LỜI NÓI ĐẦU
Kể từ năm 1986 đến nay, nền kinh tế Việt Nam đã bước sang một
hướng mới đó là chuyển từ nền kinh tế với cơ chế quản lí tập trung sang cơ
chế thị trường có sự điều tiết và quản lí của Nhà nước. Trong bối cảnh kinh
tế như vậy, các doanh nghiệp muốn đứng vững và phát triển cần phải nắm
bắt được thị trường, tạo chỗ đứng cho sản phẩm của mình trong thị trường.
Đối với một doanh nghiệp, điểm mấu chốt giành thắng lợi trong cạnh tranh
đó là chất lượng và giá cả sản phẩm. Trước yêu cầu đó đòi hỏi doanh nghiệp
không những phải sản xuất ra những sản phẩm có chất lượng cao mà giá cả
của sản phẩm phải hợp lí. Sản phẩm có chất lượng tốt, giá thành hạ sẽ là một
tiền đề thích hợp giúp doanh nghiệp tăng doanh thu, tăng vòng quay của vốn
và đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp để từ đó doanh nghiệp mở rộng và
phát triển sản xuất.
Như vậy, sự tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp phụ thuộc vào
nhiều yếu tố trong đó có việc xử lí giá linh hoạt, biết tính toán chi phí, biết
khai thác các tiềm năng sẵn có của mình để giảm chi phí góp phần hạ giá
thành sản phẩm cũng là một điều kiện tiên quyết. Tổ chức tốt công tác hạch
toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm sẽ đảm bảo xác định đúng
nội dung, pham vi của chi phí sản xuất tính đúng, tính đủ giá thành sản
phẩm, nhất là trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay cạnh tranh diễn ra
rất gay gắt, việc phấn đấu hạ giá thành, nâng cao chất lượng sản phẩm luôn
là mục tiêu hàng đầu.
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề trên, với mong muốn được
góp phần hoàn thiện công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành
sản phẩm, đồng thời qua quá trình thực tập và tiếp cận thực tế công tác kế
toán tại công ty cổ phần Sản xuất và xuất nhập khẩu Thành Công , em đã
chọn đề tài luận văn tốt nghiệp “ Hoàn thiện công tác hạch toán chi phí
1
sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty cổ phần sản xuất và xuất
nhập khẩu Thành Công ”.
Phương pháp nghiên cứu của luận văn này là dựa trên cơ sở lí luận và
Như vậy, CPSX là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các hao phí về lao động
sống và lao động vật hoá mà doanh nghiệp đã bỏ ra có liên quan đến hoạt động
sản xuất kinh doanh. Trong một thời kỳ nhất định (tháng, quý, năm,.) chi phí
sản xuất phát sinh thường xuyên trong suốt quá trình tồn tại và hoạt động của
doanh nghiệp.
1.1.1.2 Phân loại chi phí sản xuất.
* Phân loại CPSX theo mục đích và công dụng kinh tế.
Theo cách phân loại này chi phí quản lý của Doanh nghiệp bao gồm :
-Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: là toàn bộ chi phí NVL được sử dụng trực
tiếp cho quá trình sản xuất chế tạo sản phẩm, lao vụ, dịch vụ.
-Chi phí nhân công trực tiếp: bao gồm tiền lương và các khoản phải trả trực
tiếp cho công nhân sản xuất, các khoản trích theo lương của công nhân sản xuất
như KPCĐ,BHXH,BHYT....
3
-Chi phí sản xuất chung: là các khoản CPSX liên quan đến việc phục vụ và
quản lý SX trong phân xưởng, đội SX. CPSXC bao gồm các yếu tố khấu hao
TSCĐ, chi phí dịch vụ mua ngoài,chi phí bàng tiền khác.
* Phân loại chi phí sản xuất theo nội dung ,tính chất kinh tế của chi phí -Chi
phí nguyên liệu và vật liệu: bao gồm gía mua ,chi phí mua của NVL dùng vào
hoạt động SXKD.
-Chi phí nhân công: là các khoản chi phí của tiền lương phải trả cho người
lao động, các khoản trích BHXH, BHYT, KPCĐ theo tiền lương của người lao
động.
-Chi phí khấu hao máy móc, thiết bị: bao gồm khấu hao của tất cả TSCĐ
dùng vào hoạt động SXKD trong kỳ của Doanh nghiệp.
-Chi phí dch vụ mua ngoài: là số tiền phải trả cho các dịch vụ mua ngoài
phục vụ cho các hoạt động SXKD của Doanh nghiệp.
-Chi phí khác bằng tiền: là các khoản chi phí bằng tiền phát sinh trong quá
trình SXKD ngoài các yếu tố chi phí nói trên.
Tác dụng của cách phân loại này: cho biết nội dung, kết cấu tỷ trọng từng
giá trị thực của các tư liệu sản xuất tiêu dùng cho sản xuất và các khoản chi tiêu
khác có liên quan tới việc bù đắp giản đơn hao phí, lao động sống. Kết quả thu
được là sản phẩm, công việc lao vụ đã hoàn thành đánh giá được mức độ bù đắp
chi phí và hiệu quả của chi phí.
1.1.2.2. Phân loại giá thành sản phẩm
* Phân loại gía thành xét theo thời điểm tính và nguồn số liệu để tính giá
thành.- Giá thành kế hoạch: Là GTSP được tính trên cơ sở CPSX kế hoạch và sản
lượng kế hoạch. Giá thành kế hoạch được xác định trước khi bước vào sản xuất
trên cơ sở giá thành thực tế kỳ trước và các định mức các dự toán chi phí của kỳ
5
kế hoạch. Gía thành kế hoạch được coi là mục tiêu phấn đấu của DN để tiết kiệm
CPSX, hạ GTSP của doanh nghiệp.
- Giá thành định mức: Là GTSP được tính trên cơ sở các định mức chi phí
hiện hành tại từng thời điểm nhất định trong kỳ kế hoạch và chỉ tính cho đơn vị
sản phẩm. Giá thành định mức cũng được xác định trước khi bắt đầu sản xuất sản
phẩm và là công cụ quản lý định mức của DN là thước đo chính xác để xác định
kết quả sử dụng vật tư, tài sản lao động trong sản xuất.
- Giá thành thực tế: Là GTSP được tính trên cơ sở số liệu chi phí thực tế
phát sinh tổng hợp trong kỳ và sản lượng sản phẩm đã sản xuất trong kỳ. Sau khi
đã hoàn thành việc sản xuất sản phẩm dịch vụ và được tính toán cho cả chỉ tiêu
tổng giá thành và giá thành đơn vị thực tế, là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh
kết quả phấn đấu của doanh nghiệp.
* Phân loại gía thành theo phạm vi chi phí tronh giá thành:
- Giá thành sản xuất toàn bộ : là loại giá thành mà trong đó bao gồm toàn
bộ biến phí và định phí thuộc CPNVLTT, PNCTT, CPSXC tính cho sản phẩm
hoàn thành.
-Giá thành sản xuất theo biến phí : là loại giá thành trong đó gồm biến phí
thuộc CPNVLTT, CPNCTT, CPSXC tính cho sản phẩm hoàn thành .
- Giá thành sản xuất có phân bổ hợp lý định phí sản xuất : là loại giá thành
trong đó bao gồm toàn bộ biến phí sản xuất tính cho sản phẩm sản xuất hoàn
phát sinh trong kỳ
Chi phí sản
suất dở dang cuối kỳ
Như vậy, CPSX là cơ sở để xây dựng GTSP còn giá thành là cơ sở để xây
dựng giá bán. Trong điều kiện nếu giá bán không thay đổi thì sự tiết kiệm hoặc
lãng phí của doanh nghiệp về CPSX có ảnh hưởng trực tiếp đến giá thành thấp
hoặc cao từ đó sẽ tác động tới lợi nhuận của doanh nghiệp. Do đó tiết kiệm chi
phí, hạ thấp giá thành là nhiệm vụ quan trọng và thường xuyên của công tác quản
lý kinh tế. Nó giúp cho doanh nghiệp cạnh tranh có hiệu quả trên thị trường.
1.2. Tổ chức kế toán tập hợp chi phí sản xuất trong các doanh nghiệp
sản xuất.
1.2.1.Đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất.
7
- Đối tượng tập hợp CPSX là phạm vi giới hạn mà CPSX cần phải tập hợp
nhằm đáp ứng yêu cầu kiểm tra giám sát chi phí và yêu cầu tính GTSP.
- Thực chất của việc xác định đối tượng kế toán tập hợp CPSX là xác định
nơi phát sinh chi phí và nơi gánh chịu chi phí làm cơ sở cho việc tính GTSP. Xác
định đối tượng tập hợp chi phí cần căn cứ vào các yếu tố sau:
+Căn cứ vào đặc điểm, công dụng của chi phí sản xuất
+ Căn cứ cơ cấu tổ chức sản xuất, các mục tiêu yêu cầu, trình độ quản lý sản
xuất kinh doanh, yêu cầu hạch toán của doanh
+Căn cứ vào quy trình công nghệ và đặc điểm sản phẩm
Xác định đối tượng CPSX một cách khoa học hợp lý là cơ sở để tổ chức kế
toán CPSX, từ việc tổ chức hạch toán ban đầu đến tổ chức tổng hợp số liệu,ghi
chép trên tài khoản, sổ chi tiết CPSX...
Các chi phí phát sinh, sau khi tập hợp xác định theo các đối tượng kế toán
CPSX sẽ là cơ sở để tính GTSP, dịch vụ theo đối tượng đã xác định.
1.2.2. Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất.
-Phương pháp tập hợp chi phí trực tiếp được áp dụng khi chi phí phát sinh
được xác định cụ thể cho từng đối tượng chịu chi phí(cho từng sản phẩm,giai
1.2.3.2. Kế toán chi phí nhân công trực tiếp.
CPNCTT là khoản thù lao lao động phải trả cho lao động trực tiếp sản xuất
sản phẩm, trực tiếp thực hiện các lao vụ, dịch vụ như tiền lương chính, lương phụ
và các khoản phụ cấp có tính chất lương (phụ cấp khu vực, đắt đỏ, độc hại, phụ
cấp làm đêm, thêm giờ…). Ngoài ra, CPNCTT còn bao gồm các khoản đóng góp
cho các quỹ BHXH, BHYT, KPCĐ do chủ sử dụng lao động chịu và được tính
vào chi phí kinh doanh theo một tỉ lệ nhất định với tiền lương phát sinh của công
nhân sản xuất.
CPCNTT thường là các khoản chi phí trực tiếp nên nó được tập hợp trực tiếp
vào đối tượng tập hợp chi phí liên quan. Trong trường hợp không tập hợp trực
tiếp được thì CPNCTT cũng được tập hợp chung, sau đó kế toán sẽ phân bổ cho
từng đối tượng theo một tiêu chuẩn phân bổ hợp lý. Các tiêu chuẩn thường được
sử dụng để phân bổ CPNCTT là : Chi phí tiền lương định mức (hoặc kế hoạch),
giờ công định mức, giờ công thực tế, khối lượng sản phẩm sản xuất ra ...
Để kế toán CPNCTT, kế toán sử dụng TK 622 – Chi phí nhân công trực tiếp
(Phụ lục 2).
1.2.3.3. Kế toán chi phí sản xuất chung.
CPSXC là những khoản CP cần thiết khác phục cụ cho quá trình sản xuất sản
phẩm phát sinh ở các phân xưởng, bộ phận sản xuất. CPSXC bao gồm: CP nhân
9
viên phân xưởng; chi phí vật liệu; chi phí dụng cụ sản xuất; chi phí khấu hao
TSCĐ; chi phí dịch vụ mua ngoài; chi phí khác bằng tiền.
Việc tính toán xác định CPSXC phải căn cứ vào mức công suất hoạt động
thực tế của phân xưởng:
- CPSXC cố định được phân bổ vào chi phí chế biến cho mỗi đơn vị sản
phẩm được dựa trên công suất bình thường của máy móc sản xuất. Nếu mức sản
phẩm thực tế sản xuất cao hơn công suất bình thường thì CPSXC cố định phân bổ
theo CP thực tế phát sinh. Nếu mức sản phẩm thực tế sản xuất thấp hơn công suất
bình thường thì chỉ được phân bổ theo mức công suất bình thường, phần CPSXC
không phân bổ được ghi nhận là CPKD trong kỳ.
+ Đánh giá sản phẩm dở dang theo CPSX định mức.
1.3.1. Đánh giá sản phẩm dở dang theo chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp
Trị giá SPDD cuối kỳ chỉ tính phần chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp
dùng cho sản xuất SPDD , các chi phí chế biến (CPNCTT,CPSXC) tính toàn bộ
cho sản phẩm hoàn thành trong kỳ.
Công thức tính:
Trong đó:
- DCK, DĐK: Chi phí sản xuất của SPDD cuối kỳ và đầu kỳ.
- Cv: Chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp phát sinh trong kỳ.
- Qht, Qdck: Sản lượng SP hoàn thành và sản lượng SPDD cuối kỳ.
Công thức này được áp dụng trong trường hợp chi phí nguyên, vật liệu trực
tiếp được bỏ vào ngay từ đầu của quy trình công nghệ sản xuất. Trong trường hợp
11
DCK
DĐK + Cv
Qht+ Qdck
Qdck
=
X
chi phí vật liệu phụ trực tiếp bỏ dần vào quá trình sản xuất thì trị giá sản phẩm
làm dở chỉ tính theo CPNVL chính trực tiếp (nếu bỏ vào từ đầu quá trình sản
xuất)
Đối với doanh nghiệp có quy trình công nghệ sản xuất phức tạp kiểu liên
tục, gồm nhiều giai đoạn công nghệ kế tiếp theo một trình tự nhất định, sản phẩm
hoàn thành của giai đoạn trước là đối tượng chế tạo của giai đoạn sau thì trị giá
SPDD ở giai đoạn đầu tính theo chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, còn trị giá
SPDD ở giai đoạn sau được tính theo giá thành NTP của giai đoạn trước đó
chuyển sang.
- Ưu điểm: Tính toán đơn giản, khối lượng tính toán ít
- Nhược điểm: Độ chính xác không cao bởi CPSX tính cho trị giá sản phẩm
là KLHTTD và m% là mức độ chế biến hoàn thành.
1.3.3. Đánh giá SPDD cuối kỳ theo CPSX định mức.
CPSX làm dở cuối
kỳ
=
CPSX định mức ở từng
công đoạn
X
Số lượng SP làm dở ở công
đoạn đó.
1.4. Tổ chức công tác tính GTSP trong doanh nghiệp sản xuất.
1.4.1. Đối tượng tính giá thành.
Đối tượng tính giá thành là các sản phẩm, công việc, lao vụ, dịch vụ mà DN
sản xuất hoàn thành đòi hỏi phải tính tổng giá thành và giá thành đơn vị.
Để xác định đối tượng tính giá thành cần phải căn cứ vào đặc điểm tổ chức sản
xuất, quản lý sản xuất, quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm, khả năng và yêu cầu
quản lý cũng như tính chất của từng loại sản phẩm cụ thể.
Mặt khác, khi xác định đối tượng tính giá thành còn phải căn cứ vào quy
trình công nghệ sản xuất của doanh nghiệp. Nếu quy trình sản xuất giản đơn thì
đối tượng tính giá thành là loại sản phẩm hoàn thành ở cuối quy trình công nghệ.
Nếu quy trình sản xuất phức tạp liên tục thì đối tượng tính giá thành có thể là
NTP ở từng giai đoạn và thành phẩm ở giai đoạn cuối cùng đã hoàn thành.
1.4.2. Kỳ tính giá thành.
Kỳ tính giá thành là khoảng thời gian nhất định mà sau đó kế toán cần phải
tiến hành tính giá thành cho các đối tượng tính giá thành.
Kỳ tính giá thành có thể là tháng, quý, năm....phù hợp với kỳ báo cáo,loại
hình tổ chức doanh nghiệp.
1.4.3. Phương pháp tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp sản
xuất.
13
hoặc chỉ là thành phẩm cuối cùng.
*Phương pháp tính GTSP có tính giá thành NTP.
Đối tượng tính giá thành là các NTP của giai đoạn cuối cùng.
Trình tự tính giá thành:(Z
Ni
là giá thành NTP giai đoạn i)
+Giai đoạn 1: Z
N1
= D
dk1
+ C
1
– D
ck1
NTP giai đoạn 1 chủ yếu chuyển sang giai đoạn 2 tiếp tục chế biến, ngoài ra
có thể bán nửa thành phẩm ra bên ngoài hay nhập kho nửa thành phẩm.
+Giai đoạn 2: Nhận NTP của giai đoạn 1 chuyển sang tiếp tục chế biến tạo ra
NTP giai đoạn 2: Z
N2
= D
dk2
+ Z
N1
+ C
2
– D
ck2
14
Trong đó C
2
itp
là chi phí giai đoạn công nghệ i tính trong giá tành thành
phẩm.
+ C
i
là chi phí phát sinh trong kỳ của giai đoạn công nghệ i.
+ Q
tp
khối lượng thành phẩm giai đoạn cuối cùng.
+D
dki
,Q
di
là chi phí dở dang đầu kỳ và KLSPDD cuối kỳ của giai
đoạn công nghệ i.
CHƯƠNG II
15
THỰC TRẠNG KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ
THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XUẤT NHẬP KHẨU
THÀNH CÔNG.
2.1. Đặc điểm tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh.
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty Thành Công.
Công ty Cổ phần SX và XNK Thành Công là Công ty chuyên sản xuất Cầu
Lông. Công ty giữ vai trò quan trọng trong ngành thể dục thể thao và chiếm vị thế
quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, bởi sản phẩm có chất lượng cao mà giá cả
phù hợp ,chính sản phẩm có chất lượng cao đã giúp Công ty đứng vững trên thị
trường cạnh tranh trong nước và ngoài nước.
Tên Công ty: Cổ phần Sản xuất- Xuất Nhập Khẩu Thành Công.
Địa chỉ : Cụm công nghiệp số 2- Dĩnh Kế - TP Bắc Giang.
Công ty Cổ phần sản xuất và xuất nhập khẩu Thành Công là một doanh
vừa và nhỏ. Vì vậy để phù hợp với cơ cấu, nhiệm vụ sản xuất, trình độ trang bị
thiết bị, máy móc và để đảm bảo sản xuất có hiệu quả nhất, bộ máy quản lý công
ty được tổ chức theo mô hình trực tuyến, quản lý gọn nhẹ, theo chế độ một thủ
trưởng, đứng đầu là Giám đốc công ty.
Giám đốc là người có quyền lãnh đạo cao nhất, chỉ đạo và đề xuất các chiến
lược kinh doanh, chịu trách nhiệm trước Nhà nước cũng như toàn thể cán bộ công
nhân viên về hoạt động kinh doanh của công ty. Giúp việc cho Giám đốc là một phó
Giám đốc, một kế toán trưởng và hai trưởng phòng: Trưởng phòng kinh doanh, trưởng
phòng hành chính.
Hệ thống phòng ban chức năng của công ty như sau:
- Phòng tổ chức hành chính: Làm công tác tham mưu giúp việc cho Giám
đốc trong việc tổ chức các công việc có liên quan đến quản lý cán bộ, công nhân
viên, quản lý lao động, sắp xếp nhân sự, đề bạt, đào tạo cán bộ, nâng bậc thợ, ra
17
các quyết định khen thưởng kỷ luật, chịu trách nhiệm về các thủ tục hành chính..
Đồng thời, phòng có nhiệm vụ tính lương, tiền thưởng cho cán bộ công nhân viên
toàn doanh nghiệp, phụ trách bảo hiểm, an toàn lao động, vệ sinh công cộng…
Ngoài ra, phòng tổ chức hành chính có nhiệm vụ lưu trữ cung cấp hồ sơ, văn bản
giấy tờ, bảo vệ tài sản của công ty.
- Phòng kinh doanh: Là phòng có nhiệm vụ nghiên cứu thị trường cả đầu
vào và đầu ra, cụ thể là cung ứng vật tư đầu vào cho quá trình sản xuất được tiến
hành liên tục, làm công tác tiếp thị khai thác thị trường, chịu trách nhiệm về chính
sách bán hàng đồng thời kế hợp với phòng tài chính kế toán và phòng kế hoạch
sản xuất đề ra phương án giá
- Phòng tài chính kế toán: thực hiện hạch toán các nghiệp vụ tài chính của
công ty, huy động vốn phục vụ cho sản xuất kinh doanh, xác định kết quả kinh
doanh, thanh toán các khoản nợ, tổng hợp, lập báo cáo kế toán định kỳ và quyết
toán năm, tư vấn cho ban giám đốc khi đưa ra quyết định liên quan đến tình hình
sản xuất kinh doanh của công ty.
-Phân xưởng sản xuất: bao gồm các tổ sản xuất, thực hiện quá trình sản
khác với công nhân viên.
- Kế toán tài sản cố định, thành phẩm tiêu thụ: có nhiệm vụ hạch toán
TSCĐ, theo dõi và ghi sổ quá trình tăng giảm tài sản cố định, tính và trích khấu
hao trong kỳ. Đồng thời hạch toán chi tiết và tổng hợp chi phí phát sinh trong kỳ.
Ngoài ra, còn có nhiệm vụ hạch toán chi tiết tổng hợp sản phẩm hoàn thành nhập
kho, tiêu thụ và tồn kho thành phẩm, xác định doanh thu, kết quả tiêu thụ, theo
dõi bán hàng. Giúp kế toán trưởng trong công tác chỉ đạo, làm công tác tổng hợp
ghi sổ cái, lập báo cáo kế toán, phân tích kinh tế, bảo quản lưu trữ hồ sơ.
- Thủ quỹ: Theo dõi thu chi tại quỹ và tài khoản của ngân hàng
- Nhân viên thông kê: có nhiệm vụ thu thập tài liệu, chứng từ ban đầu, trên
cơ sở đó bộ phận kế toán trực tiếp xử lý.
19
2.3. Thực trạng công tác kế toán tập hợp CPSXvà tính GTSP tại Công ty
Cổ phần SX và XNK Thành Công.
2.3.1. Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất.
Thực tế tại Công ty thể thao Thành Công cho thấy công ty sản xuất sản phẩm là
cầu lông với qui trình công nghệ kiểu liên tục và phải trải qua nhiều công đoạn (phân
xưởng) chế biến mới tạo ra thành phẩm. Xuất phát từ đặc điểm sản xuất đó và để phù hợp
với yêu cầu quản lý của công ty, kế toán chi phí của công ty đã xác định đối tượng tập
hợp CPSX tại công ty là từng phân xưởng (bộ phận) đối với chi phí nguyên, vật liệu trực
tiếp và chi phí nhân công trực tiếp ,còn đối với chi phí sản xuất chung thì kế toán tập hợp
toàn công ty sau đó phân bổ cho từng loại sản phẩm theo chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.
2.3.2. Đặc điểm phân loại chi phí sản xuất tại Công ty.
Công ty Cổ phần SX và XNK Thành Công là một công ty vừa sản xuất ra sản
phẩm, vừa là nơi tiêu thụ sản phẩm chính, vì thế nên kế toán tập hợpCPSX ở Công ty
được áp dụng theo phương pháp KKTX để hạch toán. Các tài khoản sử dụng để tập hợp
CPSX là:
- TK 621 : Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.
- TK 622 : Chi phí nhân công trực tiếp.
- TK 627 : Chi phí sản xuất chung.
Hàng ngày căn cứ vào phiếu xuất kho vật tư, kế toán giá thành tiến hành
vào sổ nhật ký chứng từ, sau đó căn cứ số liệu ghi sổ nhật ký chứng từ để ghi vào
sổ cái TK621 đồng thời ghi vào bảng tổng hợp chi tiết các TK6211 chi phí
nguyên vật liệu lông cầu trực tiếp, sổ chi tiết TK 6212 chi phí nguyên vật liệu xốp
chun trực tiếp, sổ chi tiết TK 6213 chi phí nguyên vật liệu keo dính trực tiếp theo
tổng hợp đồng sản xuất.
- Phương pháp kế toán.
21
Công ty tính giá vốn NVL xuất kho theo phương pháp bình quân gia quyền:
Giá thực tế xuất
kho
= Số lượng xuất khoX Đơn giá bình quân gia
quyền
Đơn giá Giá thực tế tồn đầu kỳ+Giá thực tế nhập trong kỳ
bình quân =
gia quyền Số lượng tồn đầu kỳ+Số lượng nhập trong kỳ
Công thức này đã được cài sẵn trong phần mềm kế toán , kế toán chỉ việc nhập số
lượng xuất vào là máy sẽ tự động tính toán và hiện ra đơn giá bình quân và thành tiền cho
lô hàng đó.
Để đảm bảo cho tiến trình sản xuất, việc xuất dùng NVL được tiến hành thường
xuyên khi có nhu cầu.
Ví dụ: Căn cứ vào phiếu xuất kho số 1742 (phu luc10) và phiếu xuất kho số
1753 (phu luc11), phiếu xuất kho số 1762 ( phu luc12 ), xuất nguyên liệu trực tiếp
dùng để sản xuất cầu lông, kế toán giá thành tiến hành ghi sổ chi tiết TK621 (Phụ
lục)
Nợ TK 621 1.780.316.812
-TK 6211 1.000.644.863
-TK 6212 750.000.000
- TK 6213 29.671.949
Có TK 152 1.780.316.812
Cách tính lương của công nhân sản xuất như sau:
Trong đó :
+ Lương sản phẩm= Số sản phẩm qui đổi * Đơn giá sản phẩm
Lương tháng
của công nhân
trực tiếp sản
xuất
=
Lương sản
phẩm
+
Lương
thưởng
+
Phụ
cấp
+
Lương thời
gian
23
Đơn giá sản phẩm ở mỗi phân xưởng khác nhau thì khác nhau do tính chất
công việc không giống nhau và được phòng kế hoạch, phòng kế toán thực hiện
tính toán.
+ Lương thưởng= Lương sản phẩm * Hệ số thưởng
Đối với lao động trực tiếp sản xuất được chia thành các mức thưởng sau:
Loại A: thưởng bằng 65% lương sản phẩm
Loại B: thưởng bằng 50% lương sản phẩm
Loại C: thưởng bằng 45% lương sản phẩm
+ Lương thời gian: là những ngày công nhân trực tiếp ngừng việc, chờ
việc do máy hỏng phải sửa chữa nhỏ hoặc chờ làm thử, ngoài ra những ngày công
Tiền lương
thời gian
=
Số ngày công thực tế làm việc
được hưởng lương thời gian
x
Đơn giá lương
thời gian
Chị Nguyễn Thu Hương:
- Lương cơ bản: 650.000 * 1,4 = 910.000
- Lương sản phẩm: = 636.540
- Lương thưởng: 636.540 * 0,65 = 413.751
( theo quy định của công ty, mức lương sản phẩm lớn hơn 500.000 đông
đạt chuẩn thưởng loại A).
- Phụ cấp độc hại: 5% lương sản phẩm = 31.827
- Lương thời gian: = 13.182
Như vậy tổng lương của chị Hương tháng 2/2009 là:
636.540 +413.751 + 31.872 + 13.182 = 1.095.300 (đồng)
Chị hương phải đóng BHXH = 5% * 910.000 = 45.500
BHYT = 1% * 910.000 = 9.100
Vậy tiền lương thực lĩnh của chị Hương là:
1.095.300 – 45.500– 9.100= 1.040.700 (đồng)
* Trình tự kế toán
Hàng tháng căn cứ vào bảng thanh toán lương của các phân xưởng và bảng
phân bổ tiền lương BHXH, kế toán tiến hành ghi sổ Nhật kí chứng từ.
Ví dụ: Căn cứ bảng thanh toán lương và bảo hiểm (phụ lục 14), căn cứ
bảng phân bổ tiến lương tháng 2/2009 (phụ lục 15) kế toán ghi sổ Nhật kí chứng
từ theo định khoản:
Nợ TK622: 81.751.049
Chi tiết: Nợ TK622 (Tổ vi tính chế bản): 10.766.361