Luận án : Ngôn ngữ mảnh vỡ trong tiểu thuyết của toni morrison ( thông tin đưa lên website) - Pdf 22

1
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Lần đầu tiên trong văn học thế giới, nữ sĩ da đen người Mỹ gốc Phi
Toni Morrison đã nhận được giải thưởng Nobel văn học cao quý. Tiểu
thuyết của bà đã gây chấn động và thu hút sự quan tâm của nhiều nhà
nghiên cứu phê bình trên thế giới.
Toni Morrison đã kiến tạo một thế giới nghệ thuật đặc sắc, bằng ngôn
ngữ và lối tư duy của hệ hình hậu hiện đại: ngôn ngữ mảnh vỡ. Đặc điểm
nghệ thuật này đã tạo nên đặc trưng cho thế giới tiểu thuyết Morrison và
sự thành công vang dội của bà. Dường như tiểu thuyết của bà đã đạt được
vị trí những kiệt tác kinh điển. Người ta xếp bà vào cùng hạng với
Chekhov, Tagore, Kawabata, Gabriel Garcia Marquez, … những nhà nhân
văn của mọi thời đại.
Vấn đề mảnh vỡ đã được nhiều nhà nghiên cứu đề cập, tuy nhiên,
không thấy có một công trình nào nghiên cứu về ngôn ngữ mảnh vỡ trong
nghệ thuật tự sự tiểu thuyết Morrison. Vì vậy, chúng tôi quan tâm nghiên
cứu đề tài Ngôn ngữ mảnh vỡ trong tiểu thuyết của Toni Morrison
(Fragmentary language in Toni Morrison’s novels), với mong muốn
đưa ra một hướng tiếp cận khả dĩ khám phá được những lớp ý nghĩa nghệ
thuật ẩn sâu trong tác phẩm của nữ văn sĩ người da màu này.
Thực hiện đề tài này, chúng tôi hi vọng sẽ góp phần mở ra một hướng
nghiên cứu mới đối với ngành lí luận văn học Việt Nam. Đó là nghiên cứu
các tác phẩm văn học hậu hiện đại dưới góc nhìn kí hiệu học. Nó sẽ giúp
chúng ta khai phá những khung trời mới lạ bằng sắc màu kì diệu của nghệ
thuật, khắc phục được những hạn chế của các cách tiếp cận trước đây, chủ
yếu là tiếp cận ở phương diện thế giới quan, tư tưởng hệ. Thành công của
luận án sẽ có đóng góp thiết thực cho việc thúc đẩy xây dựng diện mạo hệ
thống lí thuyết về nghiên cứu phê bình văn học hậu hiện đại trong nước.
2
2. MỤC ĐÍCH, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

là Thiên Đường (Paradise), Sula, Tar Baby, Jazz, Yêu (Love) và Lòng
nhân (A Mercy). Tuy chúng tôi không khảo sát kĩ các tiểu thuyết này,
nhưng trong quá trình nghiên cứu luận án sẽ có những liên hệ và so sánh
để thấy được cái nhìn thống nhất trong sáng tác của Morrison.
3. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
Luận án kết hợp nghiên cứu lí luận với vận dụng phân tích tác phẩm
của tác giả nữ da đen Mỹ đầu tiên đoạt giải Nobel văn học.
Ở phương diện lí thuyết, chúng tôi khảo sát, nghiên cứu hoàn cảnh ra
đời, xác lập nội hàm khái niệm ngôn ngữ mảnh vỡ, như là một đặc trưng
của thời kì hậu hiện đại nói chung và văn học hậu hiện đại nói riêng.
Tiếp đó, chúng tôi vận dụng khảo sát trên ba tiểu thuyết tiêu biểu của
Toni Morrison. Tác phẩm của bà mang đặc trưng của tiểu thuyết hậu hiện
đại, với những sáng tạo nghệ thuật độc đáo, mới lạ, đóng góp cho văn học
thế giới những diện mạo mới.
Song song với quá trình nghiên cứu, chúng tôi tiến hành dịch tiểu
thuyết Bài ca của Solomon sang tiếng Việt. Công việc nghiên cứu và dịch
thuật tác phẩm của Toni Morrison góp phần giới thiệu những di sản văn
hóa của nhân loại, làm phong phú kho tàng văn học nước ngoài ở Việt
Nam. Trước mắt, luận án sẽ giúp sinh viên tiếp cận với nền văn học Mỹ -
Phi, với phong cách nghệ thuật độc đáo, những cách tân mạnh mẽ, tinh
thần nhân văn lớn lao của tác giả đương đại nổi tiếng.
Luận án có ý nghĩa khoa học, có đóng góp thiết thực cho việc nghiên
cứu lí thuyết phê bình hậu hiện đại, đó là việc xây dựng một thuật ngữ lí
luận công cụ và tập dượt vận dụng nghiên cứu những tác phẩm văn xuôi
hậu hiện đại, một lĩnh vực hãy còn khá mới mẻ ở trong nước.
Ở Việt Nam, đây là luận án đầu tiên có tính chất tổng hợp, khái quát
về thế giới nghệ thuật tiểu thuyết Morrison trên những phương diện cơ
bản. Luận án đã tập hợp được một số nhận định về đặc trưng nghệ thuật
4
tiểu thuyết, đặc biệt là tính mảnh vỡ – đặc trưng của văn học hậu hiện đại –

một cây bút khá đặc biệt trên thế giới: một nữ văn sĩ người da đen.
Ngoài ra, chúng tôi sử dụng các thao tác phân tích, bình giá… để vừa
mở rộng vừa đào sâu vấn đề cần nghiên cứu.
5. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN
Về phương diện lí thuyết, đề tài tổng hợp và xác định nội hàm khái
niệm ngôn ngữ mảnh vỡ đặc trưng của văn học hậu hiện đại. Thuật ngữ
này đã được sử dụng rải rác trong các công trình nghiên cứu về văn học
hậu hiện đại, tuy nhiên, nội hàm khái niệm vẫn chưa được làm rõ. Từ chỗ
minh giải nội hàm khái niệm, đóng góp của luận án là xây dựng một công
cụ lí luận để nghiên cứu về văn học hậu hiện đại nói chung.
Về thế giới nghệ thuật tiểu thuyết Morrison, luận án làm sáng tỏ ngôn
ngữ mảnh vỡ của Morrison, khẳng định những giá trị chân, thiện, mỹ và
những đóng góp lớn của Morrison đối với văn học hậu hiện đại thế giới -
một nữ nhà văn hãy còn khá mới mẻ đối với bạn đọc Việt Nam.
6. CẤU TRÚC CỦA LUẬN ÁN
Sau phần Mở đầu, luận án được triển khai theo bốn chương như sau:
Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Khái niệm “ngôn ngữ mảnh vỡ”
Chương 3: Ngôn từ mảnh vỡ
Chương 4: Nhân vật mảnh vỡ
Các chương này dù đứng độc lập vẫn có mối quan hệ mật thiết với
nhau, cùng hướng vào việc chỉ ra đặc trưng nghệ thuật tiểu thuyết
Morrison và ý nghĩa của nó đối với nghiên cứu, phê bình lí luận văn học.
Cuối cùng là phần Kết luận, Danh mục các công trình liên quan đến
đề tài luận án và Tài liệu tham khảo.
6
CHƯƠNG MỘT
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. PHÊ BÌNH LÍ LUẬN VỀ “MẢNH VỠ”
1.1.1. Trên thế giới

thuyết. Chúng tôi tóm tắt những hướng nghiên cứu cơ bản như sau:
Thứ nhất, tiểu thuyết của Toni Morrison được nghiên cứu dưới cái
nhìn phân tâm học. Những vấn đề về nỗi sợ hãi, ám ảnh, những chấn
thương tinh thần, tâm lí nô lệ… được phân tích khá kĩ để lí giải những nội
dung tư tưởng trong tiểu thuyết của Morrison. Thứ hai, tiểu thuyết của
Morrison được khám phá từ góc độ thi pháp học. Thứ ba, một hướng
nghiên cứu phê bình nổi bật không thể không nói tới đó là tiếp cận các tác
phẩm của Morrison ở phương diện văn hóa, tôn giáo.
Khuynh hướng thứ tư nghiên cứu về thế giới tiểu thuyết Morrison
dưới cái nhìn xã hội học. Các vấn đề lịch sử, chủng tộc của người da đen
trong xã hội da trắng được nghiên cứu kĩ lưỡng để giải thích những tấn
thảm kịch của người da màu phải chịu đựng trong lịch sử chế độ nô lệ.
Bên cạnh đó, các cây bút nhấn mạnh tính chất hậu hiện đại da đen của cây
bút Morrison. Đồng thời, còn có khuynh hướng nghiên cứu ở góc độ trần
thuật học về tiểu thuyết của Toni Morrison.
Các công trình này đã cho chúng tôi những nhận định quý báu, những
định hướng ban đầu để chúng tôi triển khai luận án. Bên cạnh những công
trình đề cập trực tiếp đến mảnh vỡ, có một số tuy không trực tiếp đề cập,
nhưng cũng đã giúp chúng tôi rất nhiều trong việc xác lập nền tảng văn
hóa xã hội cho “mảnh vỡ” và đặc thù mảnh vỡ trong tác phẩm Morrison.
1.2.2. Nghiên cứu về Toni Morrison ở trong nước
Ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu và bài viết liên quan đến nữ sĩ
Morrison và tiểu thuyết của bà chúng tôi tập hợp được không nhiều. Ngoài
8
một số bài giới thiệu về tác giả, tác phẩm trên các sách, báo, tạp chí, trên
mạng Internet, ở nước ta có ba công trình nghiên cứu có tính chất chuyên
biệt, đó là luận văn Thạc sỹ của tác giả Nguyễn Thị Hiếu Thiện với đề tài
Con đường tới tự do của người Mỹ da đen trong nghệ thuật thuật tiểu
thuyết Toni Morrison (2003) và Nguyễn Phương Khánh với đề tài Chủ
nghĩa hiện thực huyền ảo trong tác phẩm “Người yêu dấu”(2008). Ngoài

CHƯƠNG HAI
KHÁI NIỆM “NGÔN NGỮ MẢNH VỠ”
Mảnh vỡ thường được xem như là một tính chất trong sáng tạo nghệ
thuật. Đôi lúc nó được nâng lên thành chủ nghĩa: chủ nghĩa mảnh vỡ
(fragmentarism). Từ đó, trong văn học, có thể xem đây là một khuynh
hướng sáng tác. Ở phạm vi luận án, chúng tôi chỉ tập trung xác định và
khai thác khái niệm ở khía cạnh là một tính chất của diễn ngôn nghệ thuật,
cách cắt nghĩa cuộc sống đặc thù của văn chương hậu hiện đại nói chung
và của Toni Morrison nói riêng. Trước khi xác lập khái niệm ngôn ngữ
mảnh vỡ, chúng tôi bắt đầu từ ngôn ngữ nghệ thuật.
2.1. NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT
Chúng tôi dựa vào khái niệm ngôn ngữ nghệ thuật của I.U. Lotman,
nhà kí hiệu học, đồng quan điểm với các nhà hậu cấu trúc luận về ngôn
ngữ. Theo Lotman, tất cả các yếu tố tạo nên thế giới nghệ thuật: khung,
không gian, cốt truyện, sự kiện, nhân vật, kết cấu… đều là đơn vị tạo nghĩa
và đều là ngôn ngữ nghệ thuật. Khi ngôn ngữ tự nhiên được sử dụng để kể
lại sự kiện (có yếu tố kể chuyện và có người kể chuyện) thì nó trở thành
ngôn ngữ nghệ thuật. Đó là những tiếng nói được hư cấu, nhào nặn, sáng
tạo, có giọng điệu riêng, có phong cách riêng. Đơn vị ngôn ngữ nghệ thuật,
do đó, không phải là từ ngữ, mà là những motif. Đồng quan điểm đó,
10
Ludwig Wittgenstein, Mikhail Bakhtin và các nhà hậu cấu trúc xác định
ngôn ngữ luôn thuộc về những tương tác, đối thoại nào đó, nghĩa là, bao
giờ cũng ở trong quá trình vận động. Do đó, ngôn ngữ nghệ thuật gắn liền
mật thiết với xã hội và lịch sử. Ngôn ngữ trong tinh thần hậu hiện đại được
xem là một diễn ngôn (discourse), tức ngôn ngữ đang được sử dụng, trong
quá trình sản sinh và tạo nghĩa, có khả năng mở rộng và phát triển giới hạn
của nó đến vô cùng.
Lotman quan niệm ngôn ngữ nghệ thuật rộng hơn những gì được các
nhà nghiên cứu trước đây ghi nhận và đây cũng chính là tinh thần mà các

thể hiện sinh động vẻ đẹp vốn có của cuộc sống. Ngôn ngữ mảnh vỡ là
một sáng tạo đặc biệt thành công của các nhà văn hậu hiện đại, để có thể
thể hiện, bộc lộ tâm thức của con người thời hậu hiện đại.
2.2.2. Nội hàm khái niệm: Từ những cơ sở trên, chúng tôi tạm thời
xác định nội hàm khái niệm như sau: Ngôn ngữ mảnh vỡ hay lối biểu đạt
bằng mảnh vỡ (diễn ngôn mảnh vỡ) là một đặc trưng cơ bản cho cách tiếp
cận hiện thực của văn học hậu hiện đại. Lối viết này ra đời trên cơ sở giải
tâm, bất định, đứt đoạn, rời rạc, lắp ghép, phân mảnh, trống rỗng, ngoại
biên, phi nghiêm cẩn, ngẫu nhiên xuất hiện hầu hết trong các tác phẩm
văn chương, thể hiện cảm quan “hoài nghi các đại tự sự” của con người
hậu hiện đại.
Ngôn ngữ mảnh vỡ thể hiện ở tất cả các phương diện, tất cả các yếu tố
cơ bản của hình thức nghệ thuật trong tác phẩm như: cốt truyện, nhân vật,
tâm lí nhân vật, thời gian, không gian, nghệ thuật trần thuật, ngôn từ…
Chúng ta không thể thấy sự tuân theo một trật tự, khuôn mẫu nào như
những tác phẩm văn học truyền thống, mà luôn luôn có sự xáo trộn, đứt
gãy, biến động, phi lí, bất thường. Người đọc không thể hy vọng một trật
tự tuyến tính trong cách trần thuật, mà phải tham gia tích cực vào việc sắp
xếp, tập hợp, thu gom các phần mảnh đó lại để có thể hình dung và tiếp
nhận câu chuyện.
12
Từ cái nhìn triết học, ta thấy mảnh vỡ là sản phẩm của quan niệm hỗn
độn về cuộc sống, khi xã hội đang đứng ở ngưỡng vận động, thay đổi.
Những mảnh vỡ va chạm, tương tác nhau tạo nên sự sống và sự phát triển.
Từ cái nhìn mĩ học, mảnh vỡ diễn đạt về Cái đẹp là cái chưa hoàn hảo
trong hình hài của những mảnh vỡ. Mảnh vỡ luôn cho thấy sự khiếm
khuyết, sự chưa hiện diện thành một cái “tôi” với đầy đủ nhân hình, nhân
dạng và nhân tính. Mảnh vỡ là cái đẹp đang trên sự vận động để trở thành
“nó là”.
Từ cái nhìn lí thuyết phê bình văn học: mảnh vỡ là sản phẩm của giải

đặc biệt giàu ý nghĩa, giàu khả năng chuyển nghĩa và xúc cảm.
3.1. NGÔN TỪ HỖN ĐỘN
3.1.1. Mảnh vụn ngôn từ - tấm gương của thế giới đảo ngược
Việc bẻ vụn và dồn ép ngôn từ để nói về hai thế giới trắng - đen, khiến
ngôn từ như một tấm gương của hai thế giới đối nghịch hoàn toàn: thế giới
của bé Pecola bị hủy diệt và thế giới đẹp đẽ chuẩn mực của người da trắng.
Ở tiểu thuyết của Toni Morrison, người đọc có thể nhận thấy tác giả sử
dụng ngôn ngữ mảnh vỡ đặc thù trong các văn bản, ở nhiều cấp độ. Sự
ngắt câu, khoảng cách giữa các từ, việc sử dụng các dấu chấm, cách thức
viết hoa…; việc cắt một đoạn từ ngữ thành mảnh nhỏ đặt lên đầu mỗi đoạn
thay cho tên chương mục… trong tác phẩm đầu tay Mắt biếc, cho thấy
dụng ý của bà trong việc tạo ra một kiểu ngôn từ vỡ vụn cho văn bản.
3.1.2. Sức mạnh phá hủy của ngôn ngữ trong thế giới ảo
SEEMOTHERMOTHERISVERYNICEMO
THERWILLYOUPLAYWITHJANEMOTH
ERLAUGHSLAUGHMOTHERLAUGHLA.
Sau đó, để nói lên những sự thật kinh hoàng và khủng khiếp sâu thẳm,
bà đã bẻ gẫy câu chuyện thành nhiều mảnh đoạn, xáo trộn trật tự tuyến
14
tính thông thường, kể cả sự tuần hoàn của tự nhiên trong các mùa. Để gia
tăng cấp độ, mỗi hình ảnh, sự kiện, nhân vật trong tiểu thuyết đều được mô
tả dưới dạng những mảnh vỡ. Ngôn ngữ mảnh vỡ có thể thấy là một đặc
trưng nghệ thuật để diễn tả sự mất mát trong Mắt biếc. Tấn bi kịch của một
cô bé da đen được mô tả bằng ngôn ngữ này tạo sức mạnh cộng hưởng
mãnh liệt từ người đọc. Người đọc buộc phải tưởng tượng, hình dung,
chắp nối, suy ngẫm, rung động Lyotard nhận xét: đó là sự kì vĩ của cái
siêu phàm mà Morrison đã làm được trong tiểu thuyết của mình.
3.2. NGÔN TỪ RỜI RẠC VÀ PHI CHUẨN
3.2.1. Ngôn từ rời rạc: Chúng tôi lập bảng thống kê các sự kiện trong
tiểu thuyết Người yêu dấu, để thấy tính phi mạch lạc, vỡ mảnh của thời

thường thấy của ngôn từ… Những cái tên bị bóp méo, làm cho thảm hại,
những cái tên bị gọi sai, đặt sai là cả một câu chuyện kinh hoàng của một
dân tộc bị nô dịch, hủy hoại về văn hóa, lịch sử, cội rễ. Sử dụng ngôn từ
sai lạc cũng là dụng ý nghệ thuật của Morrison khi phá vỡ ngôn ngữ tiếng
Anh chuẩn, để khẳng định ngôn ngữ của đồng bào da đen của bà.
3.3.2. Nick – name (biệt hiệu): Một biệt hiệu liên quan đến ý nghĩa
xấu cuối cùng trở thành tên chính thức của nhân vật. Những thứ vốn không
chính thức, mù mịt, mờ ám về nghĩa cuối cùng lại trở thành hiện thực
trong đời sống con người nơi đây. Nghệ thuật sử dụng nickname cùng việc
sửa lại, đặt lại những cái tên mà người da trắng đặt ra nhằm tái hiện về một
thế giới khác, những gì cố tình bị che lấp, không được viết ra, đồng thời,
chống lại sự vô danh ngoại biên, chống lại sự bị tẩy trắng. Đó là ngôn ngữ
của một thế giới bị phá hủy.
3.3.3. Cái tên bị nguyền rủa: Người da đen lấy những cái tên trong
Kinh thánh để đặt tên cho con họ. Có điều, đó là tên những nhân vật giết
Chúa hay chịu số phận bất hạnh, bị ruồng bỏ, những cái tên mà người da
trắng tối kị. Nghệ thuật giễu nhại, hạ bệ, giải thiêng đối với ngôn ngữ
chuẩn mực da trắng, kể cả những thứ trong Thánh kinh, việc cố tình bóp
16
méo, hiểu sai, dùng ngược thứ ngôn ngữ mà người da trắng tôn thờ, tạo ra
một thế giới ngôn từ khác… theo Lyotard, là “sự kì vĩ của cái siêu phàm”
mà Morrison đã làm được, để khẳng định giá trị, bản sắc, xây dựng mỹ học
da đen cho những người đồng bào của bà, “Những Người yêu dấu không
được yêu dấu”.
So sánh với niềm bi cảm tuyệt vọng của F. Kafka khi viết về thân
phận cô đơn, nhỏ bé của kiếp người, ta thấy ngòi bút tràn đầy thiên tính nữ
và tình yêu thương mênh mang, sức sống lạc quan của Morrison cuộn chảy
trên từng trang viết. Viết về một thế giới bị tàn phá, lệch lạc song Morrison
không hề tuyệt vọng. Bà chỉ cho những người đồng bào yêu quý con
đường đến với tự do: đó là tình yêu thương, sự nối kết với lịch sử và văn

ngôn ngữ nhân vật mảnh vỡ, những cách tân trong tư duy và sáng tạo nghệ
thuật của nhà văn. Trước khi khảo sát kiểu ngôn ngữ nhân vật mảnh vỡ,
chúng tôi tiến hành xác lập khái niệm nhân vật, nhân vật mảnh vỡ.
4. 1. KHÁI NIỆM “NHÂN VẬT” VÀ “NHÂN VẬT MẢNH VỠ”
4.1.1. Nhân vật: Theo Từ điển thuật ngữ văn học (Lê Bá Hán, Trần
Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi đồng chủ biên), thì nhân vật là: “Con người cụ
thể được miêu tả trong tác phẩm văn học. Nhân vật văn học có thể có tên
riêng, cũng có thể không có trên riêng (…). Khái niệm nhân vật văn học có
khi được sử dụng như một ẩn dụ, không chỉ một con người cụ thể nào cả,
mà chỉ một hiện tượng nổi bật trong tác phẩm.
4.1.2. Nhân vật mảnh vỡ: Phần này chúng tôi khảo sát nội hàm khái
niệm nhân vật trong văn học hậu hiện đại, với kết luận về kiểu nhân vật
mang những nét phản truyền thống, mà nhân vật mảnh vỡ là ví dụ tiêu biểu.
4.1.2.1. Nhân vật truyền thống: Theo cách nhìn truyền thống, nhân
vật là một chỉnh thể, là ngôn ngữ trọn vẹn, thống nhất, liên kết chặt chẽ.
18
Nhân vật truyền thống là tiếng nói của một thế giới chỉnh thể, hướng tâm.
4.1.2.2. Nhân vật mảnh vỡ: Kiểu nhân vật phản truyền thống, nhân
vật bị phá bỏ, đối lập hoàn toàn với sự trọn vẹn của nó trong quá khứ.
Nhân vật mảnh vỡ là những mảnh rời, vụn vỡ, mâu thuẫn, tan rã, không
liên kết… Là tiếng nói của một thế giới phi tâm, hỗn độn…
4. 2. NHÂN VẬT MẢNH VỠ CỦA TONI MORISON
Nhân vật mảnh vỡ là một diễn ngôn Morrison dụng công xây dựng để
nói với thế giới về những sự thật bấy lâu bị vùi lấp. Số phận của những
người phụ nữ, những người đàn ông da đen, nhất là các bé gái da đen được
hiện lên dần dần qua kĩ thuật ghép mảnh, cho ta hình dung về một thế giới
khổng lồ và vô cùng của cái ác. Khác với nhân vật truyền thống trước đây,
nhân vật mảnh vỡ cho thấy sự tan rã của chỉnh thể, của những gì thống
nhất, trọn vẹn. Nó không phải là một vũ trụ của sự thống nhất, hài hòa, mà
là một tập hợp những mảnh vỡ, đối với những người da đen trên đất Mỹ,

những mảnh vỡ không nguồn đích. Chỉ khi kết nối được với văn hóa da
đen, hiểu được tiếng nói của cộng đồng, anh mới trưởng thành.
4.2.3. Nửa người nửa ma hay bản thể Beloved: Nhân vật Beloved
xuất hiện dưới hình dạng hồn ma đội lốt người. Có ý kiến cho rằng
Beloved xuất hiện như một phương tiện để tái hiện lại một lịch sử kinh
hoàng. Cô có lẽ là sự tái sinh của linh hồn và máu thịt của những người da
đen bị giết hại trong lịch sử chế độ nô lệ đẫm máu nói chung và linh hồn
của các cô gái da đen nói riêng trong một xã hội tàn bạo. Những mảnh vỡ
nhân vật Beloved không chỉ làm sống lại những câu chuyện không thể kể,
mà còn là tiếng nói đòi quyền sống, quyền được yêu thương, được là con
người sống dưới ánh mặt trời cho các cô gái da đen bất hạnh.
4.2.4. Vị thánh bất hạnh hay bản thể vỡ nát của Baby Suggs: Baby
Suggs là nhân chứng của một chế độ lịch sử nô lệ với tất cả sự nhơ bẩn của
nó. “Cuộc đời nô lệ đã ngốn trọn của bà đôi chân, đôi tay, đôi mắt, cái dạ
dày và cái lưỡi”. Tám đứa con của bà có tới sáu ông bố, tất cả đều bị bán
20
đi, “có đứa bị bán đi khi chưa kịp mọc răng khôn”… Đôi chân bị bại liệt
nhưng bà vẫn phải làm mọi việc để phục vụ chủ nô… Chứng kiến cảnh
con dâu giết cháu ruột vì không muốn chúng quay về kiếp nô lệ mà bà
đành bất lực. Cuộc đời bà là chuỗi dài của những bất hạnh, chia cắt, đổ
vỡ… Đến khi được tự do, bà còn mỗi trái tim, đem hiến cho cộng đồng,
kêu gọi mọi người da đen hãy yêu quý bản thân, yêu quý nhau để cùng
sống và vượt qua hoạn nạn, nhưng bà đã trở thành vị thánh bất hạnh vì
cộng đồng da đen đã mang nặng tâm lí nô lệ. Thể chất bị bại liệt, trái tim
vỡ nát, bà đã chết trong sự tuyệt vọng vì trái đất quá thiếu vắng tình người.
4.2.5. Cuộc chiến đấu vì bản thể của người mẹ giết con – Sethe:
Lần tan vỡ thứ nhất xảy ra với Sethe tại Sweet Home, khi mà bọn học trò
xếp cô vào hàng thú vật, lo sợ cho những đứa con, Sethe đã lên kế hoạch
cùng chồng và các bạn chạy trốn. Nhưng kế hoạch bại lộ, Halle - chồng cô
đã phát điên khi chứng kiến cảnh vợ bị cưỡng hiếp, bị hành hung với đứa

trong quá trình tạo nghĩa.
Về vấn đề thuật ngữ, luận án xem xét và xây dựng khái niệm ngôn
ngữ mảnh vỡ. Ngôn ngữ nghệ thuật mà chúng tôi nghiên cứu ở đây được
hiểu theo nghĩa rộng, đó là tất cả các đơn vị tạo nghĩa của tác phẩm văn
học theo quan điểm kí hiệu học mà nhà kí hiệu học I.U. Lotman và các nhà
hậu cấu trúc đã làm sáng tỏ. Chúng ta có thể thấy, từ bản chất, ngôn ngữ
nghệ thuật lồng trong nó rất nhiều loại ngôn ngữ. Đó là ngôn ngữ được
sáng tạo, nhào nặn trên cơ sở ngôn ngữ nguyên sinh theo ý đồ của nhà văn,
là một dạng kí hiệu đặc biệt được nhà văn sử dụng để mô hình hóa thế
giới. Do thế giới hậu hiện đại là một hiện thực thậm phồn, nên ngôn ngữ
nghệ thuật, do đó, có khả năng phát triển, mở rộng giới hạn đến vô cùng,
tạo ra tầng tầng lớp lớp ý nghĩa nhờ sự cộng hưởng từ phía bạn đọc…
Luận án cũng tiến hành khảo sát và chỉ ra đặc trưng của ngôn ngữ hậu
22
hiện đại, đó là ngôn ngữ mảnh vỡ, kiểu diễn ngôn thể hiện cảm quan tư
duy của con người thời hậu hiện đại. Ngôn ngữ đó có sức mạnh tạo ra
những cái siêu phàm, vượt qua sức biểu đạt của ngôn ngữ nghệ thuật
truyền thống. Trong khuôn khổ luận án, chúng tôi đi sâu phân tích biểu
hiện ngôn ngữ mảnh vỡ ở hai phương diện: lớp ngôn từ và lớp nhân vật.
Ngôn ngữ mảnh vỡ trở thành nét chủ đạo trong nghệ thuật tự sự của
Morrison. Tiểu thuyết của bà đã xảy ra trận chiến quyết liệt trên bình diện
ngôn từ. Tấn công vào ngôn từ, với Toni Morrison, tức là tấn công vào nền
tảng văn hóa da trắng, diễn ngôn đại tự sự bấy lâu ngự trị trên một đất
nước được thêu vẽ bằng những ngôn từ hoa mĩ nhưng thực tế lại không
phải như vậy, để thiết lập nền tảng văn hóa, mĩ học da đen tương đồng với
mĩ học da trắng. Toni Morrison thật xứng đáng là một trong những chiến
binh dũng cảm trong công cuộc phi tâm hóa những đại tự sự. Trở thành đại
biểu xuất sắc của nền văn chương hậu hiện đại, bà đã kiến tạo một thế giới
ngôn từ mảnh vỡ độc đáo, kết dính hoặc tách rời về hình thức, dùng chữ
với nghĩa sai lạc khi so với cách sử dụng truyền thống, nhằm làm sống lại

mạnh phi thường, kết tinh trong nó là văn hóa, là lịch sử, là sự sống còn
của một dân tộc. Việc bị đặt sai tên, hiểu sai là tấn bi kịch của người da
màu trong lịch sử, một dân tộc bị “xóa mất trí nhớ”. Bên cạnh đó, sự hiểu
khác, dùng ngược, làm nôm na hóa thứ ngôn ngữ chuẩn mực của người da
trắng, bẻ gãy nó theo nhiều cách khác nhau, cũng là cách mà người da đen
chống lại sự nô dịch của nền văn hóa áp đảo này.
Nếu mảnh vỡ ngôn từ chủ yếu cho thấy sự mất mát đớn đau của một
chủng tộc người trong quá khứ và cả thực tại khi họ và tất thảy mọi người
vẫn sống trong bầu khí quyển nghi kị, đố kị và xa lạ, thì ngôn ngữ nhân
vật mảnh vỡ lại là nơi để Toni Morrison cho người đọc thấy được hành
trình đi tìm bản thể hòng chấm dứt nỗi đau, sự mất mát của những người
da đen trong thế giới da trắng.
Như thế, ngôn ngữ mảnh vỡ trở thành một dấu hiệu đặc thù trong tư
24
duy nghệ thuật tiểu thuyết của Toni Morrison. Dùng mảnh vỡ để lạ hóa
ngôn từ, để nói lên nỗi bi thương cho kiếp người, dùng mảnh vỡ để đấu
tranh đòi bình đẳng giữa hai chủng tộc trắng – đen, dùng mảnh vỡ để kiến
tạo bản thể của những con người mới và của nền văn hóa mới, Toni
Morrison đã khẳng định được quyền năng của mình với tư cách là nhà
sáng tạo trên chất liệu ngôn từ. Bà đã thực sự thành công khi dùng ngôn
ngữ mảnh vỡ để kiến tạo thế giới nghệ thuật. Bà đồng thời cũng khẳng
định rằng, bản chất của ngôn ngữ, cũng như bản chất của sự tồn tại, thực ra
không phải là những chỉnh thể tròn trịa như bấy lâu nay người ta vẫn nhầm
tưởng, mà thực sự, trong sự sinh động của tồn tại, bản chất của nó là
những mảnh vỡ. Tư tưởng này mang bản chất nhân văn lấp lánh của thời
đại. Đã đến lúc, con người cần nhìn nhận về những tiếng nói và những sự
sống có quyền tồn tại ngang bằng nhau, có cùng cơ hội như nhau để sống
và phát triển. Ngôn ngữ mảnh vỡ, như Morrison khẳng định, là bản chất tất
yếu của ngôn ngữ hậu hiện đại, con người cần nhận ra và công nhận nó.
Từ những nghiên cứu trên, luận án đã mở ra một hướng nghiên cứu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status