ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRẦN THỊ THU HÀ NHỮNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ THỦ TỤC
PHỤC HỒI DOANH NGHIỆP LÂM VÀO TÌNH
TRẠNG PHÁ SẢN. THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
HOÀN THIỆN LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI – 2010
HÀ NỘI - 2010
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục MỞ ĐẦU
1
Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ THỦ TỤC PHỤC HỒI DOANH NGHIỆP
LÂM VÀO TÌNH TRẠNG PHÁ SẢN
6
19
1.4.
Quá trình hình thành và phát triển chế định pháp luật về thủ tục
phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản ở Việt Nam
22
1.5.
Pháp luật về thủ tục phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình
trạng phá sản của một số nước trên thế giới
23
1.5.1.
Thủ tục phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản
của Estonia
23
1.5.2.
Thủ tục phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản
của Hoa Kỳ
25
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ THỦ TỤC PHỤC HỒI
DOANH NGHIỆP LÂM VÀO TÌNH TRẠNG PHÁ SẢN
THEO LUẬT PHÁ SẢN VIỆT NAM 2004
26
2.1.
Thủ tục phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản
theo quy định của Luật phá sản năm 2004
26
2.1.1.
Nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản
38
2.1.3.2.
Thụ lý và thủ tục Tòa án
43
2.1.3.3.
Tổ chức quản lý tài sản
44
2.1.3.4.
Các hoạt động kinh doanh được pháp luật cho phép trong
quá trình thực hiện phương án phục hồi hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản
45
2.1.4.
Trình tự, thủ tục thực hiện phương án phục hồi hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản
46
2.1.4.1.
Điều kiện áp dụng thủ tục phục hồi
46
2.1.4.2.
Xem xét, thông qua phương án phục hồi
47
2.1.4.3.
Giám sát việc thực hiện phương án phục hồi
48
2.1.4.4.
2.2.2.
Hệ quả pháp lý của việc đình chỉ thủ tục phục hồi hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản
57
2.2.2.1.
Hệ quả đối với doanh nghiệp
57
2.2.2.2.
Hệ quả đối với các bên có liên quan
58
2.3.
Thực tiễn áp dụng pháp luật về phục hồi doanh nghiệp lâm
vào tình trạng phá sản
59
2.3.1.
Thực trạng áp dụng luật về phục hồi doanh nghiệp lâm vào
tình trạng phá sản ở Việt Nam
59
2.3.2.
Tình hình thụ lý, giải quyết yêu cầu mở thủ tục phục hồi
doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản
59
2.3.2.1.
Những ưu điểm của thủ tục phục hồi doanh nghiệp lâm vào
tình trạng phá sản theo luật phá sản 2004
63
2.3.2.2.
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Phá sản là một hiện tượng thường gặp trong nền kinh tế thị trường. vì
những lý do khác nhau doanh nghiệp lâm vào tình trạng không trả được nợ
đến hạn, lúc đó doanh nghiệp có nguy cơ bị quy luật thị trường đào thải bằng
con đường phá sản. Để cứu vãn doanh nghiệp trong những trường hợp này,
pháp luật về phá sản ở các nước nói chung thường quy định các biện pháp tổ
chức lại hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản.
Trình tự, thủ tục phục rồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản là
một bộ phận quan trọng trong trình tự, thủ tục phá sản doanh nghiệp được quy
định ở luật phá sản 2004. Thủ tục này nhằm tạo ra những điều kiện, cơ hội để
doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản có thể vượt qua được tình trạng mất
khả năng toán nợ đến hạn, tránh bị tuyên bố phá sản. Bên cạnh đó, nếu doanh
nghiệp phục hồi thành công còn có thể đảm bảo quyền, lợi ích cho chủ nợ và
những người liên quan; công ăn việc làm cho người lao động; duy trì ổn định,
trật tự xã hội từ đó làm lành mạnh hóa môi trường kinh doanh cho doanh nghiệp.
Quốc hội khóa IX thông qua Luật phá sản doanh nghiệp ngày
30/12/1993 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/07/1994 đã có quy định khá
chi tiết và tương đối đầy đủ nội dung thủ tục phục hồi nhằm cứu vãn doanh
nghiệp lâm vào tình trạng phá sản. Song trong 9 năm thực hiện Luật phá sản
doanh nghiệp nói chung và thủ tục phục hồi nói riêng đã thể hiện những bất
cập trong quá trình áp dụng cũng như việc phát huy hiệu quả của nó trên thực
tế khi thủ tục phục hồi được qui định như là một khâu của quá trình giải quyết
yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp.
Trước những yêu cầu đòi hỏi mới của nền kinh tế thị trường, việc
hoàn thiện khung pháp luật về phá sản nói chung và thủ tục phục hồi doanh
tốn. Đặc biệt, trong thời điểm hiện nay, khi Luật phá sản trong giai đoạn sửa
đổi bổ sung, cần có công trình nghiên cứu khoa học phân tích, đánh giá sâu
3
hơn về những quy định của thủ tục phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng
phá sản với tư cách là thủ tục độc lập.
3. Phƣơng pháp nghiên cứu đề tài
Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả đã sử dụng phương pháp luật
của chủ nghĩa Mác - Lênin, ngoài ra còn sử dụng một số phương pháp khoa
học khác như phân tích, so sánh tổng hợp Bên cạnh việc nghiên cứu các quy
định của pháp luật về phá sản Việt Nam, tác giả còn tham khảo những tài liệu
pháp luật về phá sản nước ngoài qui định về thủ tục phục hồi. Từ đó, có sự so
sánh, đối chiếu và đánh giá khách quan những quy định thủ tục phục hồi trong
Luật phá sản.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Mục đích nghiên cứu của luận văn phân tích đánh giá đúng thực trạng
pháp luật về thủ tục phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản. Từ đó,
đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện Luật phá sản.
Với mục đích đó đề tài có những nhiệm vụ sau:
- Làm rõ những vấn đề mang tính lý luận về thủ tục phục hồi doanh
nghiệp lâm vào tình trạng phá sản.
- Phân tích, đánh giá những quy định của pháp luật về thủ tục phục hồi
của Luật phá sản, từ đó nêu lên được những ưu điểm, tiến bộ cũng như những
hạn chế của các quy định đó.
- Đưa ra một số kiến nghị, phương hướng nhằm hoàn thiện Luật phá
sản 2004.
5. Phạm vi nghiên cứu đề tài
Phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản là thủ tục quan
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo,
nội dung của luận văn gồm 3 chương:
5
Chương 1: Khái quát về thủ tục phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình
trạng phá sản.
Chương 2: Thực trạng pháp luật về thủ tục phục hồi doanh nghiệp lâm
vào tình trạng phá sản theo luật phá sản năm Việt Nam 2004.
Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện thủ tục phục hồi doanh
nghiệp lâm vào tình trạng phá sản theo luật phá sản Việt Nam 2004. 6
khái niệm về phá sản doanh nghiệp tại thời điểm này chưa được đặt ra.
Luật doanh nghiệp tư nhân năm 1990 và luật công ty năm 1990 đã
bước đầu đề cập đến khái niệm doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản.
Theo Điều 24 - Luật công ty 1990: ''Công ty gặp khó khăn thua lỗ trong hoạt
động kinh doanh đến lúc tại một thời điểm tổng số các tài sản của công ty không
đủ để thanh toán tổng số các khoản nợ đến hạn là công ty lâm vào tình trạng
phá sản".
Định nghĩa này đã có điểm hạn chế rất lớn là chưa phản ánh được bản
chất của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản. Bởi vì, tại một thời điểm
nào đó mà tổng giá trị tài sản của công ty không đủ để thanh toán tổng số các
khoản nợ đến hạn nhưng chưa chắc doanh nghiệp đó đã rơi vào tình trạng mất
khả năng thanh toán nợ nếu như các chủ nợ thực hiện việc hoãn nợ, xóa nợ
cho doanh nghiệp hoặc có người mua nợ hoặc bảo lãnh cho doanh nghiệp.
Trong quá trình nghiên cứu để ngày càng hoàn thiện hơn về nhận thức
vấn đề phá sản doanh nghiệp, khắc phục những hạn chế trong Luật công ty
1990 và Luật doanh nghiệp tư nhân 1990. Luật phá sản doanh nghiệp 1993 là
đạo luật về phá sản đầu tiên của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã
đưa ra dấu hiệu mất khả năng thanh toán nợ đến hạn và nguyên nhân của việc
mất khả năng thanh toán, hành động của doanh nghiệp khi bị mất khả năng
thanh toán, làm cơ sở cho việc giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản.
Theo quy định tại Điều 2 - Luật phá sản doanh nghiệp Việt Nam 1993
thì doanh nghiệp bị lâm vào tình trạng phá sản phải thỏa mãn các dấu hiệu sau:
Thứ nhất: Doanh nghiệp gặp khó khăn hoặc bị thua lỗ trong hoạt động
kinh doanh.
Thứ hai: Doanh nghiệp bị mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn.
8
Thứ ba: Doanh nghiệp đã áp dụng các biện pháp tài chính cần thiết để
9
khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ yêu cầu". Như
vậy, để bị xem là lâm vào tình trạng phá sản, doanh nghiệp đồng thời phải hội
đủ hai điều kiện cơ bản là mất khả năng thanh toán nợ đến hạn và khi chủ nợ
chính thức yêu cầu thanh toán nợ mà doanh nghiệp không có khả năng trả
được các khoản nợ đó. Đây là một bước tiến lớn của pháp luật phá sản nước
ta và đã thể hiện sự can thiệp sớm của nhà nước vào hiện tượng phá sản.
Việc ghi nhận các vấn đề liên quan đến thủ tục phục hồi doanh nghiệp
lâm vào tình trạng phá sản và thủ tục thanh lý nợ của doanh nghiệp được quy
định từ Điều 13 đến Điều 94 của Luật phá sản năm 2004, Luật phá sản là luật
về thủ tục phục hồi hoặc thanh lý nợ của doanh nghiệp. Tuy nhiên, theo tinh
thần của Luật phá sản, các thủ tục phục hồi hoặc thanh lý nợ khác liên quan
tới quá trình phục hồi khi doanh nghiệp tự phục hồi, sắp xếp lại hoạt động sản
xuất kinh doanh của mình hoặc thủ tục thanh toán nợ trong tố tụng dân sự.
Tính chất đặc thù của thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản được nhìn nhận trong mối quan hệ
so sánh với quá trình phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khi
doanh nghiệp gặp khó khăn hoặc thua lỗ trong kinh doanh nhưng chưa bị yêu
cầu mở thủ tục phá sản. So sánh với quá trình tự phục hồi đó, thủ tục phục hồi
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản có sự khác
biệt cơ bản đó là: Quá trình tự phục hồi là giải pháp tổ chức sản xuất kinh
doanh được doanh nghiệp chủ động thực hiện, còn phục hồi hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản lại là thủ tục tư pháp.
Trong kinh doanh, vì nhiều nguyên nhân khác nhau, doanh nghiệp có
thể gặp khó khăn hoặc bị thua lỗ. Khi đó, để lành mạnh hóa hoạt động của doanh
nghiệp khỏi phải lâm vào tình trạng phá sản, chủ doanh nghiệp có thể thực hiện
việc tổ chức lại hoạt động kinh doanh hay nói cách khác tự phục hồi hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp mình. Quá trình phục hồi này hoàn toàn phụ
thuộc vào ý chí của chủ doanh nghiệp, họ tự quyết định có hay không thực hiện
11
Theo các quy định này, có thể nói các doanh nghiệp lâm vào tình
trạng phá sản hay những người nộp đơn đề nghị giải quyết phá sản doanh
nghiệp là rất khó có thể đưa vụ việc đến Tòa án. Dường như vào thời điểm
luật này được thông qua, việc phá sản doanh nghiệp còn quá mới mẻ và thực
sự có nhiều ý kiến khác nhau về các hậu quả của việc cho phép doanh nghiệp
lâm vào tình trạng phá sản được phá sản.
Ví dụ: Hậu quả mất việc làm của người lao động hay gây mất ổn định
các hoạt động của xã hội mà không có sự quan tâm thích đáng cho các doanh
nghiệp bị lâm vào tình trạng không thể hoạt động, không thể trả nợ, không
đem lại lợi nhuận cho chủ doanh nghiệp và xã hội song vẫn phải tồn tại. Các
điều kiện mà các quy định nói trên nêu ra cho việc có thể đưa việc phá sản
doanh nghiệp đến Tòa án, một mặt có thể quá muộn khi nhìn vào thời hạn hay
"Ba tháng liên tiếp không trả lương cho người lao động".
Và theo Điều 3 - Luật phá sản năm 2004 "Doanh nghiệp, hợp tác xã
không có khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu
cầu thì coi là lâm vào tình trạng phá sản". Như vậy, theo quy định này doanh
nghiệp mắc nợ chỉ cần mắc nợ chủ nợ với số tiền là 1.000 đồng và thời gian
quá hạn thanh toán là 10 ngày kể từ ngày chủ nợ gửi giấy đòi nợ thì được coi
như doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản. Nhưng với quy định này, có thể
sẽ khắc phục được tình trạng quá muộn để phục hồi hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp hay có điều kiện tốt hơn trong việc thanh toán cho các chủ nợ.
Đó là vì vào thời điểm khi phát hiện ra doanh nghiệp không có khả năng
thanh toán các khoản nợ đến hạn thì việc này có thể đưa ngay đến Tòa án, các
hoạt động và tài sản của doanh nghiệp sẽ được đặt dưới sự kiểm soát của Tòa
án và các chủ nợ. Khi đó cơ hội để thực hiện phương án phục hồi hoạt động
kinh doanh có thể được chấp nhận nếu có phương án phục hồi kịp thời được
các chủ nợ và Tòa án đồng ý thông qua.
Và vấn đề được thực hiện đầu tiên là chủ nợ sẽ phải đi kiện để đòi nợ theo thủ
13
tục bình thường và chờ khi nào giải quyết xong và xin thi hành án. Điều này
sẽ tạo điều kiện cho một số doanh nghiệp chây lỳ không trả nợ và các chủ nợ
hay các đối tượng có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong phạm vi pháp luật
cho phép đưa đơn yêu cầu phá sản doanh nghiệp. Phải chờ đợi cho đến khi
trên sổ sách tài chính của doanh nghiệp mắc nợ đó phản ánh rõ sự thua lỗ của
doanh nghiệp.
Theo quy định chung thì Luật phá sản không chỉ chú ý đến việc thanh
toán nợ hay việc "Trả nợ tập thể" cho các chủ nợ, người lao động mà rất chú
trọng tới việc giúp doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản có thể thoát ra
khỏi khó khăn và phục hồi lại hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp lâm
vào tình trạng phá sản. Tuy nhiên có những ý kiến lại cho rằng, luật không
nên coi việc phục hồi hay tổ chức lại việc hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp lâm vào tình trạng phá sản là bắt buộc mà nên khuyến khích, tạo mọi
cơ hội, điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp có thể thực hiện phương án
phục hồi lại hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được dễ dàng hơn, tiện
lợi hơn.
Có thể nói rằng, cùng với sự hoàn thiện của Luật doanh nghiệp thì số
lượng các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh
tế tư nhân đã được phát triển một cách nhanh chóng và đóng góp ngày càng
nhiều vào tổng đầu tư của toàn xã hội. Có nhiều doanh nghiệp đăng ký kinh
doanh và hoạt động thì cũng có nhiều doanh nghiệp cần giải thể và phá sản,
đây là một vấn đề không thể tránh khỏi của một nền kinh tế cạnh tranh. Vấn
đề cần nêu ra ở đây là làm sao bằng các quy định phù hợp của luật pháp sẽ tạo
cho các doanh nghiệp thực sự có một "Sân chơi" hợp lý để họ có thể được
thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc chấm dứt hoạt động kinh doanh
doanh nghiệp sẽ không chỉ ảnh hưởng xấu đến quyền và lợi ích hợp pháp của
bản thân chủ nợ, con nợ, người lao động mà còn kéo theo nhiều hậu quả bất
lợi khác cho xã hội nói chung. Đối với các chủ nợ, trong trường hợp doanh
nghiệp mắc nợ gặp nhiều khó khăn, việc thanh toán ngay tài sản của doanh
15
nghiệp mắc nợ cho chủ nợ không phải bao giờ cũng là giải pháp tối ưu cho
họ, vì không phải doanh nghiệp nào lâm vào tình trạng phá sản cũng còn đủ
tài sản để thanh toán hết các món nợ của mình. Vì vậy, sẽ tốt hơn nếu doanh
nghiệp mắc nợ được giúp đỡ có thể thoát khỏi tình trạng phá sản bằng con
đường phục hồi hoạt động kinh doanh.
Thứ ba: Thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp lâm
vào tình trạng phá sản có thể có tác động tốt đến môi trường kinh doanh. Việc
phá sản doanh nghiệp, nhất là những doanh nghiệp hoạt động kinh doanh với
quy mô lớn, có nhiều đối tác làm ăn hoặc hoạt động trong những ngành nghề
chủ chốt quan trọng đối với nền kinh tế đất nước rất dễ làm phát sinh tác động
dây chuyền đến các lĩnh vực kinh tế khác cũng như các hoạt động khác của
các doanh nghiệp khác trong nền kinh tế. Vì vậy việc tạo điều kiện phục hồi
hoạt động kinh doanh cho các chủ nợ là một xu hướng cần thiết và phải được
khẳng định trong luật phá sản hiện đại.
Thứ tư: Việc phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp lâm
vào tình trạng phá sản được Tòa án và các chủ nợ tạo điều kiện tối đa. Một
trong những biện pháp giúp doanh nghiệp mắc nợ thoát khỏi tình trạng phá
sản là việc pháp luật cho phép doanh nghiệp mắc nợ chủ động xây dựng
phương án phục hồi hoạt động kinh doanh của mình. Kế hoạch này sẽ được
trình lên Hội nghị chủ nợ, nếu được thông qua thì về cơ bản doanh nghiệp
mắc nợ được khôi phục lại vị trí pháp lý ban đầu, được tiếp tục sản xuất kinh
doanh một cách bình thường.
thể hiện qua các quy định của pháp luật liên quan đến quyền năng của chủ nợ
như: quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, quyền đề xuất phương án
phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mắc nợ
Thứ hai: Thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
lâm vào tình trạng phá sản bảo vệ lợi ích của doanh nghiệp mắc nợ, tạo điều
kiện để cho doanh nghiệp mắc nợ có cơ hội trở lại hoạt động kinh doanh bình
thường trên thị trường.
17
Khi mới xuất hiện, Luật phá sản chưa đặt ra vấn đề bảo vệ doanh nghiệp
mắc nợ, vì tại thời điểm này hầu hết các quan điểm cho rằng phá sản cũng là
một tội phạm, người gây ra sự phá sản bị coi là phạm nhân, do đó họ không
những không được bảo vệ mà còn bị trừng phạt bằng nhiều hình thức khác
nhau, kể cả việc tử hình. Ngày nay quan niệm về việc kinh doanh đã được
thay đổi, do đó, cách xử sự của nhà nước và pháp luật đối với doanh nghiệp
mắc nợ lâm vào tình trạng phá sản cũng được thể hiện theo hướng tích cực, có
lợi cho doanh nghiệp mắc nợ. Hoạt động kinh doanh là hoạt động chứa nhiều
rủi ro, ngoài sự mong muốn của các doanh nghiệp bởi thị trường kinh doanh
thường xuyên có sự biến đổi và do có nhiều sự tác động của khách quan nên
tình trạng doanh nghiệp hoạt động kinh doanh thua lỗ, không trả được các
khoản nợ đến hạn khi chủ nợ yêu cầu là điều có thể xẩy ra ở bất kỳ nơi nào và
vào thời điểm nào đối với bất kỳ nhà kinh doanh nào. Mặt khác, doanh nghiệp
bị phá sản có thể kéo theo nhiều hậu quả xấu cho xã hội mà trước hết nó xẩy
ra đối với chủ nợ và người lao động. Chính vì vậy, hiện nay khi một doanh
nghiệp lâm vào tình trạng phá sản thì điều đầu tiên mà Nhà nước quan tâm
giải quyết không phải là việc tuyên bố phá sản doanh nghiệp ngay và phân
chia tài sản cho các chủ nợ mà là việc phải tìm mọi cách để giúp đỡ doanh
nghiệp thoát khỏi tình trạng khó khăn này để có thể tiếp tục đi trên con đường
Thứ tư: Phục hồi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp lâm
vào tình trạng phá sản góp phần bảo vệ kỷ cương xã hội.
Khi doanh nghiệp mắc nợ lâm vào tình trạng phá sản, trước những
nguy cơ có thể mất nhiều khoản tín dụng của mình, các chủ nợ có động lực
mong muốn thúc đẩy thực hiện những hành vi chống lại doanh nghiệp mắc
nợ. Những hành vi đó có thể là hợp pháp cũng có thể là bất hợp pháp. Nếu
không có sự can thiệp của pháp luật hoặc sự can thiệp đó không có hiệu quả
thì những hành vi bất hợp pháp của các chủ nợ rất dễ xẩy ra, gây nên tình
trạng lộn xộn trong đời sống xã hội. Do vậy pháp luật về phục hồi doanh
nghiệp lâm vào tình trạng phá sản phá sản quy định cách thức và thời gian
mà mỗi nhóm chủ nợ được thanh toán nợ và không làm ảnh hưởng hoặc gây
19
lộn xộn đến những nhóm khác tạo nên một sự cân bằng cần thiết trong việc
thanh toán cho các chủ nợ, cũng có nghĩa là các bên được đưa vào một
khuôn khổ chung mà trong đó lợi ích của các bên đều được xem xét một
cách công bằng và minh bạch.
Bằng việc giải quyết thỏa đáng mối quan hệ về lợi ích giữa chủ nợ và
doanh nghiệp mắc nợ cũng như giữa các chủ nợ với nhau, những quy định về
thủ tục phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản đã góp phần hạn
chế những mâu thuẫn, những căng thẳng có thể có giữa họ, nhờ đó góp phần
bảo đảm trật tự, kỷ cương trong xã hội.
Thứ năm: Phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp lâm vào
tình trạng phá sản góp phần tổ chức lại cơ cấu nền kinh tế.
Phục hồi kinh doanh của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản đã
góp phần tích cực vào việc tổ chức cơ cấu lại nền kinh tế. Những doanh
nghiệp nào không có khả năng phục hồi hoạt động kinh doanh coi như họ đã
tự chứng minh doanh nghiệp của mình thực sự làm ăn kém hiệu quả. Đồng