LỜI NÓI ĐẦU.
Trên thế giới, ở các quốc gia có nền thị trường phát triển, phá sản được coi
là hiện tượng bình thường ở bất kì doanh nghiệp nào đang hoạt động. Hiện nay,
trong nền kinh tế thị trường của Việt Nam, hiện tượng này cũng đang dần trở nên
phổ biến. Đây là xu thế tất yếu, khách quan của quá trình cạnh tranh, quá trình đào
thải và sự chọn lọc tự nhiên: các chủ thể làm ăn thua lỗ, kém hiệu quả tất yếu phải
chấm dứt sự tồn tại của mình qua việc bị tuyên bố phá sản và đương nhiên, chỉ có
các chủ thể kinh doanh hoạt động thực sự có hiệu quả mới có thể tiếp tục tồn tại
trong nền kinh tế thị trường ngày nay. Phá sản đã góp phần làm lành mạnh hóa thị
trường, cơ cấu lại nền kinh tế, làm cho kinh tế thị trường trở nên đúng với bản chất
của nó hơn. Tuy nhiên phá sản là một vấn đề từ lý luận đến thực tiễn là một quá
trình tìm hiểu và nghiên cứu bởi khi một doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản nó sẽ
ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế và đặc biệt là quyền lợi của người lao động ít
nhiều sẽ bị xáo trộn như tiền lương, các chế độ, việc làm và các vấn đề tiêu cực
phát sinh và các khoản nợ của doanh nghiệp và hợp tác xã.
Khi một doanh nghiệp, hợp tác xã bị lâm vào tình trạng phá sản đã làm nảy
sinh nhiều mối quan hệ phức tạp cần được giải quyết. Chẳng những quan hệ nợ
nần giữa các chủ nợ với doanh nghiệp mắc nợ, quan hệ giữa doanh nghiệp mắc nợ
với người lao động do tình trạng mất khả năng thanh toán nợ gây ra. Vì vậy việc
giải quyết kịp thời các vấn đề đó có ý nghĩa rất quan trọng nhằm thiết lập một trật
tự cần thiết để thúc đẩy sự phát triển kinh tế đồng thời đảm bảo quyền chủ thể của
các mối quan hệ hay các bên liên quan.
Đối với nước ta việc phá sản vẫn là một vấn đề mới mẻ. Cho nên thực tiễn giải
quyết phá sản của nước ta trong thời gian qua còn gặp rất nhiều khó khăn, vướng
mắc. Vì vậy mà việc tìm hiểu về những việc làm của doanh nghiệp, hợp tác xã
trước khi lâm vào tình trạng phá sản là một vấn đề quá sâu rộng mà không thể nào
giải quyết ngay trong ngày một ngày hai được mà đó là cả một quá trình nghiên
cứu, tìm tòi và đưa ra những giải pháp hữu hiệu nhất để các doanh nghiệp có thêm
nhiều cơ hội cải thiện tình hình của doanh nghiệp mình, đưa doanh nghiệp mình
thoát khỏi tình trạng đứng trước nguy cơ phá sản, giúp họ lập lại cân bằng, đưa
doanh nghiệp đi vào hoạt động bình thường trở lại. Chính vì thế mà luật phá sản
hạn chế, chưa phản ánh đúng bản chất của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá
sản. Bởi vì, tại một thời điểm nào đó mà tổng giá trị tài sản còn lại của công ty
không đủ thanh toán tổng số các khoản nợ đến hạn được thì chưa chắc doanh
nghiệp đã rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán nợ ví dụ như trường hợp chủ
nợ thực hiện việc hoãn nợ, xóa nợ cho doanh nghiệp hoặc có người bảo lãnh cho
doanh nghiệp đó.
Trước nhu cầu ngày càng cấp thiết của tình hình phá sản của nhiều donh
nghiệp trong nước, Luật phá sản 1993 ra đời,đã có những quy định mới mẻ hơn,
phần nào khắc phục được những hạn chế trong luật công ty và luật doanh nghiệp.
Tại Điều 2 luật phá sản 1993 quy định: “Doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản
là doanh nghiệp gặp khó khăn hoặc bị thua lỗ trong hoạt động kinh doanh sau khi
áp dụng các biện pháp tài chính cần thiết mà mất khả năng thanh toán các khoản
1
Đại học Luật Hà Nội, giáo trình Luật thương mại tập II, nxb công an nhân dân, trang 335.
nợ đến hạn” và tại Điều 3 nghị định 189/1994/NĐ-CP hướng dẫn thi hành luật phá
sản đã cụ thể hóa như sau:
1- Doanh nghiệp được coi là có dấu hiệu lâm vào tình trạng phá sản nói tại
Điều 2 của Luật Phá sản doanh nghiệp, nếu kinh doanh bị thua lỗ trong hai năm
liên tiếp đến mức không trả được các khoản nợ đến hạn, không trả đủ lương cho
người lao động theo thoả ước lao động và hợp đồng lao động trong ba tháng liên
tiếp.
2- Khi xuất hiện dấu hiệu lâm vào tình trạng phá sản như nói tại Khoản 1 Điều
này, doanh nghiệp phải áp dụng các biện pháp tài chính cần thiết như sau để khắc
phục tình trạng mất khả năng thanh toán nợ đến hạn:
Có phương án tổ chức lại sản xuất kinh doanh, quản lý chặt chẽ các khoản
chi phí, tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm;
Có biện pháp xử lý hàng hoá, sản phẩm, vật tư tồn đọng;
sự phá sản trên thực tế, nó chỉ bị xem là phá sản khi đã tiến hành thủ tục phá sản.
Thủ tục phục hồi doanh nghiệp của doanh nghiệp lâm vào tình trạng
phá sản:
Thực chất của vấn đề phá sản chính là những vấn đề liên quan đến thủ tục
phá sản và thủ tục thanh lý nợ của doanh nghiệp. Như vậy, chúng ta cần phân biệt
thủ tục phục hồi của doanh nghiệp trong trường hợp này khác với thủ tục phục hồi
khi doanh nghiệp tự phục hồi,sắp xếp lại hoạt động sản xuất kinh doanh của mình.
Doanh nghiệp tự phục hồi hoạt động kinh doanh của mình khi nó gặp khó
khăn,thua lỗ trong kinh doanh nhưng chưa có ai yêu cầu mở thủ tục phá sản. So
sánh với quá trình phục hồi đó, chúng ta thấy rằng thủ tục phục hồi hoạt động kinh
doanh cua doanh nghiệp khi lâm vào tình trạng phá sản có những đặc trưng cơ
bản: ”Qúa trình phục hồi này là giải pháp tổ chức sản xuất là việc làm bị động của
các doanh nghiệp khi lâm vào tình trạng phá sản_Đây là thủ tục tư pháp”.
1.1.2. Tính chất của thủ tục phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá
sản:
Tính đặc thù của thủ tục phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản là
nó chỉ là một thủ tục tư pháp. Trên thực tế thì cũng có nhiều doanh nghiệp gặp
không ít khó khăn hoặc làm ăn thua lỗ. Nhất là sau khi Việt Nam gia nhập WTO,
khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp ngày càng mãnh liệt hơn. Để có thể
đứng vững hơn trong môi trường cạnh tranh mới này,các doanh nghiệp đã chủ
động thực hiện việc tổ chức lại hoạt động sản xuất kinh doanh hay tự phục hồi
hoạt động của mình. Nó hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của chủ doanh nghiệp.
Khác với quá trình tự phục hồi, tục phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình
trạng phá sản là một thủ tục mang tính chất tư pháp sau khi tòa án mở thủ tục giải
quyết yêu cầu phá sản doanh nghiệp, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền chủ trì
chứ không phải là việc doanh nghiệp tự chủ động phục hồi. Và việc phục hồi chỉ
được thực hiện khi doanh nghiệp đáp ứng được những yêu cầu do pháp luật quy
định, nội dung, thủ tục xem xét thông qua và thời hạn phục hồi phải tuân theo quy
định của pháp luật. Và quan trọng hơn cả là thủ tục phục hồi này được đặt dưới sự
giám sát của tòa án, các chủ nợ và doanh nghiệp phải chịu những hậu quả pháp lý
của Hội nghị chủ nợ lần thứ nhất. Tại điểm d, khoản 1, Điều 64 Luật Phá sản qui
định: “Hội nghị chủ nợ thông qua Nghị quyết. Nghị quyết được lập thành văn bản
và phải được nửa số chủ nợ không có bảo đảm có mặt tại HNCN đại diện cho từ
hai phần ba tổng số nợ không có bảo đảm trở lên thông qua Nghị quyết của Hội
nghị chủ nợ có hiệu lực ràng buộc tất cả các chủ nợ”. Ngoài ra, các trường hợp
thanh lý tài sản được Luật Phá sản qui định tại các điều: Điều 78 (trường hợp đặc
biệt), Điều 79 (Hội nghị chủ nợ không thành) và Điều 80 (Sau khi có Nghị quyết
Hội nghị chủ nợ lần thứ nhất thông qua các giải pháp dự kiến tổ chức lại, kế hoạch
thanh toán nợ) nhưng doanh nghiệp không xây dựng được kế hoạch chính thức.
Tuy nhiên, thực tế xuất hiện trường hợp tại Hội nghị chủ nợ lần thứ nhất
mà doanh nghiệp, HTX lâm vào tình trạng phá sản không lập (do không có chủ
trương lập) phương án, giải pháp tổ chức lại hoạt động kinh doanh để trình Hội
nghị chủ nợ lần thứ nhất. Vậy trong trường hợp này Thẩm phán có ra quyết định
thanh lý tài sản không? Nếu ra quyết định thanh lý tài sản thì căn cứ điều nào
trong Luật phá sản để ra quyết định? Phải chăng Luật đã không quy định điều kiện
để ra quyết định thanh lý tài sản của doanh nghiệp, HTX trong trường hợp nêu
trên. Về vấn đề này hiện có hai quan điểm:
Quan điểm thứ nhất cho rằng, theo điểm d, Khoản 1 Điều 64 Luật Phá sản
2004 thì nếu tại Hội nghị chủ nợ lần thứ nhất, doanh nghiệp, HTX lâm vào tình
trạng phá sản không có dự kiến, không lập phương án, giải pháp tổ chức lại hoạt
động kinh doanh để trình Hội nghị chủ nợ thì Hội nghị chủ nợ vẫn ra Nghị quyết
về việc thanh lý tài sản. Thẩm phán căn cứ vào Nghị quyết này ra quyết định thanh
lý tài sản.
Quan điểm thứ hai cho rằng, vì thủ tục thanh lý tài sản quy định tại các
Điều 78, 79 và 80 của Luật phá sản không quy định điều kiện để ra quyết định
thanh lý tài sản của doanh nghiệp, HTX trong trường hợp nêu trên, nên Thẩm
phán cần tổ chức lại Hội nghị chủ nợ lần thứ hai và tiếp tục yêu cầu doanh nghiệp,
HTX lâm vào tình trạng phá sản phải có dự kiến, lập phương án, đề ra giải pháp
Hội nghị chủ nợ lần thứ nhất được tổ chức thành.
-
Hội nghị chủ nợ lần thứ nhất thong qua nghị quyết đồng ý với các giải pháp
tổ chức lại hoạt động kinh doanh, kế hoạch thanh toán nợ cho các chủ nợ và
yêu cầu doanh nghiệp, hợp tác xã phải xây dựng phương án phục hồi hoạt
động kinh doanh.
Tuy nhiên,vấn đề đặt ra ở đây là “phải chăng trách nhiệm phục hồi hoạt động
kinh doanh hoàn toàn thuộc về trách nhiệm của chính doanh nghiệp đó???” Nhằm
tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nhanh chóng phục hồi lại hoạt động,đưa doanh
nghiệp thoát khỏi tình trạng khủng hoảng, pháp luật phá sản đã có những quy định
rất cụ thể về vấn đề này. Để mở rộng hơn nữa chủ thể có khả năng tham gia vào
việc xây dựng dự thảo phương án phục hồi hoạt động kinh doanh cho doanh
nghiệp, hợp tác xã nhằm nâng cao khả năng cứu vớt doanh nghiệp, hợp tác xã khỏi
khả năng thanh toán các khoản nợ. Luật phá sản cho phép doanh nghiệp hoặc bất
kì chủ nợ hoặc người nào nhận nghĩa vụ phục vụ hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp, hợp tác xã đều có quyền xây dựng những phương án phục hồi hoạt động
kinh doanh cho doanh nghiệp và nộp cho tòa án trong thời hạn quy định. Quy định
này cũng phù hợp với xu hướng của các nước tiến bộ trên thế giới như Pháp, Mỹ,
Đức,…
=> Theo xu hướng này thì khả năng phục hồi lại hoạt động của các doanh nghiệp
là rất cao, bởi lẽ nó tạo nhiều ràng buộc hơn đối với tất cả các chủ thể có vốn góp
vào doanh nghiệp cũng như những người lao động có tâm huyết muốn gắn bó với
doanh nghiệp. Làm tăng vai trò, trách nhiệm của các chủ thể quản lý và chủ thể
góp vốn vào doanh nghiệp.
phục hồi và bị tòa án tuyên là phá sản thì các chủ nợ có bảo đảm là người được ưu
tiên trong việc thanh toán các khoản nợ đến hạn => Họ mong muốn các doanh
nghiệp, hợp tác xã hoàn trả khoản nợ của mình càng sớm càng tốt,tránh tình trạng
“đêm dài lắm mộng”. Nếu kéo dài hơn nữa thì họ sẽ có khả năng bị mất trắng.
Trong khi đó, vấn đề này lại mang ý nghĩa sống còn đối với các chủ nợ
không có bảo đảm. Nếu phương án phục hồi kinh doanh của doanh nghiệp, hợp
tác xã có tính khả thi mà hội nghị chủ nợ vẫn không thông qua thì cơ hội cứu vớt
doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản không còn và các chủ nợ
không có bảo đảm không có khả năng thu hồi các khoản nợ của mình. Ngược lại,
trong trường hợp phương án phục hồi kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã có
tính khả thi không cao mà hội nghị chủ nợ vẫn thông qua thì khả năng thu hồi vốn
của các chủ nợ càng thấp. Vì vậy, việc thông qua hay không thông qua phương án
phục hồi kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản cần
được các chủ nợ không có bảo đảm xem xét, đánh giá và đưa ra những phương án
tối ưu nhất.
Sau khi nghị quyết về phương án phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp được thông qua, thẩm phán phải ra quyết định công nhận nghị quyết
đó.Nghị quyết này có hiệu lực với tất cả các bên có liên quan.
1.2.4. Thực hiện phương án phục hồi hoạt động kinh doanh:
1.2.4.1 Giám sát thực hiện phương án phục hồi:
Sau khi thẩm phán ra quyết định công nhận nghị quyết của hội nghị chủ nợ
về phương án phục hồi hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp sẽ bắt tay vào việc
thực hiện dự án đó. Đó cũng là thời điểm mà tổ quản lý, thanh lý tài sản giải thể.
Phương án phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã do doanh
nghiệp, hợp tác xã tự tiến hành với cơ chế giám sát thích hợp. Cứ sáu tháng một
lần, doanh nghiệp, hợp tác xã phải gửi cho Toà án báo cáo về tình hình thực hiện
phương án phục hồi hoạt động kinh doanh ở doanh nghiệp, hợp tác xã. Ngoài ra
chủ nợ cũng có nghĩa vụ giám sát việc thực hiện phương án phục hồi hoạt động
1.2.5. Đình chỉ thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh:
1.2.5.1. Các trường hợp tiến hành đình chỉ thủ tục phục hồi kinh doanh:
Theo quy định tại Điều 76 luật phá sản 2004 Thẩm phán ra quyết định đình
chỉ thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình
trạng phá sản nếu có một trong các trường hợp sau đây:
o Doanh nghiệp, hợp tác xã đã thực hiện xong phương án phục hồi
hoạt động kinh doanh;
o Được quá nửa số phiếu của các chủ nợ không có bảo đảm đại diện cho từ
hai phần ba tổng số nợ không có bảo đảm trở lên chưa thanh toán đồng ý
đình chỉ.
Quy định trên của pháp luật là hoàn toàn phù hợp với thực tiễn thi hành. Bởi lẽ
khi thực hiện xong phương án phục hồi hoạt động kinh doanh đồng nghĩa với
việc doanh nghiệp đã hoàn thành nhiệm vụ của mình. Trong trường hợp này, sự
công nhận của tòa án bằng quyết định đình chỉ thủ tục phục hồi hoạt động kinh
doanh là vấn đề tất yếu và cần thiết cho các doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào
tình trạng phá sản. Không những thế, tòa án còn phải ra quyết định đình chỉ thủ
tục phục hồi khi có nửa số phiếu của các chủ nợ không có bảo đảm đại diện cho
từ hai phần ba tổng số nợ không có bảo đảm trở lên chưa thanh toán đồng ý
đình chỉ. Sở dĩ pháp luật có quy định này nhằm bảo vệ quyền lợi cho các chủ
nợ không có bảo đảm, nhưng khi bắt tay vào thực hiện phương án có thể vì lý
do khách quan nào đó mà họ cho rằng phương án phục hồi sẽ không mang lại
lợi ích gì cho họ và họ đi đén quyêt định này. Dường như ý định này cũng có
phần nào phán ánh độ tin cậy về khả năng thanh toán của doanh nghiệp, hợp tác
xã mà các chủ nợ không có bảo đảm đã dành cho họ khi đồng ý đình chỉ thủ tục
phục hồi hoạt đông của doing nghiệp, hợp tác xã.
Tòa án phải gửi và thông báo công khai quyết định đình chỉ thủ tục phục hồi
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã theo quy định tại Điều 29 Luật
phá sản:
hồi hoạt động kinh doanh của Toà án giải quyết phá sản, Toà án đã ra quyết định
đình chỉ giải quyết vụ án theo điểm g khoản 1 Điều 192 của BLTTDS đương
nhiên phải khôi phục lại vụ án và tiếp tục giải quyết vụ án mà không cần làm lại
thủ tục thụ lý vụ án. Nguyên đơn không phải làm lại thủ tục khởi kiện và cũng
không phải nộp tiền tạm ứng án phí sơ thẩm.
Một số địa phương khác cho rằng, sau khi đã có quyết định đình chỉ giải
quyết vụ án, muốn được Toà án giải quyết lại vụ án đó thì nguyên đơn phải làm
đơn khởi kiện lại theo quy định tại khoản 1 Điều 193 BLTTDS và phải làm lại thủ
tục thụ lý vụ án như một vụ án mới, trong đó có việc phải nộp lại tiền tạm ứng án
phí sơ thẩm (tạm ứng án phí sơ thẩm lần trước đã bị nộp vào công quỹ Nhà nước
theo quy định tại khoản 2 Điều 193 BLTTDS). 2
2. Chế định pháp luật về thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của một số
quốc gia trên thế giới:
2.1. Pháp luật về thủ tục phục hồi doanh nghiệp ở Nhật Bản
Luật phá sản của Nhật Bản gồm hai thủ tục chính là thủ tục thanh lý tài sản và thủ
tục phục hồi. Trong đó, thủ tục thanh lý tài sản bao gồm: Phá sản; Thanh lý đặc
biệt và Thoả hiệp. Theo thủ tục này thì toàn bộ tài sản của công ty được chuyển
thành tiền mặt và thanh toán cho các chủ nợ, chấm dứt sự hoạt động cũng như
2
Thực trang về vấn đề phá sản và hoàn thiện môi trường pháp luật kinh doanh tại Việt
Nam, do PGS. TS. Dương Đăng Huệ; Ths. Nguyễn Thanh Tịnh chủ biên.
chấm dứt sự tồn tại của công ty. Thủ tục phục hồi bao gồm: Tổ chức lại công ty
(tái thiết công ty), Phục hồi dân sự và Sắp xếp công ty.
o Tổ chức lại công ty
Thủ tục này chỉ áp dụng cho những công ty lớn, công ty tài chính, bảo
Trong thời hạn một năm kể từ ngày Toà án mở thủ tục tái thiết công ty,
phương án tái thiết công ty phải hoàn thành và nếu chưa hoàn thành thì được gia
hạn thêm một năm nữa. Phương án này do hội nghị chủ nợ có bảo đảm và hội nghị
chủ nợ không có bảo đảm thông qua. Trên thực tế thì chỉ tiến hành một hội nghị
chủ nợ, nhưng phát hành hai lá phiếu khác nhau cho hai loại chủ nợ. Phải có trên
2/3 chủ nợ không có bảo đảm và 3/4 chủ nợ có bảo đảm tán thành thì phương án
tái thiết được thông qua. Phương án giảm nợ phải có 4/5 chủ nợ có bảo đảm thông
qua. Mặc dù luật quy định phương án tái thiết được xây dựng trong vòng hai năm,
nhưng trên thực tế nó được thực hiện một cách khẩn trương, chỉ trong vòng một
năm hoặc ít hơn. Khi phương án tái thiết được thông qua thì công ty được coi như
một công ty bình thường khác, Luật sư được chỉ định làm người quản lý tài sản ở
lại công ty với vai trò là người tư vấn giám sát hoạt động của công ty. Nếu thấy
phương án tái thiết đã thực hiện được từ 70% đến 80% thì Toà án sẽ chấm dứt vai
trò giám sát của họ (cũng là chấm dứt sự giám sát của Toà án).
Trên thực tế, ở Nhật Bản chưa có một công ty nào được tái thiết lại lâm vào
tình trạng phá sản. Tuy nhiên, về mặt lý thuyết thì công ty tái thiết hoàn toàn có
thể lại lâm vào tình trạng phá sản. Trong trường hợp này, quyền lợi của các chủ nợ
mới đã giúp công ty tái thiết sẽ được giải quyết như thế nào? Ở Nhật Bản chưa có
quy định về vấn đề này, ở Mỹ thì quy định rõ trong trường hợp này chủ nợ mới sẽ
phải được ưu tiên hàng đầu.
o Thủ tục phục hồi dân sự
Cũng tương tự như thủ tục tổ chức lại công ty, thủ tục phục hồi dân sự cũng nhằm
bảo đảm cho doanh nghiệp mắc nợ tiếp tục kinh doanh, tạo cơ hội cho doanh
nghiệp mắc nợ phục hồi kinh tế sau khi gặp khó khăn về tài chính chứ không phải
là thanh toán nó.
Tuy nhiên, nếu thủ tục tổ chức lại công ty chỉ áp dụng cho những công ty lớn thì
thủ tục phục hồi dân sự được áp dụng cho cả cá nhân kinh doanh và pháp nhân
vừa và nhỏ. Pháp nhân không chỉ bao gồm các công ty kinh doanh mà còn bao
hồi dân sự không bị hạn chế, còn ở thủ tục tổ chức lại công ty thì bị đình
chỉ.
Trong trường hợp chủ nợ có bảo đảm không đồng ý tạm thời dừng quyền của
mình đối với tài sản thế chấp (ví dụ: chủ nợ có bảo đảm vẫn muốn bán nhà xưởng
là tài sản thế chấp của người mắc nợ), thì doanh nghiệp mắc nợ không thể tiếp tục
kinh doanh được nữa, do đó tùy theo quan hệ với chủ nợ mà công ty sẽ lựa chọn
tái thiết công ty hoặc phục hồi dân sự.
o Thủ tục sắp xếp công ty
Thủ tục này về bản chất cũng là thủ tục phục hồi lại công ty nhưng được giải quyết
ngoài Toà án. Thủ tục này tiết kiệm thời gian và chi phí tố tụng, nên cũng được
nhiều công ty áp dụng. Đặc điểm căn bản của thủ tục này là phương án sắp xếp lại
công ty cần phải được hội nghị chủ nợ thông qua, doanh nghiệp mắc nợ sẽ gặp
từng chủ nợ để thỏa thuận việc sắp xếp lại công ty (hoãn nợ, mức trả nợ, cách thức
trả nợ, bỏ bớt lĩnh vực kinh doanh không có lãi…). Trong thủ tục này, pháp luật có
quy định cho phép sự can thiệp cần thiết của Toà án đối với những chủ nợ có bảo
đảm nếu muốn bán tài sản thế chấp thì Toà án sẽ ra lệnh ngăn chặn. Tuy nhiên, sự
can thiệp của Toà án là rất hạn chế.
=> Như vậy, để giải quyết tình trạng một doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, pháp
luật Nhật Bản có rất nhiều hình thức tuỳ thuộc vào thực trạng cụ thể của doanh
nghiệp đó.
2.2. Pháp luật về thủ tục phục hồi doanh nghiệp ở Pháp
Quy định của pháp luật hiện đại về phá sản của Pháp được đưa ra trong các
luật năm 1955, năm 1967. Hiện tại, việc giải quyết phá sản ở Pháp được quy định
tại Luật ngày 25-01-1985 (được sửa đổi theo Luật Phá sản ngày 20-10-1994). Một
trong những đặc trưng của pháp luật phá sản hiện đại của Pháp là khuyến khích sự
sống sót của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản. Pháp luật cũng phân biệt rõ
các quyền yêu cầu Toà án tuyên bố phá sản và sự phân biệt thứ tự ưu tiên các
quyền của chủ nợ đối với người mắc nợ. Pháp luật về phá sản của Pháp cũng quy
luật phá sản của Pháp. Nếu như trước năm 1994, mục tiêu của pháp luật phá sản
“hướng vào người mắc nợ” rất rõ nét với quan điểm rõ ràng là trong tình trạng thất
nghiệp cao, khả năng về việc làm và sản xuất phải được đảm bảo bằng mọi biện
pháp thì Luật Phá sản sửa đổi năm 1994 đã làm giảm nhẹ mục tiêu hướng vào
người mắc nợ, tăng quyền hạn của các chủ nợ và nâng cao tính hiệu quả của quá
trình tổ chức lại doanh nghiệp.
Khác với Luật Phá sản của Nhật Bản yêu cầu kế hoạch tổ chức lại doanh
nghiệp phải được một tỷ lệ nhất định các chủ nợ ở mỗi nhóm chủ nợ thông qua,
Luật Phá sản của Pháp cho phép Toà án quyết định chấp thuận hay từ chối kế
hoạch do người được Toà án chỉ định đưa ra mà không cần các chủ nợ lớn phải
thông qua. Người được Toà án chỉ định có trách nhiệm tư vấn cho các nhà quản lý
doanh nghiệp, những người đại diện cho người lao động, các chủ nợ của doanh
nghiệp và các cơ quan có liên quan khác và yêu cầu họ cho biết quan điểm của họ
là nên để doanh nghiệp tiếp tục tồn tại hay là thanh toán nó. Nhưng quyết định
cuối cùng lại do Toà án quyết định mà không cần sự đồng ý của các chủ nợ. Đây
là đặc điểm riêng của Luật Phá sản của Pháp.
2.3. Pháp luật về thủ tục phục hồi doanh nghiệp ở Liên bang Nga
Theo quy định của Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1992 của Liên bang
Nga thì tình trạng phá sản của doanh nghiệp được hiểu là việc mất khả năng đáp
ứng yêu cầu của chủ nợ về thanh toán hàng hóa (công việc, dịch vụ) kể cả việc
mất khả năng bảo đảm các thanh toán phải nộp ngân sách và các quỹ ngoài ngân
sách do nghĩa vụ của người mắc nợ vượt quá tài sản của mình hoặc do mất cân đối
trong cán cân thanh toán của người mắc nợ. Luật Phá sản doanh nghiệp của Liên
bang Nga quy định các thủ tục gồm: Thủ tục tổ chức lại và Thủ tục thanh lý.
Thủ tục thanh lý bao gồm: Giải thể bắt buộc doanh nghiệp mắc nợ theo
quyết định của Toà án trọng tài và Giải thể tự nguyện bởi doanh nghiệp bị phá sản
dưới sự kiểm soát của các chủ nợ.
Thủ tục tổ chức lại bao gồm việc quản lý tài sản của người mắc nợ và phục
hồi doanh nghiệp mắc nợ. Theo thủ tục tổ chức lại, chủ nợ, người mắc nợ và chủ
sở hữu người mắc nợ có thể nộp đơn yêu cầu quản lý tài sản người mắc nợ đến
+ Công nhận doanh nghiệp bị phá sản và tiến hành thủ tục phá sản đối với doanh
nghiệp;
+ Bác đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản vì doanh nghiệp có khả năng đáp ứng yêu
cầu của doanh nghiệp chủ nợ và có khả năng thanh toán các khoản nợ.
Nếu có đủ người thì những người tham gia phục hồi doanh nghiệp sẽ có
cuộc họp để đưa ra thoả hiệp. Bản thoả hiệp không được đưa ra yêu cầu buộc
doanh nghiệp mắc nợ chuyển giao tài sản cho người tham gia phục hồi. Những
người tham gia phục hồi phải cộng đồng trách nhiệm với doanh nghiệp bị phục
hồi.
Tuỳ tình hình cụ thể mà doanh nghiệp mắc nợ, chủ nợ, chủ sở hữu doanh
nghiệp mắc nợ có quyền làm đơn yêu cầu Toà án trọng tài ra một trong những
quyết định: công nhận doanh nghiệp đã được phục hồi và đình chỉ thủ tục phá sản;
chấm dứt phục hồi và tuyên bố doanh nghiệp bị phá sản;
Chương II/ Một số đề xuất hướng hoàn thiện thủ tục phục hồi hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản
2/ Về các quy định của Luật phá sản 2004 về thủ tục phục hồi doanh nghiệp
2.1. Các quy định về giảm nhẹ khó khăn tài chính cho doanh nghiệp trong
thời gian áp dụng thủ tục phục hồi doanh nghiệp
Nội dung của thủ tục phục hồi trong Luật phá sản 2004 có nhiều tiến bộ
hơn so với Luật phá sản doanh nghiệp 1993. Doanh nghiệp muốn hồi phục ngoài ý
chí chủ quan của các bên thể hiện trong phương án phục hồi hoạt động kinh doanh
cần có những điều kiện cần thiết về khả năng tài chính và có sự khuyến khích của
Nhà nước. Một trong những khuyến khích của Nhà nước có thể có ở đây là quy
định về việc giảm nhẹ khó khăn tài chính cho con nợ như giảm nợ, không tính lãi
đối với các khoản nợ nếu doanh nghiệp có phương án phục hồi hiệu quả nhằm
giảm nhẹ gánh nặng tài chính cho doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản. Tuy
chủ nợ (Khoản 4, Điều 61); doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản phải xây
dựng phương án phục hồi kinh doanh và nộp cho Toà án (Khoản 2, Điều 68);
Thẩm phán xem xét, đánh giá phương án phục hồi kinh doanh, ra quyết định (Điều
70); Thẩm phán triệu tập Hội nghị chủ nợ để xem xét, thông qua phương án phục
hồi (Khoản 1, Điều 71); Thẩm phán ra quyết định công nhận Nghị quyết của Hội
nghị chủ nợ về phương án phục hồi hoạt động kinh doanh của DN (Khoản 1, Điều
72)..., việc trao nhiều quyền cho Thẩm phán trong thủ tục phục hồi kinh doanh là
không đảm bảo được tính tự thoả thuận giữa các chủ nợ với doanh nghiệp, quyền
tự chủ định đoạt của các chủ nợ. Chẳng hạn như việc xem xét đánh giá, chấp nhận,
sửa đổi phương án phục hồi kinh doanh của doanh nghiệp là toàn quyền của Hội
nghị chủ nợ. Thẩm phán chỉ nên hỗ trợ về mặt thủ tục pháp lý trong phạm vi thẩm
quyền của mình; tiến hành giám sát, tránh sự gian lận; hạn chế can thiệp sâu vào
nội dung. Khi Hội nghị chủ nợ đã biểu quyết thông qua phương án phục hồi kinh
doanh của doanh nghiệp đúng trình tự, thủ tục pháp luật quy định thì Thẩm phán
có nghĩa vụ phải ra quyết định công nhận kế hoạch đó.
Bên cạnh đó, Luật Phá sản 2004 lại nặng về thủ tục tố tụng tại Toà án liên quan
đến phá sản doanh nghiệp mà chưa quy định những điều kiện, thủ tục khác nhằm
để phục hồi hay thanh lý tài sản. Chẳng hạn như các chủ nợ có thể chỉ định các
chuyên gia quản trị, quản tài viên giỏi để quản trị, điều hành doanh nghiệp nhằm
cứu vãn doanh nghiệp hoặc tối đa hoá tài sản doanh nghiệp, bảo vệ quyền lợi cho
các chủ nợ. Đây là những người rất quan trọng trong thủ tục phục hồi và phá sản
doanh nghiệp. Tuy vậy, cần phải tạo điều kiện cho đội ngũ này phát triển, thay vì
chỉ chú trọng thành lập tổ quản lý và chia tài sản như hiện nay. Điều này cũng phù
hợp với xu hướng khuyến khích hình thành các định chế để hỗ trợ hoạt động kinh
doanh hiện nay (như kiểm toán, tư vấn, luật sư, quản trị viên...), trong bối cảnh
công việc của các Toà án quá tải, đội ngũ thẩm phán về kinh doanh còn thiếu và
yếu, chưa có các Toà phá sản riêng trong hệ thống Toà án.3
3
Nguyễn Thị Thu Trang - Ban Pháp Chế VCC
có bảo đảm như chúng ta. Lý do chính có thể là, khả năng tham gia của các chủ nợ
có bảo đảm vào quá trình phục hồi vì trên thực tế các chủ nợ này có tiềm lực tài
chính đáng kể và có khả năng đóng góp có hiệu quả cho quá trình phục hồi doanh
nghiệp. Đây là vấn đề mà chúng ta cũng cần nghiên cứu và có thể có những điều
chỉnh thích hợp để bắt kịp xu hướng trong quá trình hội nhập quốc tế sau này.4
4
TS. Nguyễn Ngọc Thạch - Phục hồi Doanh nghiệp
Một vấn đề khác đã xảy ra trên thực tiễn thi hành luật phá sản của các nước và cần
được luật pháp xử lý thoả đáng là vấn đề chống việc sử dụng mánh khoé để tranh
thủ phiếu biểu quyết của những người có quan hệ gần gũi với con nợ, thậm chí là
bản thân giám đốc, cổ đông của con nợ trong trường hợp họ cũng đồng thời là chủ
nợ không có bảo đảm của doanh nghiệp. Có thể giải quyết vấn đề này bằng cách
trao cho Toà án không chỉ quyền công nhận Nghị quyết về phương án phục hồi mà
cho Toà án quyền loại bỏ số phiếu của những người có quan hệ gần gũi với con nợ
khi xem xét việc công nhận Nghị quyết về phương án phục hồi, nếu xét thấy nghị
quyết đi ngược lại lợi ích của những chủ nợ thực sự (là những người không thuộc
đối tượng nói trên).
2.6. Cần một hệ thống tư pháp đủ mạnh
Các biện pháp phục hồi doanh nghiệp hiệu quả như thế nào phụ thuộc nhiều
vào năng lực quản lý tài sản của đội ngũ thẩm phán tại các tòa. Khi thủ tục phá sản
được mở, thẩm phán sẽ là người trực tiếp giải quyết việc phá sản của các doanh
nghiệp làm ăn thua lỗ. Từ việc triệu tập, chủ trì, điều hành các cuộc họp của chủ
nợ, phê duyệt dự án tái cơ cấu, giám sát thực hiện, định giá tài sản cho đến xác
định các tài sản nợ của doanh nghiệp, Luật Phá sản đều quy định đội ngũ thẩm
phán phải thực hiện. Bởi thế, ngoài những yêu cầu về trình độ pháp lý, người thẩm
phán còn phải có trình độ hiểu biết về nhiều lĩnh vực kinh tế, đặc biệt là tài chính kế toán.
tuyên bố phá sản khá nhiều. Luật Phá sản năm 2004 đã được xây dựng theo hướng
là một công cụ nhằm phục hồi doanh nghiệp, tuy nhiên, trên thực tế, Luật vẫn
chưa phát huy được hiệu quả này. Trong tổng số 30 địa phương có báo cáo về Toà
án nhân dân tối cao thì chỉ có 01 vụ việc phá sản tại Toà án nhân dân tỉnh Lâm
Đồng được giải quyết với kết quả phục hồi doanh nghiệp (Xí nghiệp Dâu Tằm tơ
tháng
tám).
Nguyên nhân của vấn đề này có thể xét đến các quy định của Luật phá sản hiện
hành chưa phù hợp với nhu cầu của doanh nghiệp nhưng nguyên nhân chính vẫn
là từ chính các doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, do nhiều yếu tố chủ quan
và khách quan khác nhau, doanh nghiệp thường rất kín trong việc công bố hoạt
động sản xuất kinh doanh khi doanh nghiệp suy yếu hoặc doanh nghiệp cố gắng
tìm cách thóat khỏi phá sản một cách âm thầm bằng nhiều biện pháp khác nhau,
5
/>
một khi doanh nghiệp lâm vài tình trạng khánh kiệt, không thể cứu vãn được nữa
thì mới dám công bố đã lâm vào tình trạng phá sản, tình trạng này không phải
không có nguyên nhân của nó, bản chất của vấn đề bắt nguồn từ tâm lý chung của
những người chủ sở hữu doanh nghiệp, hầu như không ai muốn nhắc đến hai từ
“phá sản”, các chủ sở hữu lo ngại nếu doanh nghiệp của mình bị coi là phá sản
thì danh dự, uy tín bị ảnh hưởng, việc quản lý, điều hành yếu kém bị phơi
bày. Và cách thức mà họ lựa chọn là không tuyên bố phá sản mà tự mình tái
cơ cấu bằng cách cấp vốn bổ sung, hoãn nợ hoặc xóa nợ, phân tách, sáp nhập,
cho thuê, khoán… nhằm cố gắng thay đổi tình hình. Chính thái độ e dè này đã
khiến cho các doanh nghiệp tìm cách né tránh tối đa nếu đối mặt với phá sản, họ
không dám chủ động mở thủ tục phá sản ở giai đoạn cần thiết để sớm giải quyết
lạnh.
Tuy có mặt bằng rộng lớn và nhiều thiết bị sản xuất chế biến thực phẩm nhưng
làm ăn không hiệu quả nhiều năm, giám đốc cũ của công ty dính líu trong một vụ
án hình sự và bị truy tố trước pháp luật.
Tháng 5/1998 Công ty nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp theo chủ
trương của cơ quan chủ quản. Ngày 20/6/1998 Chánh Tòa Kinh tế TAND thành
phố Hồ Chí Minh ra quyết định mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản
doanh nghiệp đối với Công ty chế biến thực phẩm xuất khẩu Hùng Vương.
Sau quá trình xác minh, số liệu công nợ cụ thể như sau:
Tổng số nợ phải trả là 225.395.657.790 đồng
Tổng số nợ phải thu 1.867.329.793 đồng
Tổng giá trị tài sản 11.444.461.895 đồng
Mất khả năng thanh toán 202.540.804.052 đồng
Tuy nhiên, tài sản về nhà xưởng của công ty có một giá trị tiềm tàng nếu được hợp
thức hoá quyền sở hữu.
Đồng thời với việc nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp, Công ty cũng
xây dựng phương án hòa giải với các chủ nợ và các giải pháp tổ chức lại hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp.