Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết của Mark Twain - Pdf 12


Bộ GIáO DụC Và ĐàO TạO VIệN KHOA HọC Xã HộI VIệT NAM
VIệN VĂN HọC

DƯƠNG THị áNH TUYếT NGHệ THUậT XÂY DựNG NHÂN VậT
TRONG TIểU THUYếT CủA MARK TWAINCHUYÊN NGàNH: VĂN HọC BắC Mỹ
M Số : 62.22.30.20 Tóm tắt LUậN áN TIếN Sĩ NGữ VĂN

CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ
LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN1. Dương Thị Ánh Tuyết (2005), Mấy ý kiến khi giảng dạy đoạn
trích “Mải mê chinh chiến và yêu đương”của mark Twain (trích
tiểu thuyết Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer), Tạp chí
Giáo dục, số 109.
2. Dương Thị Ánh Tuyết (2005), Nghệ thuật mở đầu tiểu thuyết
“Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer”, Tạp chí Châu Mỹ
ngày nay, số2.
3. Dương Thị Ánh Tuyết (2007), Tom Sawyer và cuộc “phiêu lưu
tình ái”, Tạp chí Châu Mỹ ngày nay, số 8.
4. Dương Thị Ánh Tuyết (2007), Kiểu đàn ông suy đồi và nhân vật
“đám đông” trong tiểu thuyết của Mark Twain, Tạp chí Châu Mỹ
ngày nay, số 12.
5.

Dương Thị Ánh Tuyết (2008), Tính liên văn bản trong tiểu thuyết
của Mark Twain, in trong Tự sự học - một số vấn đề lí luận và
lịch sử (phần 2), Trần Đình Sử chủ biên, Nxb ĐHSP Hà Nội.

6.

Dương Thị Ánh Tuyết (2008), Tính chất Carnaval trong tiếng
cười của Mark Twain, Nghiên cứu văn học, số 4, Viện văn học -
Viện khoa học xã hội Việt Nam.

1


ứng với từ character trong tiếng Anh, chỉ thế giới hình tượng, chủ yếu là
con người được khắc hoạ trong tác phẩm.
2.2. Phạm vi tác phẩm nghiên cứu:
Trong khuôn khổ của một luận án, sau khi rà soát 61 tác phẩm (trong đó
có 20 tiểu thuyết) của Mark Twain, chúng tôi chọn khảo sát ba cuốn tiêu
biểu nhất bằng nguyên bản tiếng Anh: The Adventures of Tom Sawyer
(1876, gọi tắt là Tom Sawyer); The Adventures of Huckleberry Finn (1884,
gọi tắt là Huck Finn); The Tragedy of Pudd’nhead Wilson (1894, gọi tắt là
2

Chàng ngốc Wilson). Khi khảo sát, chúng tôi tham khảo thêm các bản dịch
ra tiếng Việt của Vương Đăng, Minh Đức, Xuân Oanh…
3. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Khảo sát lịch sử vấn đề nghiên cứu gồm 151 tài liệu bằng tiếng Việt và
tiếng Anh, chúng tôi nhận thấy nghiên cứu nghệ thuật xây dựng nhân vật của
Mark Twain một cách hệ thống chưa là đối tượng của một công trình nào ở
Việt Nam. Hầu hết các nghiên cứu trước đây về Mark Twain, cả trong nước
lẫn nước ngoài trong phạm vi tư liệu bao quát được của chúng tôi đều thiên
về cách tiếp cận xã hội học. Một số công trình tiếp cận nhân vật theo lí
thuyết nghiên cứu văn học hiện đại nhưng chỉ dừng ở mức “chấm phá”, gợi
mở. Bởi vậy, chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài nghiên cứu: Nghệ thuật xây
dựng nhân vật trong tiểu thuyết của Mark Twain, và soi rọi dưới ánh sáng
của các lí thuyết hiện đại. Đặc biệt, chúng tôi vận dụng lí thuyết của Bakhtin
về văn hoá trào tiếu dân gian, nghiên cứu tiếng cười Mark Twain như một
biện pháp nghệ thuật để xây dựng nhân vật.
4. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Luận án nghiên cứu nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết của
Mark Twain dưới ánh sáng của những lí thuyết nghiên cứu văn học hiện đại, ở
ba phương diện tiêu biểu, tương ứng với ba chương: nhân vật qua điểm nhìn
dịch chuyển; nhân vật qua cái tôi du hành; nhân vật qua tiếng cười dân gian.

Chương 1: Nhân vật qua điểm nhìn dịch chuyển
Chương 2: Nhân vật qua cái tôi du hành
Chương 3: Nhân vật qua tiếng cười dân gian Chương 1
NHÂN VẬT QUA ĐIỂM NHÌN DỊCH CHUYỂN
Điểm nhìn dịch chuyển là cách thức để Mark Twain tái hiện nhân vật
trong cái nhìn đa diện, đa tầng. Các nhân vật vừa tự thể hiện mình, vừa được
bộc lộ qua cái nhìn của người khác. Chuyển dịch điểm nhìn, một mặt gắn với
cái tôi du hành, mặt khác tạo ra các khả năng tương phản hô ứng tạo tiền đề
cho sự xuất hiện của tiếng cười. Đằng sau điểm nhìn dịch chuyển là một thế
giới hiện thực được tái hiện với tư cách là môi trường, hoàn cảnh để khắc hoạ
tính cách nhân vật.

1.1. Giới thuyết khái niệm điểm nhìn (the point of view)
Điểm nhìn “the point of view” (tiếng Anh), “le point de vue” (tiếng
Pháp) là thuật ngữ được dùng phổ biến trong lĩnh vực nghiên cứu, phê bình
văn học, có nghĩa là điểm hay chỗ đứng để xem xét, bình giá một sự vật, một
sự kiện, một hiện tượng tự nhiên hay xã hội. Điểm nhìn có mối quan hệ mật
thiết nhưng không hoàn toàn đồng nhất với ngôi kể.
Thực chất của vấn đề điểm nhìn là chú trọng vai trò của chủ thể quan sát
(ai nhìn?). Mỗi tác phẩm nghệ thuật là một cách nhìn về cuộc sống. Cách nhìn
ấy được khu biệt trước hết bởi chủ thể nhìn. Chính “chủ thể” này quy định
cách nhìn và mang lại cho nó một ý nghĩa. Không có khách thể độc lập tuyệt
đối, mọi khách thể đều tồn tại trong mối quan hệ mật thiết với chủ thể. Sự
4

phong phú, đa dạng của đời sống văn học nghệ thuật được tạo thành bởi nhiều
yếu tố, trong đó vấn đề điểm nhìn đóng một vai trò quan trọng.

gia của các nhân vật khác, từ điểm nhìn của họ sẽ được coi như là “đồng
minh” hoặc “đối thủ” trong suốt hành trình phiêu lưu của Tom. Điều đặc biệt,
giúp ta khẳng định cái nhìn trẻ thơ trong Tom Sawyer, là hầu hết điểm nhìn
của các nhân vật phụ đều rơi vào trẻ con: Jim, Sid, Huck, Becky, Joe Harper,
Mary, Amy Lawrence Qua sự soi chiếu từ điểm nhìn của các nhân vật này,
“cái tôi du hành” của Tom hiện lên sống động hơn, đa diện hơn.
5

Xu hướng dịch chuyển điểm nhìn từ người lớn (người kể chuyện) sang
trẻ thơ, là cách thức Mark Twain để cho nhân vật trẻ thơ tự bộc lộ mình, và
bộc lộ cách nhìn về thế giới. Nghĩa là nhà văn soi chiếu thế giới dưới cái
nhìn độc đáo mang đậm phong cách Mark Twain, cái nhìn trẻ thơ. Rõ ràng,
motif nhìn đời qua con mắt trẻ thơ không chỉ tới Mark Twain mới có. Song
motif này đã được Mark Twain phát triển làm cho phong phú đa dạng, đặc
biệt xây dựng được kiểu nhân vật trẻ em mang đậm đặc trưng Hoa Kỳ. Điều
này thể hiện rõ hơn trong Huck Finn.
1.3. Điểm nhìn trẻ thơ sang điểm nhìn người lớn trong Huck Finn
Vẫn là cái nhìn trẻ thơ, nhưng trong Huck Finn, đó chỉ còn là hình thức,
còn bản chất là cái nhìn của người lớn hay chí ít thì cũng là của người đang
trưởng thành, cố vươn lên cái nhìn của người lớn. Như vậy, vẫn là sự chuyển
hoá điểm nhìn, nhưng trong Huck Finn, Mark Twain đã làm ngược lại: từ
điểm nhìn trẻ thơ chuyển sang điểm nhìn người lớn.
Khác với Tom Sawyer, Huck Finn được kể từ điểm nhìn bên trong.
Người kể chuyện xưng tôi đồng thời là một nhân vật. Huck đang kể lại
chuyện của mình, cũng như những gì mà cậu ta đã chứng kiến với bạn đọc
hư cấu (tưởng tượng). Điều này được thể hiện ngay trong những dòng đầu
của tiểu thuyết “có lẽ các bạn chả biết tôi là ai đâu”. Đây là kiểu trần thuật
nội tụ điểm, tiêu điểm bên trong (internal focalization) theo quan niệm của
Genette và Manfred Jahn.
Trần thuật từ ngôi thứ nhất đáp ứng nhu cầu, khát vọng giải bày của

tục từ người kể chuyện sang nhân vật, từ nhân vật này sang nhân vật khác, sử
dụng điểm nhìn của điện ảnh, sân khấu, hội hoạ, cận cảnh, viễn cảnh, bên
trong, bên ngoài là cách Mark Twain khắc hoạ tính cách nhân vật trong cái
nhìn đa diện. Ý nghĩa nhân sinh của hình tượng nhân vật Mark Twain luôn
hiện hữu thông qua những cái đời thường bình dị. Cái nhìn của Mark Twain
không phiến diện, đơn lẻ mà phức hợp đa tầng đủ sức soi rọi chiều sâu bản
thể. Đặc biệt sự chuyển hoán điểm nhìn: từ người lớn sang trẻ thơ (trong Tom
Sawyer) và từ trẻ thơ sang người lớn (trong Huck Finn) đã ghi đậm dấu ấn
phong cách Mark Twain trong việc xử lí điểm nhìn, đồng thời mang lại tầm
vóc và ý nghĩa khác nhau cho hai cuốn tiểu thuyết. Miles Donald đã đúng khi
khẳng định rằng Tom Sawyer vẫn chủ yếu dành cho trẻ con, Huck Finn thì
chủ yếu nói về trẻ con nhưng lại dành cho người lớn. Diana Trilling thì cho
rằng so với Tom Sawyer “trong Huck Finn chúng ta sẽ có nhiều hơn một bài
tụng ca, đó là một bản hợp xướng mà giọng chủ là của thể loại bi kịch”.
1.4. Điểm nhìn thằng ngốc – minh triết trong Chàng ngốc Wilson
Chàng ngốc Wilson được trần thuật ở ngôi thứ ba, một người kể chuyện
khôn ngoan, mang quyền lực “biết tuốt” của Chúa đứng ra trần thuật và bình
luận các sự kiện. Như mọi tiểu thuyết tâm lý khác, điểm nhìn trần thuật ở
đây luôn có xu hướng di chuyển vào bên trong nhằm bộc lộ đời sống nội
tâm, cũng như những bí ẩn trong tâm hồn nhân vật. Tuy nhiên đó chưa phải
là đặc trưng cho điểm nhìn trần thuật của tác phẩm.
Theo chúng tôi, cái làm nên sự độc đáo trong điểm nhìn trần thuật của
Chàng ngốc Wilson là việc Mark Twain sử dụng điểm nhìn thằng ngốc
nhằm lạ hoá trần thuật. Cơ sở giúp chúng tôi khẳng định điều này là việc
xuất hiện hàng loạt những câu cách ngôn của chàng ngốc Wilson xuyên suốt
các chương của tác phẩm, cả ở hồi đầu lẫn phần kết. Từ sự soi chiếu của
điểm nhìn thằng ngốc, độc giả có thêm một chìa khoá để giải mã tác phẩm.
7

Người kể chuyện ở ngôi ba hầu như chỉ đứng ra trình bày các sự kiện, còn

tiểu thuyết tâm lý, là sự cách tân, phát triển thể loại trong quá trình sáng tác
của Mark Twain. Với sự ra đời của Chàng ngốc Wilson, chứng tỏ Mark
Twain không chỉ là tác giả của những tiểu thuyết phiêu lưu kiệt xuất mà còn
là một nhà tiểu thuyết tâm lý tài ba.
*
Hoán đổi điểm nhìn, đan cài những điểm nhìn song hành, tự sự nhiều
điểm nhìn là một phương thức tự sự độc đáo của Mark Twain nhằm khắc
8

phục cái nhìn phiến diện, đơn điệu, chủ quan khi khắc họa chân dung nhân
vật. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà các mối quan
hệ xã hội, tự sự nhiều điểm nhìn là cách thức để Mark Twain tiếp cận được
bản chất con người. Di chuyển điểm nhìn từ ngoài vào trong, phát huy tối đa
hiệu quả nghệ thuật của điểm nhìn tâm lí là sự cách tân thể loại của Mark
Twain. Việc sử dụng điểm nhìn trẻ thơ và điểm nhìn thằng ngốc là một cách
lạ hoá trần thuật, nhằm phản chiếu con người, cuộc sống dưới ánh sáng mới.
Trong đường biên không phân định rạch ròi giữa người lớn và trẻ thơ, ngốc
nghếch và thông thái, nhân vật của Mark Twain sống động hơn, người hơn.
Tự sự nhiều điểm nhìn còn là cách để Mark Twain mở rộng bình diện
phản ánh. Đây chính là lúc trả lời cho câu hỏi: nhìn cái gì (đối tượng, đề tài,
chủ đề). Hiện thực Hoa Kỳ thế kỉ XIX toát lên một cách sống động qua cái
nhìn bao quát của Mark Twain. Các bình diện phản ánh ở đây vừa là những
vấn đề cơ bản, nền tảng của mọi xã hội (tiền bạc, danh vọng, giáo dục, nhà thờ,
pháp luật…) đồng thời cũng là những vấn đề đặc thù của xã hội Hoa Kỳ, mang
tính thời sự nóng hổi (bạo lực, tệ nạn, phân biệt chủng tộc,…). Đó là hoàn cảnh
điển hình để nhà văn khắc hoạ tâm lí, tính cách nhân vật. Bi kịch cuộc đời ẩn
chứa dưới những cái tưởng như bình thường là kết quả của “cái nhìn thấu suốt”
(Maxwell Geismar) trong tố chất con người Mark Twain. Quán triệt nguyên
tắc chung của chủ nghĩa hiện thực, Mark Twain “không thay thế cái hiện có
bằng cái mong ước mà làm nổi bật cái mong ước từ cái hiện có”.

phong phú. Tác phẩm của ông là bức tranh toàn cảnh về đủ mọi giai tầng,
mọi đẳng cấp, trong đó tập trung chủ yếu vào một số lĩnh vực nền tảng của
xã hội: giáo dục (thầy giáo, học sinh), tôn giáo, nhà thờ (linh mục, con
chiên), luật pháp (chánh án, thẩm phán, luật sư), quân đội (đại tá, thiếu tá), y
tế (bác sĩ), nông nghiệp (chủ điền, nông dân). Sự phong phú đa dạng về chủ
đề làm cho tiểu thuyết Mark Twain mang tính bách khoa thư sâu sắc.
3. Độ tuổi: có sự dịch chuyển rõ rệt về độ tuổi qua ba tác phẩm. Ở Tom
Sawyer, độ tuổi thiếu niên chiếm ưu thế, sang Huck Finn độ tuổi trung niên
nhiều hơn hẳn, và đến Chàng ngốc Wilson tập trung hoàn toàn vào thế giới
nhân vật người lớn. Chính chuyển biến này góp phần đưa lại sự khác biệt về ý
nghĩa và giá trị cho ba cuốn tiểu thuyết.
4. Chủng tộc: so với Tom Sawyer, nhân vật da đen xuất hiện đông đảo
hơn trong Huck Finn và Chàng ngốc Wilson. Sự khác nhau này xuất phát từ
chất liệu được xử lí trong các tác phẩm. Điều này cho thấy sáng tác của
Mark Twain là một nỗ lực không ngừng trong công cuộc giải phóng nô lệ,
giải phóng con người khỏi những định kiến xưa cũ.
2.2. Tom – chàng hiệp sĩ tí hon
2.2.1. Đảng cướp của Tom
Tom Sawyer hiện diện trong tác phẩm của Mark Twain với hai cái tôi:
yêu thương và tội lỗi. Sự chuyển hoán giữa hai khả năng này (không đơn
thuần là sự kết hợp: lúc yêu thương, lúc tội lỗi), một mặt thể hiện tính
nghịch dị của hình tượng, mặt khác bộc lộ nguyên tắc “trần thế hoá” nhân
vật lý tưởng của chủ nghĩa hiện thực. Trong sự soi chiếu của hai yếu tố đó,
tính cách của Tom vì thế sống động, đa diện hơn, đối lập hoàn toàn với cuộc
sống tẻ nhạt, đơn điệu của dân làng St. Petersburg.
Vốn sở hữu một tính cách đa dạng, Tom vừa mang trong mình dòng
máu hiệp sĩ của chủ nghĩa anh hùng lãng mạn kiểu Don Quixote, vừa nhiễm
thói láu lỉnh tinh nhanh của một kẻ nổi loạn; rất thông minh, thực tế nhưng
cũng ngờ nghệch, hoang tưởng; giàu tình cảm, nhân hậu nhưng lắm lúc cũng


trong cái tôi du hành của Tom Sawyer. Tác phẩm khép lại khi Tom hoàn
toàn chiến thắng những “cối xay gió” của mình, có danh tiếng, có người đẹp
và trở nên giàu có. Thậm chí trong tương lai “sẽ trở thành tổng thống nếu
như Tom không bị treo cổ”. Một kết thúc vừa có hậu theo kiểu truyện dân
gian, vừa là sự giễu nhại, mỉa mai cách nhìn truyền thống. Cái hiện đại trong
tư duy nghệ thuật của Mark Twain chính là ở chỗ này.
Mark Twain kiến tạo những cuộc phiêu lưu như là môi trường tuyệt vời
để thể hiện quá trình trưởng thành của cái tôi nhân vật, cũng như truy tìm ý
nghĩa của các giá trị đời sống. Rubin đã đúng khi cho rằng: “Sự phát triển

11
sâu rộng và quan trọng hơn trong Tom Sawyer, sự trưởng thành của Tom,
chính là những gì tạo cho câu chuyện của Mark Twain sức hấp dẫn vĩnh
hằng của nó. Cốt truyện phiêu lưu chủ yếu tồn tại như một chất xúc tác để
đưa lại kết quả đó”.
2.3. Huck – kẻ tẩu thoát
Là nhân vật trung tâm của tác phẩm, Huck quy tụ mọi vấn đề, các mối
quan hệ đa dạng và phức tạp trong tác phẩm. Bản thân Huck cũng là một sự
phong phú về tính chất và đa dạng về tính cách. Chính chỗ này ghi dấu sự
hiện đại của Mark Twain trong khi xây dựng nhân vật. Nhà văn cố gắng đưa
nhân vật của mình thoát ra khỏi tính nguyên phiến, đơn chiều, bằng cách tạo
ra những “vết rạn” trong tính cách. Tất nhiên sự rạn vỡ này chưa đủ mạnh,
vì vậy mà cho dù trong Huck đã có sự đa dạng về những nét tính cách, thì về
cơ bản vẫn thống nhất mà không đẩy đến sự phân rã, phân đôi tính cách như
các nhân vật của tiểu thuyết hiện đại và hậu hiện đại. (Nhân vật Oskar trong
Cái trống thiếc của Gunter Grass).
Bi kịch của Huck là bi kịch của kẻ nằm trên lằn ranh giữa hai bi kịch:
văn minh và hoang dã – hai yếu tố vốn dĩ đối lập, nhưng luôn song hành
cùng nhau. Thông qua câu chuyện của một đứa trẻ Mark Twain đặt ra vấn đề
cực lớn của mọi thời đại.

văn tiếp bước. Dấu ấn của sự “vĩ đại tuyệt vời”, từ kết thúc để ngỏ trong tiểu
thuyết Huck Finn, theo quan điểm của Miles Donald là ở chỗ này chăng?
2.4. Wilson – Chàng ngốc minh triết
Là “hiện thân cho tinh thần của con người trên hành trình tìm kiếm”, hình
tượng nhân vật thằng Ngốc được Mark Twain chọn lựa như một motif đặc biệt
để xây dựng các nhân vật chính trên hành trình tìm câu trả lời cho vấn đề triết
học muôn thủa: đâu là chân lý đích thực, đâu là sự thông thái đích thực của loài
người.
Với vẻ ngây thơ, hồn nhiên, vô tư, trong sáng của trẻ con, Tom, Huck,
hoàng tử Edward Tudor cùng chú bé Tom Canty đều bị người lớn – những
người quen với cách hành xử vụ lợi, thực dụng, máy móc, giáo điều – xem là
những kẻ ngốc nghếch, ngờ nghệch, thậm chí điên loạn mất trí. Vì vậy, nhân
vật trẻ em trong sáng tác của Mark Twain suy cho cùng là biến thể của hình
tượng thằng Ngốc trong lịch sử phát triển của hình tượng này. Xét về bản chất,
nhân vật ngốc là trẻ em của Mark Twain đều mang bản chất thiên sứ, tâm hồn
ngây thơ, trong sáng không vụ lợi, không bị dục vọng và xã hội làm biến đổi,
luôn hướng thiện, mang tinh thần hiệp sĩ, hết lòng xả thân vì người khác.
Sáng tác của Mark Twain còn có một biến thể nữa của họ nhà Ngốc:
những kẻ có trí tuệ siêu việt khác người khác đời, và dưới quan niệm của số
đông họ bị xem là ngốc. Như vậy, vẫn sử dụng thủ pháp tương phản giữa cái
tôi cá nhân với cái ta cộng đồng, nhưng nếu ở Tom và Huck sự đối lập chủ
yếu dừng lại ở hành động, thì đến Wilson đã đẩy lên một bước cao hơn: đối
lập trong tư duy nhận thức. Đó là cách tân lớn nhất trong tư duy nghệ thuật
của Mark Twain. Cái tôi của Wilson ngoài việc nhận thức, phủ định còn
mang ý nghĩa khai sáng.
Đặt trong tiến trình vận động của hình tượng nhân vật chàng ngốc, thì
Wilson vẫn thuộc dạng nhân vật ngốc trong văn chương trước thế kỷ XX:
ngốc thông thái, ngốc minh triết, ngốc cần thiết để nhận ra chân lý. Trong Hồi
ức về những cô gái điếm buồn của tôi, Marquez mượn lời của một chủ bút để
khẳng định: “Những người điên hiền lành thường đi trước thời đại”. Rõ ràng

đức của đám đông dân chúng. Càng yêu thương con người càng phải chỉ ra
những mặt xấu xa tồi tệ của họ để không ngừng làm cho họ ngày càng hoàn
thiện hơn, để cuộc sống đỡ dâu bể hơn. Đó là cách làm của Mark Twain –
một nhà văn hài hước. Milan Kundera khi bàn về cái hài hước đã khẳng
định: “hài hước không phải là cái cười, sự chế giễu, châm biếm mà là một
loại đặc biệt của cái hài mà Paz nói rằng (đây là chìa khoá để hiểu bản chất
của cái hài) nó khiến bất cứ cái gì nó chạm đến đều trở thành nhập nhằng
nước đôi”. Bản chất hài hước trong nghệ thuật xây dựng nhân vật của Mark
Twain không đi chệch quỹ đạo này.

*

14
Từ Tom, sang Huck đến Wilson là một quá trình phát triển của cái tôi du
hành. Khởi đầu bằng cái tôi nghịch ngợm “hiệp sĩ” của Tom trong không
gian hẹp của làng St. Petersburg – một cái tôi vừa đang nỗ lực nhận thức cuộc
sống vừa nổi loạn chống đối những quy tắc trói buộc của cuộc sống tẻ nhạt,
giáo điều. Tiếp nữa là cái tôi tẩu thoát của Huck – cái tôi chạy trốn tất cả
những nơi mà nó đi qua bởi không thể nào chịu nổi cái xấu, cái ác cũng như
bất cứ sự trói buộc nào. Cuối cùng là cái tôi của chàng ngốc Wilson, cái tôi
vừa xa lạ về nguồn gốc (Wilson là dân di cư), vừa xa lạ về trí tuệ (nên bị xem
là anh ngốc). Ba biểu hiện của những cái tôi thể hiện hai mối quan hệ cơ bản
của một cộng đồng: đối nội, đối ngoại, đồng thời cũng tương ứng với ba giai
đoạn trong đời người: nhận thức, thử nghiệm; hoài nghi, băn khoăn; bình tĩnh
đối mặt. Cái tôi du hành đã gắn kết mọi cái tôi trong tiểu thuyết Mark Twain.
Bên cạnh những cái tôi du hành đầy ấn tượng (Tom, Huck, Wilson…),
Mark Twain còn xây dựng cái ta tập thể hết sức độc đáo, với đủ mọi tầng lớp
trong xã hội (quan chức, bình dân, đàn ông, phụ nữ, đám đông). Cái nhìn của
Mark Twain vì thế vừa vươn tới bề rộng bởi tầm khái quát vĩ mô vừa đạt tới
chiều sâu bởi sự cụ thể, vi mô. Mark Twain đã khắc tạc những cái tôi cá nhân

dụng tiếng cười trong nền văn hoá trào tiếu dân gian để dựng lên những nhân
vật mang sắc thái hài trác tuyệt.
3.1. Xác lập phạm vi nghiên cứu
Căn cứ vào tính chất của tất cả các biểu hiện và thể hiện thiên hình vạn
trạng của nền văn hoá trào tiếu dân gian, Bakhtin đã chia thành ba loại hình
thức cơ bản: Những hình thức nghi lễ diễn trò (các hội hè kiểu hội giả trang,
các trò diễn trào tiếu công cộng khác nhau,…); Những tác phẩm ngôn từ
trào tiếu khác nhau (trong đó có các tác phẩm giễu nhại): truyền khẩu và
thành văn, bằng tiếng Latin và các thứ tiếng dân dã; Những hình thức và thể
loại ngôn ngữ suồng sã chợ búa quảng trường (mắng chửi, nguyền rủa, thề
bồi, các lối nói chế nhạo dân gian…)
Điều kì lạ là sáng tác của Mark Twain (đặc biệt trong Huck Finn) đều
ghi dấu ấn của cả ba hình thức trên. Bởi vậy, trong chương này chúng tôi
tiến hành nghiên cứu nghệ thuật xây dựng nhân vật của Mark Twain dưới
ánh sáng của nền văn hoá trào tiếu dân gian qua ba loại hình thức nói trên.
3.2. Nhân vật qua tiếng cười Carnaval
Từ quan điểm của Bakhtin về bản chất tiếng cười carnaval (tính toàn dân,
tính phổ quát, tính nhị chức năng), chúng tôi đi vào xem xét khả năng sử dụng
tiếng cười để khắc hoạ chân dung nhân vật trong sáng tác của Mark Twain,
đồng thời chỉ ra ý nghĩa của tiếng cười ấy trong từng trường hợp cụ thể.
Hành động đầu tiên trong hội giả trang bao giờ cũng là hành động đeo mặt
nạ. Mặt nạ trở thành “mô típ cực kỳ phức hợp và đa nghĩa trong văn hoá dân
gian. Mặt nạ gắn liền với niềm vui của sự đổi thay và hoá thân… mặt nạ liên
quan đến những đổi dạng biến hình, những sự phá vỡ các giới tuyến tự nhiên,
liên quan đến cười nhạo, đặt ra tục danh… Ở mặt nạ biểu lộ rất rõ nét bản chất
của hình tượng nghịch dị”. Mang trong mình tất cả những ý nghĩa trên, motif
mặt nạ được Mark Twain vận dụng một cách độc đáo đầy sáng tạo, vẽ nên
những diện mạo, đem lại tiếng cười đa tầng nghĩa trong các tác phẩm của ông.
Xuyên suốt sáng tác của Mark Twain, tiếng cười toát lên khi các nhân
vật mang mặt nạ là phổ biến. Hình dung Huck Finn như là một vở bi – hài

thống thẩm mỹ của nhà văn, phát huy những tác dụng hết sức bất ngờ.
Sáng tác của Mark Twain là một sự kế thừa và sáng tạo nguồn mạch dân
gian. Giải phẫu tác phẩm của ông, ta bắt gặp những mảnh vỡ chi chít của
nền văn hoá dân gian đã tồn tại trong hằng bao thế kỷ. Đặc biệt tiếng cười
của Mark Twain có mối quan hệ đặc biệt với tiếng cười dân gian, mà tính
chất carnaval là một minh chứng tiêu biểu. Không đếm xỉa, hoặc coi nhẹ sự
xuất hiện của các yếu tố văn hoá dân gian, với một tần số lớn trong sáng tác
của Mark Twain, sẽ có thể làm méo mó các hình tượng nhân vật của ông.
Bởi chính cái chất dân gian đặc thù và có thể nói là triệt để trong hình tượng
gây cười của Mark Twain đã tạo nên tính tiềm ẩn và súc tích vô cùng của
chân dung các nhân vật. Một “tiếng cười có sức mạnh tuyệt vời kéo đối
tượng lại gần, tiếng cười lôi cuốn đối tượng vào khu vực tiếp xúc thân mật
đến thô bạo”. Cũng cần phải thấy rằng, cội nguồn dân gian không phải là
yếu tố duy nhất làm nên hình tượng tiếng cười Mark Twain. Vốn là yếu tố

17
năng động, co giãn linh hoạt, thông qua tài năng sáng tạo của Mark Twain,
tiếng cười dân gian hội nhập với tiếng cười hài hước hiện đại, làm nên chỉnh
thể nghệ thuật hài hoà – một tiếng cười mang đậm bản sắc Hoa Kỳ, một
tiếng cười của riêng Mark Twain không lẫn với bất kỳ ai.
Là người am hiểu sâu sắc bản chất cuộc sống – tính nước đôi, tính vận
hành – lại sở hữu một lòng yêu đời sâu xa không thể dập tắt của bản tính con
người, Mark Twain đã lựa chọn tiếng cười – như một công cụ để xây dựng
nhân vật, để bóc trần bản chất xã hội – làm kênh giao tiếp với độc giả, bởi
ông hiểu rằng “có những phương diện rất hệ trọng nào đó của thế giới chỉ có
thể được thâu tóm bằng tiếng cười”.
3.3. Nhân vật qua sự giễu nhại các tác phẩm ngôn từ
Thâm nhập vào hành trình phiêu lưu của Huck Finn, chúng ta sẽ rất
ngạc nhiên khi thấy các nhân vật của Mark Twain nhắc đến một loạt văn bản
văn chương nổi tiếng của nhân loại: Nghìn lẻ một đêm, Cây đèn thần,

trong khi việc đọc theo tuyến tính, chung cho các tác phẩm văn chương và
không văn chương, chỉ sản sinh nghĩa”. Sự xuất hiện của các tác phẩm ngôn
từ mang lại tiếng cười trào tiếu còn là cách Mark Twain tạo độ mở, tạo
khoảng trống cho người đọc đồng sáng tạo trong Huck Finn. Đó chính là tính
chất để ngỏ xuất phát từ tiếng cười trong sáng tác của Mark Twain, bởi theo
Bakhtin: “Bất kỳ tính xác định và hoàn tất nào ngang tầm với thời đại, đều ở
mức độ nào đó nực cười, bởi vì dù sao chúng vẫn hữu hạn. Nhưng tiếng cười
thì vui vẻ, bởi bất kỳ tính xác định hữu hạn nào (và vì thế là hoàn kết), khi
diệt vong và phân rã, sẽ làm nảy sinh những khả năng mới”. Mang theo và
cuốn theo trong mình những vỉa tầng văn hoá, cách viết của Mark Twain luôn
mở, và vì thế hình tượng nhân vật của ông cũng đa diện. Không chỉ tiềm ẩn
những suy tư triết lí về nhân sinh, hình tượng nhân vật của ông còn mang lại
những khả năng thông điệp sâu sắc về văn chương nghệ thuật.
3.4. Ngôn ngữ suồng sã – quảng trường
Một trong những thủ pháp, ghi đậm dấu ấn phong cách Mark Twain trong
việc khắc hoạ chân dung nhân vật là hình thức ngôn ngữ suồng sã – quảng
trường (mắng chửi, nguyền rủa, thề bồi, các lối nói chế nhạo dân gian…)
3.4.1. Lời mắng chửi
Theo Bakhtin: “đặc trưng cho ngôn ngữ suồng sã chợ búa quảng trường
là việc sử dụng khá phổ biến những lời mắng chửi”. Ông cũng chỉ ra tính nhị
chức năng của hình thức ngôn ngữ này khi viết: “mặc dù lời khen và lời chửi
có sự phân biệt trong ngôn ngữ, nhưng trong khẩu ngữ quảng trường chúng
dường như hoà nhập vào một thân thể thống nhất nào đó có dáng vóc hẳn
hoi, thân thể đó trách mắng lời ngợi khen và ngợi khen lời trách mắng. Vì
thế trong khẩu ngữ suồng sã nơi quảng trường những câu chửi rất hay được
sử dụng với ý nghĩa ngợi khen hoặc âu yếm”.
Rõ ràng tính nhị chức năng của ngôn ngữ cũng đồng thời là tính nước
đôi của các giá trị là bản chất tiếng cười hài hước của Mark Twain. Ở đây,
lời khen và lời mắng, lời yêu thương và lời giận dỗi như là hai mặt của tấm
huy chương. Không thể vạch ra ranh giới rõ rệt giữa chúng, không thể chỉ ra

mực phép tắc của khu vực ấy và vì thế chúng đã di cư vào khu vực ngôn ngữ
phóng khoáng, suồng sã nơi quảng trường”. Bakhtin cũng chỉ ra nội dung
chủ yếu của những lời thề: chúng đều đưa ra một khía cạnh nào đó của cơ
thể con người “phanh xẻ cơ thể con người thành mảnh nhỏ”.
Lời thề nguyền đầu tiên ta bắt gặp trong Tom Sawyer là lời thề của Tom
và Huck sau khi chứng kiến cảnh chém giết nhau ở nghĩa địa lúc nửa đêm.
Rõ ràng đây là kiểu thề quảng trường, nó đưa ra “hình tượng cơ thể nghịch
dị”; lộn trái cơ thể, phơi bày hạ tầng của nó. Lời thề này còn đặc trưng bằng
“tính hướng hạ”, cụ thể ở đây là “ngã lăn ra chết tươi trên đường”. Đưa ra
một lời thề rất nghiêm túc và có phần trang trọng lúc này, là sự chuẩn bị để
làm bùng phát, toả sáng tính cách nhân vật Tom sau này. Tất nhiên Tom đã
phải trải qua một giai đoạn đấu tranh căng thẳng trước khi quyết định ra toà
làm chứng cho Muff Porter. Chi tiết này càng chứng minh sự dũng cảm của
Tom, bởi đúng như cách ngôn của chàng ngốc Wilson: “sự dũng cảm sinh ra
là để chống lại sự sợ hãi, nó là cách chế ngự sự sợ hãi, chứ không phải là
vắng mặt của nỗi sợ. Nếu một người không có chút hèn nhát nào thì khó có
thể gọi anh ta là dũng cảm”.

20
Trong Huck Finn cũng xuất hiện một lời thề mà nội dung của nó rất đặc
trưng cho lời thề quảng trường. Chủ nhân của lời thề này không ai khác ngoài
Tom. Rõ ràng đây là lời thề nguyền quảng trường, không chỉ bởi vì nó có
nguồn gốc từ những vỉa tầng văn hoá cổ xưa, từ trong sách vở như lời công
nhận của Tom, mà từ trong nội dung của lời thề, đó là sự “phanh xé cơ thể
mang tính giải phẫu” (chặt đầu, thiêu xác), tính hướng hạ (rắc tro). Lời thề ấy
là một hành động hạ thấp mạnh mẽ và ghê gớm. Cho dù đó chỉ là những ngôn
từ học trong sách vở của Tom, thì điều không thể phủ nhận ở đây là bạo lực
nhan nhản ngoài xã hội đã xâm nhập vào tâm hồn thơ ngây trong trắng của
những đứa trẻ. Tiếng cười dí dỏm toát lên từ lời thề suồng sã của Tom vì vậy
không thể không mang ý nghĩa cảnh báo.

quan hệ gần gũi với con số “nghịch dị” của Rabelais. Tuy nhiên nếu ở
Rabelais “phần lớn các con số đều gây ngạc nhiên và đạt hiệu quả gây cười
bởi tính phóng đại nghịch dị của chúng”, thì cách làm của Mark Twain là
ngược lại. Các con số của Mark Twain không hề phóng đại mà rất chi tiết,
rất cụ thể chính xác cho dù đó chỉ là phỏng đoán, hay cảm giác của nhân vật.
Mark Twain đã cụ thể hoá nhân vật của mình qua ngôn ngữ của những
con số. Cho dù có chịu sức ép của cảm giác đến mức nào, thì tính hài hước
vẫn là đặc điểm nổi bật của các con số chỉ thời gian trong Huck Finn.
Có thể nói xuyên suốt Huck Finn từ trang đầu đến trang cuối là sự
“nhấp nháy” liên tục của những con số biết cười. Gắn liền với cuộc du hành
của nhân vật, những con số góp phần bộc lộ chiều sâu của tính cách, soi
chiếu bản thể, khám phá những khả năng của cuộc sống.
*
Những yếu tố văn hoá dân gian folklore, văn hoá hội giả trang, không
chỉ chi phối thế giới quan, mà còn tồn tại như một kiểu tư duy nghệ thuật
trong việc xây dựng hình tượng nhân vật, tạo nên tiếng cười phức hợp, đa
tầng trong tiểu thuyết Mark Twain. Nghĩa là, văn hoá dân gian đã nhập vào
hệ thống thẩm mỹ của nhà văn, phát huy những tác dụng hết sức bất ngờ.
Mark Twain khai thác tối đa hiệu quả nghệ thuật của motif mặt nạ trong
việc khắc hoạ chân dung nhân vật, mang “mặt nạ” là khởi đầu cho cuộc viễn
du. Đằng sau “mặt nạ” là đời sống thiên hình vạn trạng với tất cả sự phong
phú phức tạp của nó. Mark Twain còn mượn không gian quảng trường, nghi
lễ dân gian làm môi trường thấu chiếu tâm địa con người, buộc nó phải bộc
lộ bản chất vốn thường được che đậy một cách vô tình hay hữu ý.
Bằng lối viết mở, mang theo và cuốn theo những vỉa tầng văn hoá,
những mảnh hình hài văn chương, Mark Twain bộc lộ chiều sâu trong tâm
hồn tính cách nhân vật thông qua thức nhận của họ về các giá trị tinh thần
của nhân loại. Liên tầng văn bản nảy sinh liên tầng giá trị và ý nghĩa. Sự
hiện diện của các văn bản văn chương nổi tiếng của nhân loại góp phần soi
rọi bản thể, tâm hồn nhân vật, và đến lượt mình các nhân vật của Mark

hiện lại thế giới sống động của lứa tuổi thần tiên, vừa soi chiếu thế giới
người lớn dưới ánh sáng mới buộc nó phải bộc lộ tất cả sự phi lí, máy móc,
nhàm tẻ. Điểm nhìn thằng ngốc – minh triết cũng là cách lạ hoá trần thuật
của Mark Twain. Đó là thuốc thử cho cái khôn ngoan phổ quát của cộng
đồng vốn đã quen với cách nhìn hời hợt, phi nhân. Trong đường biên không
thể phân định rạch ròi giữa người lớn và trẻ thơ, giữa ngốc nghếch và thông
thái, nhân vật của Mark Twain hiện lên sống động hơn, người hơn “với tất
cả sự cao quý và hèn hạ của con người”.
Việc dịch chuyển điểm nhìn từ ngoài vào trong, từ hành động sang tâm
lí còn làm cho nhân vật của Mark Twain khác về chất so với nhân vật của
các tiểu thuyết phiêu lưu truyền thống. Mark Twain đã kiến tạo những cuộc
phiêu lưu vào ngõ nghách ẩn kín của tâm hồn, để khám phá chiều sâu bản
thể, tìm kiếm “con người trong con người”. Đó là cách tân lớn của Mark
Twain ở cấp độ thể loại. Todorov cho rằng: “những kiệt tác lớn thường sáng
tạo nên, theo một cách nào đấy, một thể loại mới, đồng thời cũng vi phạm
các quy tắc của thể loại vẫn lưu hành trước đó”.
Đằng sau điểm nhìn dịch chuyển là cả một thế giới hiện thực với các
vấn đề nền tảng của xã hội. Đó là hoàn cảnh điển hình để làm nổi bật tính
cách nhân vật của Mark Twain. Mark Twain không thể hiện con người
thông qua những cái bí ẩn, khác thường, mà luôn đặt nhân vật của mình
trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày. Ý nghĩa nhân sinh toát lên qua những
cái nhỏ bé, vặt vãnh đời thường là cách làm quen thuộc của Mark Twain. Bi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status