làm cho đồng ngoại tệ mất giá, đồng nội tệ lên giá.
Ngược lại, khi cán cân thanh toán quốc tế bội chi sẽ làm cho đồng ngoại tệ lên
14
giá, đồng nội tệ mất giá. Làm tỷ giá thay đổi.
Về cơ bản Cán cân Thanh toán bao gồm những hạng mục sau:
I. Tài khoản vãng lai
1. Cán cân thương mại
2. Cán cân dịch vụ
3. Cán cân thu nhập
4. Kiều hối và các khoản chuyển nhượng khác
II. Tài khoản vốn
1. Đầu tư trực tiếp (FDI)
Lãi suất là giá cả thuê vốn trên thị trường. Lãi suất có tác động rất lớn đến tỷ
giá hối đoái. Thật vậy, nếu lãi suất trong nước cao hơn lãi suất ngoại tệ hay lãi suất
trên thị trường quốc tế, điều này sẽ thu hút những dòng vốn trên thị trường quốc
tế chảy vào trong nước hay sẽ làm gia tăng sự chuyển hóa lượng ngoại tệ trong
nước sang đồng nội tệ để hưởng lãi suất cao. Kết quả là, cung ngoại tệ trên thị
trường trong nước tăng lên, từ đó làm cho đồng ngoại tệ có xu hướng giảm giá hay
đồng nội tệ lên giá. Ngược lại, nếu lãi suất trong nước thấp hơn lãi suất ngoại tệ
hay lãi suất trên thị trường quốc tế thì sẽ làm cho đồng ngoại tệ lên giá và đồng nội
tệ mất giá.
1.4.3.2. Dài hạn
Trong dài hạn, TGHĐ thay đổi theo lý thuyết ngang giá lãi suất IRP
Ngay khi các áp lực của thị trường làm cho lãi suất và tỷ giá thay đổi thì hoạt
động kinh doanh chênh lệch lãi suất có phòng ngừa không còn khả thi nữa, chúng
sẽ ở vào một vị thế cân bằng gọi là ngang giá lãi suất.
Mối quan hệ giữa phần bù (hoặc chiết khấu) của ngoại tệ và chênh lệch lãi suất
theo IRP có thể được xác định như sau: Chúng ta hãy xem xét trường hợp một nhà
đầu tư Việt Nam.
Thực hiện kinh doanh chênh lệch lãi suất có phòng ngừa, tỷ suất sinh lợi từ
hoạt động này được xác định như sau:
A
h
: Số lượng đồng bản tệ đầu tư ban đầu.
S
t
: Tỷ giá giao ngay của đồng bản tệ.
i
f
: Lãi suất tiền gửi ở nước ngoài.
16
F
(1+p)] = A
h
(1+i
f
)(1+p)
Gọi r
f
là tỷ suất sinh lợi từ đầu tư này như sau:
A
n
- A
h
r
f =
A
h
[ A
h
(1+i
f
)(1+p)] - A
h
r
f =
A
h
r
f =
(1+i
hưởng đến các chỉ số về tốc độ tăng trưởng kinh tế, lạm phát, bội chi ngân sách …
Tất cả đều gây ảnh hưởng đến sự thay đổi tỷ giá hối đoái.
Đối với các nền kinh tế áp dụng chế độ tỷ giá giới hạn biên độ giao động
thì ngân hàng trung ương thực hiện điều chỉnh tăng hoặc giảm biên độ giao dịch
theo một tỷ lệ nhất định so với tỷ giá chính thức.
Phá giá đồng tiền: Đây là giải pháp mang tính tình thế của ngân hàng trung
17
ương nhằm giảm giá trị đồng nội tệ, cải thiện sức cạnh tranh của hàng hóa XK.
Phá giá đồng tiền thường gây tiêu cực đối với thị trường ngoại hối. Kinh nghiệm cho
thấy biện pháp này chỉ thành công khi mà nền kinh tế có tiềm năng kinh tế vững
chắc.
Nâng giá đồng tiền: Theo kinh nghiệm phát triển quốc tế biện pháp này chỉ
thực hiện khi:
• Giá hàng hóa và dịch vụ XK được đánh giá là thấp hơn giá trên thị trường thế
giới.
• Hạn chế XK nhằm cân bằng thương mại quốc tế tránh được sức ép của các nước
khác trong thương mại mậu dịch quốc tế.
•
Tăng khả năng NK và kiềm chế lạm phát.
Yếu tố tâm lý:
Yếu tố tâm lý được thể hiện bằng sự phán đoán của thị trường về các sự
kiện kinh tế, chính trị… từ những sự kiện này, người ta dự đoán chiều hướng phát
triển của thị trường và thực hiện những hành động đầu tư về ngoại hối làm cho tỷ
giá có thể đột biến tăng, giảm trên thị trường.
1.5. Hợp đồng kỳ hạn và các công cụ phái sinh
1.5.1. Hợp đồng kỳ hạn
Giao dịch ngoại tệ kỳ hạn (forward) là giao dịch mua hoặc bán ngoại tệ mà
việc chuyển giao ngoại tệ được thực hiện sau một thời hạn nhất định kể từ khi
thỏa thuận hợp đồng. Lý do xuất hiện loại giao dịch này là để cung cấp phương tiện
phòng ngừa rủi ro hối đoái, tức là rủi ro phát sinh do sự biến động bất thường của tỷ
VND khiến nhà NK lo ngại, nhưng sự lên giá của ngoại tệ vẫn được Ngân hàng
Nhà nước giữ ở mức có thể kiểm soát được nên nhà NK vẫn chưa thực sự cần giao
dịch kỳ hạn để quản lý rủi ro tỷ giá. Tuy nhiên, trong tương lai khi Việt Nam gia
nhập WTO và dần dần hội nhập tài chính với quốc tế thì Ngân hàng Nhà nước sẽ
bớt dần can thiệp vào thị trường ngoại hối, khi ấy rủi ro tỷ giá đáng lo ngại và nhu
cầu giao dịch hối đoái kỳ hạn sẽ gia tăng. Do vậy, các ngân hàng và công ty XNK nên làm
quen với loại giao dịch này càng sớm càng tốt.
Giao dịch ngoại tệ kỳ hạn thoả mãn được nhu cầu mua bán ngoại tệ của
khách hàng mà việc chuyển giao được thực hiện trong tương lai. Tuy nhiên, do
giao dịch kỳ hạn là giao dịch bắt buộc nên khi đến ngày đáo hạn dù bất lợi hai bên
vẫn phải thực hiện hợp đồng.
19
Một điểm hạn chế nữa là hợp đồng kỳ hạn chỉ đáp ứng được nhu cầu khi
nào khách hàng chỉ cần mua hoặc bán ngoại tệ trong tương lai còn ở hiện tại không
có nhu cầu mua hoặc bán ngoại tệ. Đôi khi trên thực tế, khách hàng vừa có nhu
cầu mua bán ngoại tệ ở hiện tại đồng thời vừa có nhu cầu mua bán ngoại tệ ở trong
tương lai. Chẳng hạn, một nhà XNK hiện tại cần VND để thanh toán các khoản chi
tiêu trong nước nhưng đồng thời cần ngoại tệ để thanh toán hợp đồng NK ba tháng
nữa sẽ đến hạn. Đáp ứng nhu cầu này, nhà XNK có thể liên hệ với ngân hàng thực
hiện hai giao dịch:
• Bán ngoại tệ giao ngay để lấy VND chi tiêu trong nước
• Mua ngoại tệ kỳ hạn để ba tháng sau có ngoại tệ thanh toán hợp đồng NK
đến hạn.
Trong hai giao dịch trên, giao dịch thứ nhất là giao dịch hối đoái giao ngay,
giao dịch thứ hai là giao dịch hối đoái kỳ hạn. Rõ ràng trong tình huống này chỉ với
giao dịch hối đoái giao ngay hay chỉ với giao dịch hối đoái kỳ hạn chưa thể đáp ứng
được nhu cầu giao dịch của khách hàng, mà phải kết hợp cả hai loại giao dịch này
lại với nhau mới đáp ứng được nhu cầu của khách hàng. Sự kết hợp này hình
thành nên một loại giao dịch mới, đó là giao dịch hoán đổi.
1.5.2. Hợp đồng hoán đổi
thực tế.
Điều kiện thực hiện – Giao dịch hoán đổi áp dụng đối với khách hàng có
đủ các điều kiện sau: (1) có giấy phép kinh doanh, (2) xuất trình các
chứng từ chứng minh nhu cầu sử dụng ngoại tệ, (3) mở tài khoản ngoại
tệ và tài khoản VND ở ngân hàng, (4) trả phí giao dịch theo qui định, (5)
duy trì một tỷ lệ đặt cọc tối đa không quá 5% trị giá hợp đồng để bảo
đảm việc thực hiện hợp đồng, và (6) ký hợp đồng giao dịch hoán đổi với
ngân hàng.
Ngày thanh toán – Trong giao dịch hoán đổi, ngày thanh toán bao gồm
hai loại ngày khác nhau: ngày hiệu lực và ngày đáo hạn. Ngày hiệu lực là
ngày thực hiện thanh toán giao dịch giao ngay trong khi ngày đáo hạn là
ngày thực hiện thanh toán giao dịch có kỳ hạn.
Xách định tỷ giá hoán đổi – Một hợp đồng hoán đổi liên quan đến hai loại
tỷ giá: tỷ giá giao ngay và tỷ giá có kỳ hạn. Tỷ giá giao ngay là tỷ giá
do ngân hàng niêm yết tại thời điểm giao dịch do hai bên thoả thuận. Tỷ
21