Hợp đồng ủy quyền theo pháp luật Việt Nam và pháp luật nước ngoài - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT NGUYỄN THỊ HẠ

HỢP ĐỒNG ỦY QUYỀN THEO PHÁP LUẬT VIỆT
NAM VÀ PHÁP LUẬT NƢỚC NGOÀI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC


LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS TRẦN MINH NGỌC
Hà nội – 20121
MỤC LỤC

MỤC LỤC 1
MỞ ĐẦU 4
CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG ỦY QUYỀN 7
1.1. Khái quát về hợp đồng 7
1.1.1. Khái niệm về hợp đồng 7
1.1.2. Bản chất của hợp đồng 11
1.1.2.1. Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên 11
1.1.2.2. Hợp đồng là sự ràng buộc pháp lý giữa các bên 12
1.1.3. Một số đặc điểm cơ bản của hợp đồng 13
1.1.4. Một số loại hợp đồng phổ biến 14
1.2. Khái quát về ủy quyền 18
1.2.1. Khái niệm về ủy quyền 18
1.2.2. Hình thức thể hiện sự ủy quyền 20
1.3. Hợp đồng ủy quyền 22
1.3.1. Khái niệm 22

2.2.1. Hệ thống Luật dân sự (Civil Law) 52
2.2.1.1. Pháp luật Pháp 54
2.2.1.2. Pháp luật Quebec - Canada 58
2.2.1.3. Pháp luật Đức 61
2.2.2. Hệ thống Thông Luật (Common Law) 62
2.2.2.1. Pháp luật Anh 63
2.2.2.2. Pháp luật Mỹ 64
2.2.3. Pháp luật một số nƣớc Châu Á 69
2.2.3.1. Pháp luật Nhật Bản 69
2.2.3.2. Pháp luật Hàn Quốc 76
2.2.3.3. Pháp luật Trung Quốc 77
2.3. So sánh và nhận xét 79
2.3.1. Quy định của pháp luật Việt Nam và nƣớc ngoài về nội dung, hình thức
và các trƣờng hợp sử dụng hợp đồng ủy quyền 79 3
2.3.2. Những quy định của pháp luật nƣớc ngoài có giá trị tham khảo 81
CHƢƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ
HỢP ĐỒNG ỦY QUYỀN 86
3.1. Thực trạng áp dụng các quy định của pháp luật Việt Nam về chế định hợp
đồng ủy quyền 86
3.2. Các nguyên tắc hoàn thiện pháp luật Việt Nam về hợp đồng ủy quyền 99
3.3. Giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về hợp đồng ủy quyền 101
3.3.1. Về hình thức của hợp đồng ủy quyền 101
3.3.2. Về vấn đề chấm dứt đại diện ủy quyền trong thực tiễn vụ án có ủy quyền 104
3.3.3. Về vấn đề hình thức đơn khởi kiện và đơn kháng cáo trong thực tiễn vụ
án có ủy quyền 105
3.3.4. Về vấn đề đại diện cho bị cáo chƣa thành niên trong thực tiễn xét xử . 106
3.3.5. Vấn đề sử dụng thuật ngữ pháp lý 106

luật gốc quy định về giao dịch dân sự và các hợp đồng cơ bản. Các quy định pháp
luật về thƣơng mại, kinh tế chỉ là sự phát triển tiếp tục các quy định nêu trên của
dân sự trong lĩnh vực thƣơng mại, kinh tế. Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm
2005 thì có rất nhiều các loại hợp đồng cơ bản, trong đó có hợp đồng ủy quyền.
Trong xã hội hiện đại, con ngƣời có nhiều nhu cầu và công việc phải làm tại
nhiều địa điểm khác nhau trong một khoảng thời gian ngắn. Trong hoàn cảnh đó,
phƣơng tiện tốt nhất giúp họ đạt đƣợc các nhu cầu và mục đích của mình chính là
“hợp đồng ủy quyền”. Chính vì lý do đó mà tác giả luận văn chọn đề tài “Hợp đồng
ủy quyền theo pháp luật Việt Nam và theo pháp luật nƣớc ngoài” để nghiên cứu làm
luận văn thạc sỹ.
5

2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Khi lựa chọn đề tài cho luận văn của mình, tác giả luận văn có mục đích tìm
hiểu và nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam cũng nhƣ của một số nƣớc
trên thế giới về sự phân biệt hình thức thể hiện sự ủy quyền (giấy ủy quyền/hợp
đồng ủy quyền giống nhau về bản chất, khác nhau về tên gọi hay chúng là hai loại
văn bản có giá trị pháp lý khác nhau), các trƣờng hợp sử dụng hợp đồng ủy quyền
và việc công chứng/chứng thực có phải là điều kiện bắt buộc để hợp đồng có hiệu
lực. Thông qua sự tìm hiểu đó, tác giả luận văn đƣa ra những nhận xét và đánh giá
theo quan điểm của cá nhân về sự phù hợp hay không phù hợp của pháp luật Việt
Nam về vấn đề này. Từ đó, tác giả luận văn đề xuất một số kiến nghị với mong
muốn góp phần giải quyết các vƣớng mắc trong quá trình thực hiện các quan hệ ủy
quyền; sửa đổi bổ sung các văn bản pháp luật có liên quan để ngày một hoàn thiện
hơn.
3. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
- Đối tượng nghiên cứu:

trong ba chƣơng với nội dung nhƣ sau:
- Chƣơng 1: Lý luận chung về hợp đồng ủy quyền.
- Chƣơng 2: Hợp đồng ủy quyền theo pháp luật Việt Nam trong tƣơng quan so
sánh với pháp luật nƣớc ngoài.
- Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về hợp đồng ủy quyền. 7
CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG ỦY QUYỀN
1.1. Khái quát về hợp đồng
1.1.1. Khái niệm về hợp đồng
Để tồn tại và phát triển, cá nhân hay tổ chức đều phải tham gia vào nhiều mối
quan hệ xã hội khác nhau, trong đó việc các bên thiết lập với nhau những quan hệ
để qua đó chuyển giao cho nhau các lợi ích vật chất nhất định nhằm đáp ứng nhu
cầu sinh hoạt, tiêu dùng, đóng vai trò quan trọng và là tất yếu đối với đời sống xã
hội. Song, việc chuyển giao các lợi ích này không phải tự nhiên thiết lập mà chỉ
đƣợc hình thành khi có hành vi có ý chí của của chủ thể, nhƣ C. Mác đã từng nói:
"Tự chúng, hàng hoá không thể đi đến thị trƣờng và trao đổi với nhau đƣợc. Muốn
cho những vật đó trao đổi với nhau, thì những ngƣời giữ chúng phải đối xử với nhau
nhƣ những ngƣời mà ý chí nằm trong các vật đó"[5]. Theo đó, chỉ khi có sự thể hiện
và thống nhất ý chí giữa các bên, thì quan hệ trao đổi lợi ích vật chất mới đƣợc hình
thành. Một trong những phƣơng thức cơ bản để thực hiện việc trao đổi lợi ích trong
xã hội chính là sự thỏa thuận giữa các bên, dựa trên các nguyên tắc tự do, tự
nguyện, bình đẳng và đƣợc đặt dƣới sự bảo trợ của luật pháp. Hiện tƣợng đó
đƣợc định danh trong luật bằng thuật ngữ pháp lý là “Hợp đồng”. Ngày nay, hợp
đồng là công cụ pháp lý quan trọng và phổ biến để con ngƣời thực hiện các giao
dịch nhằm thỏa mãn hầu hết mọi nhu cầu của mình. Cùng với sự phát triển chung
của xã hội, của việc giao lƣu, buôn bán, hợp tác kinh tế, thƣơng mại, đã dẫn đến
việc hình thành rất nhiều quan hệ hợp đồng giữa các chủ thể khác nhau nhƣ hợp
đồng kinh tế, hợp đồng lao động Theo đó, hợp đồng theo nghĩa chung nhất đƣợc

Các thỏa thuận liên quan đến quan hệ hôn nhân, nhận con nuôi, giám hộ… thích
dụng với qui định của các luật khác”. Định nghĩa hợp đồng trong Luật Hợp đồng
Trung Quốc tƣơng đối dài vì bao hàm cả các nguyên tắc khái quát trong việc
giao kết thực hiện hợp đồng mà ngƣời Trung Quốc muốn nhấn mạnh, đó là
nguyên tắc “bình đẳng” giữa các bên tham gia hợp đồng.
Khác với quan niệm của các nƣớc theo hệ thống Civil Law, trong hệ
thống Common Law, ban đầu ngƣời ta xem hợp đồng nhƣ là kết quả của các
cam kết đơn giản, thể hiện bằng những hành vi pháp lý cụ thể của mỗi bên.
Sau này, các thẩm phán ở Anh đã xem xét hợp đồng nhƣ là một nghĩa vụ đƣợc tạo
ra bởi sự gặp gỡ ý chí giữa các bên. 9
Định nghĩa “hợp đồng” cũng đƣợc qui định tại Điều 1-201 Bộ luật Thƣơng
mại Thống nhất Hoa Kỳ (Uniform Commercial Code of United State of America,
viết tắt là UCC): “Hợp đồng là tổng hợp các nghĩa vụ pháp lý phát sinh từ sự
„thỏa thuận‟ của các bên…”. Văn bản Pháp điển xuất bản lần hai có nêu một
định nghĩa cụ thể hơn: Hợp đồng là “một hay một tập hợp các cam kết mà nếu
vi phạm những cam kết này thì bị buộc phải thực hiện bằng sự cƣỡng chế cuả
pháp luật, hoặc nói cách khác pháp luật công nhận việc thực hiện những cam kết
này là một nghĩa vụ”. Trong Bách Khoa toàn thƣ về Pháp luật của Hoa Kỳ cũng
có định nghĩa hợp đồng: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa hai thực thể pháp lý, tạo
ra một sự ràng buộc nghĩa vụ nhằm để làm một việc, hoặc để không làm một việc,
giao một vật xác định” [34]. Định nghĩa này thể hiện rõ ràng hơn bản chất và mục
đích cơ bản của khái niệm hợp đồng và nội dung của nó cũng có tính “hội nhập”
hơn với khoa học pháp lý của các quốc gia khác trên thế giới.
Đã từ lâu pháp luật về hợp đồng chiếm một vị trí rất quan trọng trong hệ
thống pháp luật Việt Nam, bởi vì, hầu hết các giao dịch trong xã hội, dù có mục
đích kinh doanh hay nhằm đáp ứng các nhu cầu sinh hoạt thông thƣờng, đều liên
quan đến hợp đồng. Pháp luật về hợp đồng của Việt Nam hiện nay đƣợc quy định

dung của hợp đồng và trách nhiệm của các bên khi có vi phạm.
Điều 338 Bộ luật Dân sự năm 2005 định nghĩa hợp đồng dân sự nhƣ sau:
"Hợp đồng dân sự là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm
dứt quyền, nghĩa vụ dân sự". Có thể dễ dàng thấy rằng, qui định tại Điều 388 Bộ
luật Dân sự năm 2005 cũng gần giống nhƣ qui định của Luật hợp đồng Trung
quốc 1999. Nhƣ vậy, một hợp đồng phải xuất phát từ yếu tố thoả thuận nhƣng
không phải mọi thoả thuận đều là hợp đồng. Chỉ những thoả thuận làm phát sinh,
thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự mới tạo nên quan hệ hợp đồng. Trên
thực tế, những thoả thuận mang tính cách là sự giúp đỡ vô tƣ (ví dụ, cho đi nhờ xe)
hay những thoả thuận mang tính cách xã giao (nhận lời mời đi dự tiệc hay đi
chơi…) đều không phải là hợp đồng

[7].
Từ định nghĩa trên về hợp đồng dễ nhận thấy, hợp đồng dân sự chính là bản
"giao kèo" để ghi nhận những quyền và nghĩa vụ dân sự giữa các bên chủ thể tham
gia hợp đồng. Xét về bản chất, hợp đồng đƣợc tạo ra bởi sự thỏa thuận của các bên,
là kết quả của quá trình thƣơng thảo và thống nhất ý chí giữa các bên để làm phát
sinh, thay đổi, chấm dứt các quyền và nghĩa vụ đối với nhau, trừ những quyền và
nghĩa vụ mà pháp luật có qui định là không thể thay đổi hoặc chấm dứt bằng thỏa 11
thuận của các bên. Xét về vị trí, vai trò của hợp đồng, theo nghĩa hẹp, thì hợp
đồng là một loại giao dịch dân sự, là một căn cứ pháp lý làm phát sinh, thay đổi,
chấm dứt quan hệ pháp luật dân sự. Nhƣ vậy, hợp đồng là phƣơng tiện pháp lý để
các bên tạo lập quan hệ nghĩa vụ. Có thể nói, định nghĩa trên đã hàm chứa tất cả
dấu hiệu mang tính bản chất của hợp đồng và thể hiện rõ chức năng, vai trò của
hợp đồng trong việc làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ pháp luật.
1.1.2. Bản chất của hợp đồng
Nhƣ đã đƣợc thể hiện trong khái niệm hợp đồng, bản chất của hợp đồng đƣợc

không đƣợc công nhận là hợp pháp bởi vì chủ thể không thể hiện ý chí đích thực.
Hay nói cách khác, thỏa thuận của hợp đồng không đạt đƣợc [64].
Tóm lại, thông qua sự thỏa thuận các bên đã làm nên hợp đồng, tức làm
phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong hợp đồng. Vì
vậy, thỏa thuận vừa là tiền đề làm nên hợp đồng, vừa là yếu tố cơ bản cho sự tồn
hợp đồng.
1.1.2.2. Hợp đồng là sự ràng buộc pháp lý giữa các bên
Một sự thỏa thuận không phải là hợp đồng, nếu không tạo nên hiệu lực
ràng buộc giữa các bên. Bởi vậy, dấu hiệu thứ hai thể hiện bản chất của hợp đồng
là sự thỏa thuận giữa các bên phải nhằm tạo ra một sự ràng buộc pháp lý, tức là
sáng tạo, thay đổi hay chấm dứt các quyền và nghĩa vụ của các bên.
Cũng có những thỏa thuận đặt các bên vào một quan hệ nghĩa vụ mà
pháp luật định, chẳng hạn nhƣ hai bên đồng ý tự nguyện đăng ký kết hôn, thỏa
thuận về việc nuôi con nuôi… Những sự thỏa thuận, đồng ý đó không phải là hợp
đồng. Đây chỉ là những thỏa thuận nhằm thừa nhận một quy chế pháp định, chấp
nhận thực hiện các nghĩa vụ luật định sẵn chứ không phải là hợp đồng.
Tóm lại, mọi hợp đồng đều là sự thỏa thuận giữa các bên, nhƣng không phải
sự thỏa thuận nào của các bên cũng là hợp đồng. Chỉ những thỏa thuận tạo ra một sự
ràng buộc pháp lý mới đƣợc coi là hợp đồng. Bởi vậy, “sự thỏa thuận” và “sự tạo ra
một ràng buộc pháp lý” là hai dấu hiệu cơ bản tạo nên bản chất của hợp đồng.
13
1.1.3. Một số đặc điểm cơ bản của hợp đồng
Từ khái niệm hợp đồng đƣa ra những đặc điểm cơ bản của hợp đổng về: chủ
thể của hợp đồng, nội dung của hợp đồng, hình thức của hợp đồng, hiệu lực của hợp
đồng và chấm dứt hợp đồng.
- Chủ thể của hợp đồng: Hợp đồng bao gồm từ hai bên chủ thể trở lên. Mỗi
bên trong quan hệ hợp đồng dân sự có thể có hai hoặc nhiều chủ thể tham gia. Chủ

phƣơng tiện điện tử dƣới hình thức thông điệp dữ liệu và hình thức này đƣợc coi là
hợp đồng bằng văn bản.
- Hợp đồng đƣợc giao kết hợp pháp có hiệu lực kể từ thời điểm giao kết, trừ
trƣờng hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác. Khi hợp đồng có hiệu
lực sẽ có giá trị bắt buộc đối với các bên tham gia giao kết hợp đồng phải thực hiện.
- Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng: Có hiệu lực theo luật định là điều kiện
về mặt chủ thể, điều kiện về mặt nội dung và điều kiện về mặt hình thức.
- Chấm dứt hợp đồng
Hợp đồng chấm dứt khi các bên đã hoàn thành hợp đồng. Khi các bên tham
gia hợp đồng đã thực hiện toàn bộ nội dung của nghĩa vụ phần mình và do vậy mỗi
bên đều đã đáp ứng đƣợc quyền dân sự của mình (mục đích khi giao kết hợp đồng
dân sự đã đạt đƣợc) thì hợp đồng coi nhƣ đã hoàn thành.
Hợp đồng chấm dứt theo thoả thuận của các bên. Trong những trƣờng hợp
bên có nghĩa vụ không có khả năng thực hiện hợp đồng hoặc nếu hợp đồng đƣợc
thực hiện sẽ gây ra tổn thất lớn về vật chất của một hoặc hai bên thì các bên có thể
thỏa thuận chấm dứt hợp đồng. Hợp đồng đã giao kết đƣợc coi là chấm dứt tại thời
điểm các bên đạt đƣợc sự thỏa thuận nói trên.
Hợp đồng chấm dứt khi chủ thể giao kết hợp đồng không tồn tại tại thời điểm
đó. Trƣờng hợp này hợp đồng không có một bên hoặc nhiều bên để thực hiện. Ví
dụ: Ngƣời giao kết hợp đồng chết, tổ chức giải tán, chấm dứt hoạt động…
1.1.4. Một số loại hợp đồng phổ biến
Nếu nhìn trên tổng thể các mối quan hệ trong xã hội, các giao dịch rất đa
dạng, phụ thuộc vào mục đích, lợi ích mối quan hệ mà các chủ thể tham gia, giao
dịch đó mong muốn. Từ đó để phân biệt các loại hợp đồng ngƣời ta phân ra ba
nhóm (loại) hợp đồng cơ bản nhƣ sau:
- Hợp đồng dân sự; 15
- Hợp đồng kinh doanh – thƣơng mại (hay là hợp đồng kinh tế);

lập thành bản và giao cho bên có quyền giữ hợp đồng. Trong quá trình thực hiện
hợp đồng, bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ đúng nhƣ đã thoả thuận; chỉ
đƣợc thực hiện trƣớc hoặc sau thời hạn nếu đƣợc bên có quyền đồng ý.
- Dựa vào sự phụ thuộc lẫn nhau về hiệu lực giữa các hợp đồng, hợp đồng
đƣợc phân thành hợp đồng chính và hợp đồng phụ nhƣ sau:
+ Hợp đồng chính là hợp đồng mà hiệu lực không phụ thuộc vào hợp đồng
phụ. Theo đó, khi hợp đồng chính đã tuân thủ đầy đủ các điều kiện mà pháp luật
quy định, thi đƣơng nhiên phát sinh hiệu lực, nghĩa là phát sinh hiệu lực bắt buộc
đối với các bên kể từ thời điểm giao kết.
+ Hợp đồng phụ là hợp đồng có hiệu lực khi có 2 điều kiện sau: thứ nhất,
phải tuân thủ đầy đủ các điều kiện luật định về chủ thể, nội dung, đối tƣợng cũng
nhƣ hình thức của hợp đồng,…; thứ hai, hợp đồng chính có hiệu lực.
- Dựa vào tính chất có đi có lại về lợi ích của các chủ thể tham gia hợp đồng,
hợp đồng đƣợc chia thành hợp đồng có đền bù và hợp đồng không có đền bù, trong đó:
+ Hợp đồng có đền bù là loại hợp đồng mà mỗi bên chủ thể sau khi thực hiện
cho bên kia một lợi ích, hay công việc nhất định sẽ nhận lại đƣợc từ bên kia một lợi
ích tƣơng ứng. Tuy nhiên, không phải trong mọi trƣờng hợp, nhất thiết hai bên đều
phải nhận đƣợc (đƣợc hƣởng) lợi ích vật chất thì mới đƣợc coi là đền bù tƣơng ứng.
Bởi trong cuộc sống, nhu cầu của con ngƣời là rất đa dạng, phong phú, cho nên các
bên tham gia hợp đồng có thể thoả thuận giao kết những hợp đồng mà một bên sẽ
đƣợc hƣởng lợi ích vật chất, còn bên kia sẽ đƣợc hƣởng lợi ích tinh thần.
+ Hợp đồng không có đền bù là hợp đồng mà một bên thực hiện cho bên
kia một lợi ích mà không nhận lại từ bên kia một lợi ích nào. Ví dụ, hợp đồng tặng
cho không kèm theo bất cứ một điều kiện nào. Trong cuộc sống thƣờng nhất,
không phải trong mọi trƣờng hợp các chủ thể đều sử dụng hợp đồng nhƣ một
phƣơng tiện để trao đổi những lợi ích nhất định, mà đôi khi các chủ thể còn sử
dụng hợp đồng làm phƣơng tiện để giúp đỡ lẫn nhau, hay nói khác đi, việc các chủ
thể giao kết hợp đồng dựa trên cơ sở tình cảm, tinh thần tƣơng thân tƣơng ái, giúp
đỡ nhau trong lúc khó khăn, hoạn nạn. Tiền đề của hợp đồng không có đền bù, do


đồng đƣợc giao kết. Việc xuất hiện sự kiện hay không xuất hiện sự kiện
hoàn toàn nằm ngoài ý chí chủ quan của các chủ thể tham gia hợp đồng; 18
Trong trƣờng hợp điều kiện là một công việc phải thực hiện thì đó phải là
những công việc có thể thực hiện đƣợc [55].
Trong thực tiễn áp dụng pháp luật, việc phân loại hợp đồng có ý nghĩa nhất
định, bởi qua việc phân loại hợp đồng sẽ xác định những đặc điểm chung và riêng
của từng nhóm hợp đồng, và từ đó góp phần nâng cao hiệu quả trong quá trình điều
chỉnh các quan hệ hợp đồng [6].
1.2. Khái quát về ủy quyền
1.2.1. Khái niệm về ủy quyền
Để hiểu về ủy quyền, ta phải tìm hiểu nguồn gốc của nó, đó là chế định đại
diện. Trong đời sống dân sự, phần lớn các trƣờng hợp, các chủ thể trong quan hệ
pháp luật dân sự tự mình xác lập các giao dịch. Tuy nhiên, vì nhiều lý do (ốm, bệnh,
bận công việc…) cá nhân rất cần sự giúp đỡ của ngƣời khác. Ngoài ra, trong xã hội
hiện đại, vai trò của tƣ vấn pháp luật để giải quyết các vấn đề pháp lý phức tạp cần
có sự chuyên môn hóa cao ngày càng đƣợc coi trọng. Đó là chƣa kể nếu không có
chế định đại diện thì những ngƣời không có năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế
năng lực hành vi sẽ không còn cơ hội tham gia đời sống giao lƣu dân sự. Vì vậy, ý
nghĩa xã hội pháp lý của chế định đại diện đƣợc thể hiện chính ở chỗ nhờ có nó mà
một ngƣời có thể sử dụng tri thức, khả năng, kinh nghiệm của ngƣời đại diện và tiếp
nhận kết quả từ hành vi pháp lý của ngƣời đó. Đại diện là chế định có chức năng trợ
giúp xã hội, là một trong những thành quả của trí tuệ pháp lý của loài ngƣời, mang
tính nhân văn, nhân đạo.
Quan hệ đại diện phát sinh từ các căn cứ:
- Đại diện theo pháp luật: bao gồm đại diện theo quy định của pháp luật và
theo quyết định của cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền.
- Đại diện tự nguyện: Theo hợp đồng ủy quyền.

riêng biệt quy định thẩm quyền đại diện trong một thời gian nhất định, đối với một
loại hành vi nhất định (đại diện cho chủ sở hữu thu tiền nhà trong một thời gian).
Theo ủy quyền chung, thẩm quyền đại diện có hiệu lực đối với nhiều loại hành vi
trong một thời gian nhất định.
Có thể hiểu rằng ủy quyền là việc một ngƣời giao cho ngƣời khác sử dụng
một số quyền mà pháp luật đã trao cho mình. 20
Về vấn đề ủy quyền theo tác giả luận văn là vấn đề cơ bản trong các quan hệ
giao dịch chứ không dừng lại là quan hệ hợp đồng dân sự thông thƣờng vì nó điều
chỉnh tƣ cách của ngƣời tham gia giao dịch (ngƣời đƣợc ủy quyền) và thẩm quyền
của ngƣời ký giấy ủy quyền (ngƣời ủy quyền) mà vấn đề này không dừng lại trong
lĩnh vực dân sự mà sẽ điều chỉnh hết tất cả các lĩnh vực phi hình sự (kinh doanh,
hành chính…) kể cả một số giao dịch phát sinh trong quan hệ tố tụng hình sự (nhƣ
việc ủy quyền cho đại diện của ngƣời có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ
án hình sự đến dự phiên xét xử một vụ án hình sự).
1.2.2. Hình thức thể hiện sự ủy quyền
Cá nhân, tổ chức lựa chọn hình thức ủy quyền phù hợp với nội dung cần ủy
quyền sẽ tạo thuận lợi cho ngƣời đại diện theo ủy quyền trong việc xác lập, thực hiện
nội dung ủy quyền. Do đó, việc chọn hình thức ủy quyền do bên ủy quyền và bên đƣợc
ủy quyền tự thỏa thuận với nhau, có thể bằng văn bản hoặc bằng hình thức khác.
a. Ủy quyền bằng lời nói:
Đối với những giao dịch dân sự đơn thuần, giữa các chủ thể có uy tín, trách
nhiệm, độ tin cậy lẫn nhau thì bên đƣợc ủy quyền và bên ủy quyền có thể lựa chọn
hình thức ủy quyền bằng “lời nói” (trừ những trƣờng hợp pháp luật quy định việc ủy
quyền phải lập thành văn bản). Ví dụ: vì không có thời gian nên ông A nhờ (bằng
lời nói) ông B đến nhà ông C lấy tiền nợ (trƣớc đó ông C nợ tiền ông A), ông C giao
tiền cho ông B để thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ông A và ông B giao số tiền đã
nhận từ ông C cho ông A. Nhƣ vậy, ông A và ông B đã thực hiện hoàn thành một

quyền bằng giấy ủy quyền có những hạn chế nhất định, do nội dung trong giấy ủy
quyền thƣờng linh hoạt nên dễ bỏ sót những điều khoản ràng buộc nghĩa vụ của các
bên tham gia xác lập ủy quyền; khi có tranh chấp, cơ quan có thẩm quyền khó xác
định trách nhiệm, nghĩa vụ của các bên để áp dụng phạm vi bồi thƣờng thiệt hại.
- Hình thức ủy quyền bằng hợp đồng ủy quyền: là hình thức văn bản ủy
quyền chặt chẽ nhất so với các hình thức ủy quyền bằng văn bản nêu trên. Ƣu điểm
nổi bật của hình thức này là cơ sở pháp lý vững chắc, nội dung thỏa thuận của các
bên về quyền lợi và nghĩa vụ đƣợc thể hiện rõ tại các điều khoản cụ thể trong hợp
đồng. Đây là những cơ sở pháp lý để xem xét trách nhiệm của các bên xác lập hợp
đồng ủy quyền, là cơ sở để xác định lỗi và phạm vi bồi thƣờng thiệt hại nếu có tranh
chấp xảy ra [56]. 22
1.3. Hợp đồng ủy quyền
1.3.1. Khái niệm
Trên thế giới hiện nay có hai hệ thống pháp điển hình và có ảnh hƣởng lớn
đến pháp luật riêng của nhiều quốc gia, đó là hệ thống pháp luật Common Law và
hệ thống pháp luật Civil Law. Hai hệ thống này có những điểm đặc thù với những
đặc trƣng pháp lý riêng.
Hệ thống pháp luật dân sự (Civil Law), hay còn đƣợc biết đến với tên gọi đơn
giản hơn là hệ thống pháp luật Pháp – Đức: Đây là hệ thống pháp luật có nền tảng bắt
nguồn từ hệ thống pháp luật của Pháp và pháp luật của một số nƣớc lục địa Châu Âu.
Hệ thống pháp luật của các nƣớc này nhìn chung đều chịu ảnh hƣởng của Luật La Mã.
Theo quan điểm của hệ thống Civil law thì có ba điều cần thiết để tạo ra một sự
ủy quyền: phải tồn tại một công việc hay hành động là đối tƣợng của hợp đồng; phải
đƣợc thực hiện bằng hành vi; các bên tự nguyện có ý định tham gia vào hợp đồng.
Một ủy quyền là hợp đồng mà theo đó một ngƣời chỉ định một ngƣời khác
đại diện cho họ trong hành động hay nói cách khác thay mặt mình, trong các giao
dịch pháp lý với một bên thứ ba. Ngƣời có các hành động hay giao dịch đƣợc ủy

thỏa thuận hoặc pháp luật không quy định việc trả thù lao. Điều đó có nghĩa là việc
trả thù lao không đƣợc suy đoán mà phải do các bên thỏa thuận hoặc pháp luật quy
định. Nhƣng cả hai trƣờng hợp này thì việc ủy quyền đều có hiệu lực pháp luật ngay
từ khi ký kết. Một điều cần chú ý là hợp đồng ủy quyền không có thù lao cũng
không làm giảm bớt trách nhiệm của bên đƣợc ủy quyền.
Tóm lại, hợp đồng ủy quyền là sự thỏa thuận giữa các bên mà theo đó bên ủy
quyền cho phép bên đƣợc ủy quyền thực hiện các công việc của bên ủy quyền và
ngƣời đƣợc ủy quyền đồng ý thực hiện các công việc đó.
1.3.2. Mục đích của hợp đồng ủy quyền
Mục đích của hợp đồng ủy quyền là tạo điều kiện cho mọi ngƣời có thể đạt đƣợc
nhu cầu khi không có điều kiện hoặc không muốn thực hiện một công việc nào đó.
Việc thực hiện công việc trong hợp đồng ủy quyền là rất rộng. Hơn nữa,

Trích đoạn Pháp luật Đức Pháp luật Anh Pháp luật Mỹ Pháp luật một số nƣớc Châ uÁ Pháp luật Hàn Quốc
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status