Ngôn ngữ mảnh vỡ trong tiểu thuyết của Toni Morrison - Pdf 13

1
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
2. MỤC ĐÍCH, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2
2.1. Mục đích nghiên cứu 2
2.2. Đối tượng nghiên cứu 3
2.3. Phạm vi nghiên cứu 3
3. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 4
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5
5. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN 6
6. CẤU TRÚC CỦA LUẬN ÁN 6
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 7
1.1. PHÊ BÌNH LÍ LUẬN VỀ “MẢNH VỠ” 7
1.1.1. Trên thế giới 7
1.1.2. Ở Việt Nam 10
1.2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ TONI MORRISON 16
1.2.1. Nghiên cứu về Toni Morrison trên thế giới 16
1.2.2. Nghiên cứu về Toni Morrison ở trong nước 33
Chương 2: KHÁI NIỆM “NGÔN NGỮ MẢNH VỠ” 40
2.1. NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT 40
2.2. “NGÔN NGỮ MẢNH VỠ” 47
2.2.1. Mảnh vỡ như là đặc trưng của tư duy hậu hiện đại 51
2.2.2. Nội hàm khái niệm 62
Chương 3: NGÔN TỪ MẢNH VỠ 65
3.1. NGÔN TỪ HỖN ĐỘN 66
3.1.1. Mảnh vụn ngôn từ – tấm gương của thế giới đảo ngược 69
3.1.2. Sức mạnh phá hủy của ngôn từ trong thế giới ảo 74
3.2. NGÔN TỪ RỜI RẠC VÀ PHI CHUẨN 79
3.2.1. Ngôn từ rời rạc 79
2

Luận án này được hoàn thành tại khoa Ngữ văn, Bộ môn Lý luận văn
học, trường Đại học Sư phạm Hà Nội.
Lời đầu tiên, cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới GS.TS.
Lê Huy Bắc, người Thầy đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo cho tôi
những kiến thức quý giá trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu;
giúp tôi có thể hoàn thành luận án.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong trường Đại học Sư phạm
Hà Nội, các thầy cô trong Bộ môn Lí luận văn học và Văn học nước
ngoài của nhà trường, đã nhiệt tình giúp đỡ và truyền đạt cho tôi
những kiến thức và phương pháp nghiên cứu khoa học trong suốt quá
trình học tập và hoàn thiện luận án này.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè, những người
thân luôn ủng hộ và động viên tôi trong suốt quá trình học tập và
nghiên cứu.
Xin trân trọng cảm ơn.
Hà Nội, tháng 10 năm 2013
Tác giả
ThS. Nguyễn Thị Minh Thảo
MỞ ĐẦU
5
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Lần đầu tiên trong văn học Hoa Kỳ (Mỹ), nữ văn sĩ người da đen Toni
Morrison đã nhận được giải thưởng Nobel văn học cao quý. Viện Hàn lâm
Thụy Điển khi công bố giải thưởng đã nhận định Morrison là một “văn sĩ
thượng thặng”, mà tác phẩm “được khắc họa đẹp đẽ và gắn bó một cách kì diệu
với cuộc sống, con người”. Tình yêu và sức sống, bi kịch, khát vọng và nỗi
đau… của người nô lệ da đen đã được thể hiện bằng một tài năng nghệ thuật
trác tuyệt. Tất cả những điều ấy đã hoà trộn và tạo nên vẻ đẹp kinh ngạc trong
những tác phẩm của bà. Tiểu thuyết của Toni Morrison đã gây chấn động và
thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu phê bình trên thế giới.

tiểu thuyết của Toni Morrison (Fragmentary language in Toni Morrison’s
novels) với mong muốn đưa ra một hướng tiếp cận khả dĩ khám phá được
những lớp ý nghĩa nghệ thuật ẩn sâu trong tác phẩm của nữ văn sĩ da màu này.
Thực hiện đề tài, chúng tôi hi vọng sẽ góp phần mở ra một hướng nghiên
cứu mới đối với ngành lí luận văn học. Đó là nghiên cứu các tác phẩm văn học
hậu hiện đại thế giới dưới góc nhìn kí hiệu học hậu hiện đại. Nó sẽ giúp chúng
ta khai phá những khung trời mới lạ bằng sắc màu kì diệu của nghệ thuật, khắc
phục được những hạn chế của các cách tiếp cận trước đây, chủ yếu là tiếp cận ở
phương diện thế giới quan, tư tưởng hệ. Thành công của luận án sẽ có đóng
góp thiết thực cho việc thúc đẩy xây dựng diện mạo hệ thống lí thuyết về
nghiên cứu phê bình văn học hậu hiện đại trong nước, một gương mặt vừa quen
thuộc vừa đầy lạ lẫm.
2. MỤC ĐÍCH, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
2.1. Mục đích nghiên cứu
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu ngôn ngữ mảnh vỡ trong tiểu thuyết của
Morrison để thấy những đặc trưng nghệ thuật của Morrison, những sáng tạo,
cách tân của bà trong sáng tác.
Trên cơ sở đó, luận án hướng đến những vấn đề thuộc về văn hóa da trắng, da
đen trong sự xung đột, hòa giải và những di chứng không thể xóa bỏ giữa các chủng
tộc áp bức và bị áp bức trong đời sống con người thời hậu hiện đại.
Về mặt lí luận, khái niệm ngôn ngữ mảnh vỡ, một đặc trưng của văn học
hậu hiện đại cũng được làm rõ, có thể trở thành một công cụ để nghiên cứu văn
7
học hậu hiện đại nói chung.
2.2. Đối tượng nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu thế giới nghệ thuật của tiểu thuyết
Morrison. Trọng tâm là cách biểu đạt, cách cắt nghĩa thế giới ấy bằng hình
tượng ngôn từ. Sau khi xác lập khái niệm ngôn ngữ mảnh vỡ, luận án khảo sát
ngôn ngữ mảnh vỡ trong tiểu thuyết của bà ở các phương diện cơ bản là lớp
ngôn từ mảnh vỡ và lớp nhân vật mảnh vỡ. Chúng tôi quan niệm “ngôn từ” và

xác lập nội hàm khái niệm ngôn ngữ mảnh vỡ như là một đặc trưng diễn ngôn
của thời kì hậu hiện đại nói chung và văn học hậu hiện đại nói riêng.
Tiếp đó, chúng tôi vận dụng khảo sát trên ba tiểu thuyết tiêu biểu của
Toni Morrison. Tác phẩm của bà mang đặc trưng của tiểu thuyết hậu hiện đại,
với những sáng tạo nghệ thuật độc đáo, mới lạ, đóng góp cho văn học thế giới
những diện mạo mới.
Song song với quá trình nghiên cứu, chúng tôi tiến hành dịch tiểu thuyết
Bài ca của Solomon (Song of Solomon) sang tiếng Việt. Công việc nghiên cứu
và dịch thuật tác phẩm của Toni Morrison góp phần giới thiệu những di sản
văn hóa của nhân loại, làm phong phú kho tàng văn học nước ngoài ở Việt
Nam. Trước mắt, luận án giúp sinh viên tiếp cận với nền văn học Mỹ – Phi, với
phong cách nghệ thuật độc đáo, những cách tân mạnh mẽ, tinh thần nhân văn
lớn lao của các tác giả đương đại.
Luận án có ý nghĩa khoa học, có đóng góp thiết thực cho việc nghiên cứu
lí thuyết phê bình hậu hiện đại, đó là việc nghiên cứu một thuật ngữ lí luận
công cụ và tập dượt vận dụng nghiên cứu những tác phẩm văn xuôi hậu hiện
đại, một lĩnh vực hãy còn khá mới mẻ ở trong nước.
Ở Việt Nam, đây là luận án đầu tiên có tính chất tổng hợp, khái quát về
thế giới nghệ thuật tiểu thuyết Morrison trên những phương diện cơ bản. Luận
án đã tập hợp được một số nhận định về đặc trưng nghệ thuật tiểu thuyết, đặc
biệt là tính mảnh vỡ – đặc trưng của văn học hậu hiện đại – trong tiểu thuyết
của bà.
Luận án cũng làm nổi bật được sự độc đáo trong nghệ thuật trần thuật,
khẳng định ngôn ngữ mảnh vỡ trong thế giới tiểu thuyết Morrison, một lối hành
văn táo bạo, mới mẻ, kiệt xuất.
9
Thành công của luận án bắc một cây cầu nhỏ cho những người nghiên cứu
tiếp theo về thế giới nghệ thuật của Morrison nói riêng, cũng như nghiên cứu
về văn học hậu hiện đại nói chung.
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Về thế giới nghệ thuật tiểu thuyết Morrison, luận án làm sáng tỏ nghệ
thuật ngôn ngữ mảnh vỡ, khẳng định những giá trị chân, thiện, mỹ và những
đóng góp lớn của Morrison đối với văn học hậu hiện đại thế giới – một nữ nhà
văn hãy còn khá mới mẻ đối với bạn đọc Việt Nam.
6. CẤU TRÚC CỦA LUẬN ÁN
Sau phần Mở đầu, luận án được triển khai theo bốn chương như sau:
Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Khái niệm “Ngôn ngữ mảnh vỡ”
Chương 3: Ngôn từ mảnh vỡ
Chương 4: Nhân vật mảnh vỡ
Các chương này dù đứng độc lập vẫn có mối quan hệ mật thiết với nhau,
cùng hướng vào việc chỉ ra đặc trưng nghệ thuật tiểu thuyết Morrison và ý
nghĩa của nó đối với nghiên cứu, phê bình lí luận văn học.
Cuối cùng là phần Kết luận, Danh mục các công trình liên quan đến đề
tài luận án và Tài liệu tham khảo.
Chương 1
11
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Ở chương tổng quan này, chúng tôi tiến hành khảo sát, tóm tắt, tổng thuật
những luận điểm cơ bản trong các công trình nghiên cứu có liên quan đến tính
mảnh vỡ ở trong nước và trên thế giới, cũng như những công trình khảo cứu
chuyên sâu về vấn đề này trong tiểu thuyết của Toni Morrison.
1.1. PHÊ BÌNH LÍ LUẬN VỀ “MẢNH VỠ”
1.1.1. Trên thế giới
Khó có thể bao quát hết mảng tài liệu này đối với việc nghiên cứu xuất
phát từ Việt Nam. Dẫu sao, chúng tôi cũng cố gắng thu thập các công trình
nghiên cứu trong phạm vi có thể. Dưới đây là những tài liệu chúng tôi có được
ở vào thời điểm thực tại.
Thuật ngữ mảnh vỡ (còn gọi là tính phân mảnh, ghép mảnh, mảnh ghép),
là một trong những đặc tính nổi bật của văn học hậu hiện đại. Các nhà nghiên

Jonathan Baumbach quan sát một truyện ngắn trong tập Sự trở về của
nghi lễ (The Return of Service,1979), và nhận định nếu “bạn đọc một truyện
trong thời buổi này thì nó không hề là câu chuyện một tẹo nào cả, không hề có
những cảm xúc truyền thống” [131;126].
Các nhà văn hậu hiện đại không tin tưởng ở sự trọn vẹn và tính hoàn
chỉnh, người bạn đồng hành của các câu chuyện trong quá khứ. Một trong
những cách để thay thế đó là sự đa kết thúc (nhiều khả năng kết thúc cho một
câu chuyện), điều này đã chống lại sự đóng kín bằng cách đưa ra rất nhiều kết
thúc cho một cốt truyện.
Theo nghiên cứu của Stuart Sim, một số nhà văn khác phá vỡ cách kể
chuyện theo trình tự có mở đầu, kết thúc trọn vẹn bằng những cách khác nhau:
“Fowles phá vỡ lối kể chuyện bằng cách nhảy dù, (phô bày sự thân mật, gần
gũi) của ông với Marx, Darwin và những người khác. Ông trực tiếp nói chuyện
với người đọc, thậm chí ở một mức độ bước hẳn vào trong câu chuyện của
chính ông với tư cách như là một nhân vật. Đa kết thúc là một phần của những
chiến thuật nhảy dù đó. Fowles từ chối chọn lựa giữa hai kết cục hoàn chỉnh
cho tiểu thuyết của ông: kết thúc thứ nhất là Charles và Sarah tái hợp sau
13
chuyện tình giông bão, kết thúc thứ hai là họ tiếp tục tách rời, không thay đổi.
Do đó ông tạo nên một yếu tố chính không chắc chắn trong cuốn sách. Ông
thậm chí còn dây dưa đến một khả năng thứ ba, đó là để Charles ở trên tàu, tìm
kiếm Sarah trong thành phố: ‘nhưng quy ước ngầm của tiểu thuyết Victorian
cho phép, không có điểm bắt đầu, không có kết thúc ’” [131;127].
Một cách thức khác để phá vỡ tính hoàn kết của văn học truyền thống là
“làm cho không có điểm bắt đầu và không có kết thúc, bằng cách bẻ gẫy văn
bản thành những mảnh vụn hoặc từng phần, bị chia cắt bởi không gian, nhan
đề, các con số hoặc các biểu tượng. Tiểu thuyết và truyện ngắn của Richard
Brautigan và Donald Barthelme đầy ắp những mảnh vỡ. Một số tác giả khác
thậm chí còn đi xa hơn và mảnh vỡ là của chính kết cấu văn bản với các hình
minh họa, bản in hoặc trộn lẫn với điện ảnh. Như Raymond Federman đưa nó

nghĩa hậu hiện đại” [131;128].
Có thể thấy, mảnh vỡ là một đặc trưng tiêu biểu của văn học hậu hiện đại
phương Tây. Các nhà văn hậu hiện đại đã nói bằng ngôn ngữ mảnh vỡ, thứ
ngôn ngữ nghệ thuật, mà theo họ, có thể giải phóng được tư duy, xúc cảm, thể
hiện sinh động vẻ đẹp vốn có của cuộc sống. Những sáng tạo mới lạ của các
nhà văn hậu hiện đại trong ngôn ngữ mảnh vỡ trên các yếu tố: ngôn từ, nghệ
thuật kể chuyện, nhân vật, cốt truyện, theo chúng tôi nhận thấy, như là một
biểu hiện chống lại những trung tâm đã cũ mòn, xơ cứng, muốn phá vỡ, bẻ gẫy,
lật tung, đào xới tất cả, muốn tìm đến những mảnh đất mới lạ cho sáng tác
nghệ thuật, đồng thời, đó cũng là biểu hiện của sự khao khát thoát khỏi những
hệ thống quy tắc, chuẩn mực đã lỗi thời, khiến họ ngạt thở, không còn khả
năng tái sinh. Ngôn ngữ mảnh vỡ, là một sáng tạo đặc biệt thành công của các
nhà văn hậu hiện đại, để có thể thể hiện, bộc lộ tâm thức của con người thời
đại.
1.1.2. Ở Việt Nam
Thuật ngữ “mảnh vỡ” cũng giành được sự quan tâm thích đáng trong
nghiên cứu phê bình văn học ở Việt Nam. Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc gia
tháng 1 năm 2013 Văn học hậu hiện đại – lí thuyết và thực tiễn, có 5/30 bài
trực tiếp nghiên cứu về mảnh vỡ, đề cập đến các vấn đề từ cốt truyện đến nhân
vật, ngôn từ mảnh vỡ. Đó là các bài “Kiểu nhân vật phụ nữ mảnh vỡ trong
Thằng điên và quỷ sứ của Sarkadi Imre” của Mai Thị Liên Giang; “Cốt truyện
15
phân mảnh, lắp ghép trong tác phẩm của Murakami” của Nguyễn Anh Dân;
“Về mảnh vỡ ngôn ngữ của David Lurie trong Ruồng bỏ của J.M. Coetzee” do
Nguyễn Thị Ngọc Thủy viết; “Ngôn từ mảnh vỡ trong tiểu thuyết của Toni
Morrison” của Nguyễn Thị Minh Thảo; “Kí hiệu rỗng trong ngôn ngữ trần
thuật của Kafka” của Đoàn Thị Việt Nga. Ngoài ra, hầu hết các bài viết còn lại
đều có đề cập đến thuật ngữ mảnh vỡ như là một đặc trưng của văn học hậu
hiện đại.
Trong bài đề dẫn Hậu hiện đại như là một siêu ngôn ngữ, Lê Huy Bắc

ở chủ nghĩa hậu hiện đại, xã hội là giải kết hợp, là không thể liên kết được với
nhau, là nằm trong trạng thái tâm thần phân lập. Tính đa trị được hiểu là như
thế” [68;13].
Trong bài Phân tâm học cấu trúc và lí thuyết ngôn ngữ của J. Lacan,
Châu Minh Hùng phân tích tính luôn luôn phân mảnh của ngôn ngữ do bản
chất của ngôn ngữ khi được diễn đạt ra bên ngoài sau khi đã được sắp xếp, cắt
xén, biên tập bởi ý thức (do trật tự và luật lệ quy định, chi phối). “Trong cách
nhìn ấy, với Lacan, vô thức là một cấu trúc phức tạp của tinh thần, nó chỉ bắt
đầu xuất hiện khi con người tham gia vào đời sống văn hóa xã hội. Nó là sản
phẩm của xung đột và hòa hoãn giữa tự nhiên và văn hóa xã hội, giữa ham
muốn và trật tự luật lệ, giữa tính toàn vẹn và tính bị phân mảnh. Điểm khác
biệt giữa Lacan với Freud là trong khi Freud nhấn mạnh vào bản tính tự nhiên
và sinh lí mà con người có thể nhận diện thông qua kết tập các mảnh vỡ trong
giấc mơ, Lacan lại nhấn mạnh vào tính văn hóa xã hội đã tạo ra lối mòn và sự
chệch hướng trong nhận thức thông thường. Theo Lacan, bản tính tự nhiên và
sinh lí là cái toàn vẹn nhưng không thể nhận diện được trọn vẹn vì nó luôn
luôn bị phân mảnh, tức bị cắt xén, biên tập bởi trật tự và luật lệ của Biểu trưng.
Bao viền xung quanh đời sống chúng ta là những Biểu trưng với hình thức ước
lệ là kí hiệu ngôn ngữ, cho nên không có chủ thể nào độc lập với trật tự Biểu
trưng và ngôn ngữ, chính Biểu trưng và ngôn ngữ đã đi vào chiều sâu tinh thần
và điều hành cuộc sống của chúng ta, nó che đậy và kìm nén sự thực và tư
tưởng làm cho chúng ta rơi vào trạng thái vô minh hay ngộ nhận
(misrecognition). Nói một cách đơn giản (trong khi bản chất của vấn đề không
hề đơn giản), chúng ta luôn bị (nhưng lại tự tin là được) nói và hành động theo
các nguyên tắc của trật tự và luật lệ mà quên rằng thực chất cuộc sống không
17
phải thế, chúng ta ít có cơ hội phản tỉnh rằng, các Biểu trưng và ngôn ngữ đã
tạo thành thứ mặt nạ che đậy thực chất cuộc sống luôn muốn nổi loạn ở xung
quanh chúng ta và trong chúng ta” [68;34].
Nghiên cứu về Nhân vật hậu hiện đại trong truyện ngắn Việt Nam sau

cách, khiến cho người đọc khó theo dõi, khó giải mã. Phân mảnh là một hình
thức đặc trưng của tư duy hậu hiện đại, nơi mà mọi giá trị đều bị phá vỡ và cảm
quan “phân mảnh” về thế giới ngự trị” [68;157].
Với bài Kiểu nhân vật mảnh vỡ phụ nữ trong “Thằng điên và Quỷ sứ”
của Sarkadi Imre, Mai Thị Liên Giang khảo sát và thấy nhân vật trong tác
phẩm này là những con người mảnh vỡ – đặc trưng của nhân vật hậu hiện đại,
lạc loài, cô đơn, không tính cách, không tình cảm, mất liên lạc với nhau. “Cũng
như nhiều nhà văn hậu hiện đại khác, một trong những thủ pháp nghệ thuật của
Sarkadi Imre là xây dựng kiểu nhân vật mảnh vỡ. Tiếp xúc với các nhân vật
trong tác phẩm, chúng ta gặp các nhân vật với những đổ vỡ, chấn thương tinh
thần trước những điều phi lí của xã hội. Trong Thằng điên và quỷ sứ, kiểu nhân
vật này thể hiện rõ nhất qua hình ảnh bác sĩ Sebuếc Dôntan. Mảnh vỡ là
khuynh hướng sáng tác tiêu biểu của chủ nghĩa hậu hiện đại. Đơn giản bởi
mảnh vỡ chính là bản thể của hiện tồn hậu hiện đại” [68;205].
Ngôn ngữ mất chức năng giao tiếp, ngôn ngữ vô nghĩa, vô hồn, ngôn ngữ
bất lực là những đặc điểm ngôn ngữ của nhân vật David Lurie trong tác phẩm
Ruồng bỏ, tác phẩm của nhà văn Nam Phi đoạt giải Nobel năm 2003 mà
Nguyễn Thị Ngọc Thủy đã chỉ ra trong bài viết Về “mảnh vỡ ngôn ngữ” của
David Lurie trong “Ruồng bỏ” của J.M. Coetzee. Những kiểu loại ngôn ngữ
đối thoại đó, tác giả cho rằng “Chúng tôi gọi kiểu ngôn ngữ đối thoại này là
ngôn ngữ có tính chất mảnh vỡ.” David Lurie mặc dù biết ba thứ tiếng nhưng
cuối cùng ấp úng không thể sử dụng được ngôn ngữ để diễn đạt suy nghĩ của
mình. “Ông hoàn toàn mất khả năng diễn đạt cho người khác hiểu tâm trạng
ngổn ngang và những suy nghĩ của mình về bản chất thật của cái mà người ta
gọi là nỗi nhục nhã ông đang mắc phải. Hơn ai hết, một giáo viên dạy thông tin
như ông hiểu rằng ngôn ngữ đang bị “sáo, mòn như bị mối ăn ruỗng từ bên
trong”. Chỉ còn các đơn âm là còn nghe thấy, thậm chí nghe cũng không hết”
[68;220]. Kiểu ngôn ngữ vô hồn đó thể hiện sự mất niềm tin và đứt vỡ trong
tâm hồn con người.
19

hậu cấu trúc, đề cao tính bất định, tính đứt đoạn, tính đa dạng và tính phân
20
mảnh. Chủ nghĩa hậu hiện đại chủ trương phi tâm hoá (de – centring), do đó,
chấp nhận những sự lắp ghép ngẫu nhiên (collage) và những sự nhại lại
(pastiche), chấp nhận sự kết hợp lỏng lẻo giữa các thành tố trong tác phẩm như
những thủ pháp nghệ thuật quan trọng. Khác với chủ nghĩa hiện đại vốn hoàn
toàn hướng đến tương lai, cổ vũ các cuộc cách mạng, khuyến khích mọi hành
vi phủ định và phản kháng, chủ nghĩa hậu hiện đại kết hợp cái nhìn về tương
lai với một chút hoài niệm đối với quá khứ, kết hợp dễ dàng giữa cái cũ và cái
mới, giữa truyền thống và sự cách tân” [153].
Như thế, mảnh vỡ là một trong những phạm trù trung tâm của của lí
thuyết phê bình hậu hiện đại. Các nhà nghiên cứu trong cũng như ngoài nước
đã sử dụng rộng rãi khái niệm này để khảo cứu tác phẩm văn chương hậu hiện
đại. Nhưng quả đúng như tinh thần hậu hiện đại, mỗi người sử dụng mỗi kiểu
và chưa có ai quy tụ thành khái niệm cụ thể. Chúng tôi nhận thấy, cũng chưa có
ai chỉ ra đặc trưng của ngôn ngữ hậu hiện đại là ngôn ngữ mảnh vỡ, mặc dù họ
có thể phân tích rất kỹ các biểu hiện của nó. Từ tất cả những quan điểm và cách
sử dụng trên, chúng tôi dựa vào đó để xác lập khái niệm “ngôn ngữ mảnh vỡ” ở
chương hai.
1.2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ TONI MORRISON
1.2.1. Nghiên cứu về Toni Morrison trên thế giới
Với sự nổi tiếng của mình, Toni Morrison được nghiên cứu hầu như là
rộng khắp thế giới, công việc đó vẫn đang tiếp diễn. Đến nay, việc thống kê có
bao nhiêu công trình nghiên cứu về bà gần như là không thể, kể cả việc hiểu
thấu đáo tác phẩm của bà vẫn là thách thức lớn đối với nhiều thế hệ nghiên
cứu. Xuất phát từ Việt Nam, nơi văn học Mỹ và Toni Morrison chưa được
nghiên cứu nhiều, thì đối với chúng tôi, việc tập hợp tài liệu tham khảo quả là
không dễ.
Qua khảo sát các công trình nghiên cứu tiểu thuyết Morrison, chúng tôi
thấy các khuynh hướng tiếp cận các tiểu thuyết của bà chủ yếu là: Phê bình nữ

Cuốn Mỹ học của Toni Morrison: Nói những điều không thể nói, (The
Aesthetics of Toni Morrison: Speaking the Unspeakable) tuyển công trình của
các tác giả: Marc C. Conner, Susan Corey, Barbara Johnson ), nhà nghiên cứu
Marc C. Conner viết “Số phận của Pecola trong tiểu thuyết này là mảnh vỡ và
22
sự tan rã tinh thần toàn diện: ‘Một sự hủy hoại tổng thể’. Bị tàn phá đồng thời
bởi sự tiếp xúc của cô với điều không thể nói và bởi sự phản đối cô của cộng
đồng, Pecola bị tổn thương tinh thần, được kí thác cho sự tồn tại vĩnh hằng trên
cái ngoại biên, “bên rìa thành phố”, vĩnh viễn vô gia cư. Miner miêu tả sự hủy
hoại tâm lí của cô như “một giới hạn cuối cùng mà việc xác định nhân dạng cô
là cả vấn đề” [85,52].
Viết về Nỗi xấu hổ và sự tức giận trong“Mắt biếc” (Shame and anger in
The Bluest Eye), Jill L. Matus nhận định: “Chấn thương của chủ nghĩa phân
biệt chủng tộc, đối với cả kẻ phân biệt chủng tộc lẫn nạn nhân, là sự vỡ mảnh
khốc liệt của một cái tôi” [111;36–37].
Morrison từng nói động cơ thúc đẩy bà bắt tay viết cuốn tiểu thuyết đầu
tiên là cảm giác về sự mất mát, sự trống rỗng. “Mọi thứ cứ trôi tuột quá nhanh
vào đầu những thập niên 1960 và 1970 thật náo nhiệt nhưng nó lại khiến tôi
bị mất mát Chẳng có cuốn sách nào về tôi, tôi không tồn tại trong bất cứ dòng
văn nào tôi đọc Con người này, phụ nữ này, người da đen này đã không tồn
tại như một cái tôi trung tâm”. Phản ứng lại cảm giác trống vắng và sự thiếu
mất trong hình dung đó, Mắt biếc là một lịch sử tưởng tượng về những gì nuôi
dưỡng người da đen và phụ nữ trưởng thành trong những thập niên 1930 và
1940, nhưng còn có cách thức quan trọng khác, theo đó nó phản ứng lại những
phong trào chính trị đường thời – cái cách mà mọi thứ đang di chuyển quá
nhanh vào đầu những thập niên 1960 và 1970.
Trong bài viết Toni Morrison: Tra cứu văn chương về cuộc đời và sự
nghiệp của bà (Toni Morrison: A Literary Reference to Her Life and Work),
nhà nghiên cứu Carmen Gillespie nhận định về nguyên nhân sâu xa của sự tan
vỡ trong tâm hồn cô bé Pecola. Đó là do sự chấn thương tâm lý, sự đơn độc và

đã dựng Claudia như một người kể chuyện xưng “tôi” và vì thế đã đưa vào sự
kể một ai đó để “cảm thông” với Pecola và cũng để “làm chùng bớt sự cực
đoan” của sự kể. Nhưng với Morrison, bất chấp sự cẩn trọng của bà về cấu trúc
cuốn tiểu thuyết, thì vẫn còn vướng mắc ở trong “khu trung tâm” của sự trần
thuật” [73;1–3].
Trong quá trình khảo sát bài Đổ vỡ là một điều tồi tệ: Thế giới chia cắt
trong “Mắt biếc” (The Break Was a Bad One: The Split World of The “Bluest
Eye”), chúng tôi nhận thấy, tác giả đã đi sâu phân tích những chấn thương tâm
24
hồn, sự mất mát, cùng cực, những đau khổ và tủi nhục mà người da đen Mỹ
phải chịu đựng. Nguyên nhân chủ yếu ở đây, như tác giả đã chỉ ra và phân tích,
đó là do sự nô dịch về văn hóa. Người da đen bị áp đặt những chuẩn mực văn
hóa da trắng. Sự mất gốc và bị tẩy não đã khiến cho cuộc sống của họ trở thành
những tấn thảm kịch trên đất Mỹ. Mỗi nhân vật trong tác phẩm được mô tả ở
những mảnh vỡ, cuộc đời họ là một chuỗi dài những đổ vỡ, chia cắt, chấn
thương, tập trung điển hình ở nhân vật Pecola. Trong quá trình đi tìm bản sắc
và cái tôi, cô bé đã bị hủy hoại hoàn toàn.
Tác giả Lynda Koolish trong bài viết “Được yêu thương và hổ thẹn kêu
gào”: một cách đọc tâm lí học về“Người yêu dấu” của Toni Morrison (“To be
Loved and Cry Shame”: a psychological reading of Toni Morrison’s
‘Beloved’) cho bạn đọc thấy được sự vận dụng tâm lí học vào việc nghiên cứu
tác phẩm văn học. Ở đây, Koolish phân tích làm rõ các chấn thương tâm lí của
các nhân vật trong tác phẩm qua việc vận dụng các lí thuyết về phân tâm học.
Đây cũng là cơ sở để chúng tôi đi tìm hiểu cội nguồn mảnh vỡ trong tác phẩm
của Morrison.
Thứ hai, tiểu thuyết của Morrison được khám phá từ góc độ thi pháp
học.
Từ điển Wikipedia giới thiệu khá đầy đủ về phong cách Morrison ở mục
từ Beloved. Ngoài sơ lược về tiểu sử nhà văn, tóm tắt tác phẩm, còn có một số
nội dung thú vị khi đề cập đến các chủ đề được nói đến trong tác phẩm, như

giành lấy ý nghĩa cho vai trò, vị trí và bản sắc, họ phải đương đầu với một vấn
đề không thể tránh khỏi đó là bị chia tách. Tiểu thuyết của bà tràn ngập các
motif của sự phân mảnh. Các thực thể bị phân tách này là một chủ đề lặp đi lặp
lại trong tiểu thuyết của Morrison. Xuất hiện ở nhiều cấp độ, sự đa diện trong
một thực thể tác động đến những người kể chuyện, trật tự thế giới, các cá nhân,
các cặp vợ chồng, các gia đình, các khu dân cư, các chủng tộc” [121;83].
Nghiên cứu về Bài ca của Solomon, Vladimir Kleyman đã đi vào phân
tích các yếu tố chủ đề, motif và biểu tượng. Tác giả đã luận giải và làm rõ nghĩa
một số chủ đề, motif và biểu tượng trong tác phẩm: chuyến bay như là một
phương tiện để trốn chạy; những người phụ nữ bị bỏ rơi; sự bị xa lánh, hậu quả
của chủ nghĩa phân biệt chủng tộc; vấn đề tương đồng trong Kinh Thánh;
những cái tên; những bài hát; màu trắng; những bông hoa hồng giả và vàng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status